Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.” => Vụ việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bên cạnh đó, căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
- - - -
BÀI THẢO LUẬN Học phần : Luật Tố tụng Dân sự
Trang 2MỤC LỤC Bài tập 1 3 Bài tập 2 8 Bài tập 3 16
Trang 3Học phải đi đôi với hành và với sinh viên, việc tiếp xúc và học tập trongmột môi trường chuyên nghiệp là vô cùng cần thiết. Trong thời gian học tậpvừa qua, chúng em không chỉ nhận được những kiến thức bổ ích về chuyênmôn mà còn ở những lĩnh vực khác. Những trải nghiệm quý báu đó không chỉgiúp chúng em hoàn thành tốt bài thảo luận mà còn là hành trang theo chúng
em trong suốt thời gian học tập và làm việc sau này
Hạ qua, thu đến, mùa thảo luận lại tới. Chúng em, tập thể nhóm 03 xinchân thành cảm ơn cô Nguyễn Vinh Hương trong suốt thời gian qua đã tận tìnhgiảng dạy, hướng dẫn để chúng em có được những kiến thức bổ ích phục vụcho đề tài và quá trình học tập. Chúc cô luôn mạnh khỏe, vui vẻ, công tác tốt.Chúc cô luôn thành công trên chuyến đò tri thức
Trang 4Do phát sinh nhiều mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, anh Tiến khởi kiện raTòa yêu cầu ly hôn và giải quyết tranh chấp tài sản chung của 2 vợ chồng. Thờiđiểm gửi đơn họ đang cùng chung sống tại 1 căn hộ tập thể trị giá 1,3 tỷ ởphường Tân Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Được biết năm 2018anh Tiến chị Dung dồn tiền tiết kiệm mua được một mảnh đất diện tích 150m2tại quận Tây Hồ, mảnh đất hiện được dùng thế chấp cho khoản vay 800tr tạiNgân hàng BIDV
1. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên? Giải thích vì sao?
Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc là Tòa án nhân dân quận HoàngMai, thành phố Hà Nội - nơi anh Tiến và chị Dung đang sinh sống. Vì:
“ 2 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.”
=> Vụ việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Bên cạnh đó, căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
“ a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều
28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;”
Trang 5sẽ không sử dụng tới quy định Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ tại Điều
39 Bộ luật này.
Do đó, Tòa án cấp huyện – Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai sẽ là tòa án
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu ly hôn và tranh chấp tài sản chung giữa vợchồng anh Tiến, chị Dung
2. Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án? Giả sử anh Tiến bị câm điếc thì có thể tham gia tố tụng hay không? Giải thích vì sao?
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 4 Điều 61 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 về người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự:
“ 4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Cụ thể các đương sự hợp pháp trong vụ án này bao gồm:
- Nguyên đơn: Anh Tiến
Trang 6- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng BIDV
=> Trong trường hợp anh Tiến – nguyên đơn bị câm điếc thì vẫn được
tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
“ Người tham gia tố tụng dân sự là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.”
3. Giả sử trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, anh Tiến đến Tòa án yêu cầu rút toàn bộ đơn khởi kiện thì Tòa án phải giải quyết như thế nào? Giải thích vì sao?
Vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm tức là Tòa án đã thụ lýđơn kiện của nguyên đơn. Do đó, khi anh Tiến – nguyên đơn rút toàn bộ đơn
Trang 7hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.”
4. Giả sử, Tòa đã tiến hành hòa giải nhưng anh Tiến chị Dung chỉ thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản chung chứ không đồng ý quay về đoàn tụ thì Tòa án phải giải quyết như thế nào? Giải thích vì sao? Trong trường hợp Tòa án đã tiến hành hòa giải mà ông Tiến và bà Dung
chỉ thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung, không thỏa thuận được
về việc đoàn tụ thì Tòa sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn căn cứ
Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định thuận tình ly hôn như sau:
“ Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự
tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của
vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.” và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy
định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đủ các điều kiện quy định tại Khoản
4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
“ a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;
b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.”
Do đó, nếu ông Tiến và bà Dung xác định sẽ không đoàn tụ được vớinhau thì ngoài điều kiện thỏa thuận được về việc chia tài sản chung. Hai ông bàphải đáp ứng được các điều kiện còn lại như việc chăm sóc giáo dục con haybảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ con, … (đã trích dẫn ở trên). Nếu khôngđáp ứng được thì Tòa án sẽ không quyết định công nhận thuận tình ly hôn và
sự thỏa thuận của các đương sự
5. Giả sử Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được với nhau. Tuy nhiên, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản
Trang 8hòa giải không thành mà đương sự đến Tòa án yêu cầu quay về đoàn tụ, xây dựng tài sản chung thì Tòa án phải xử lý như thế nào? Giải thích vì sao ?
Căn cứ Điểm a, Mục 9, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quy định về việc "Thuận tình ly hôn"
như sau:
" Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải Trong trường hợp Tòa án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải
mở phiên tòa khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;
- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm."
Xét trong trường hợp trên, vì đương sự có ý kiến trong 07 ngày tức là
vẫn trong thời hạn cho phép là 15 ngày về việc không chấp nhận ly hôn và yêucầu quay về đoàn tụ, xây dựng tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét lại và tiếnhành thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng về vụ án hôn nhân gia đình chứkhông giải quyết theo hướng thuận tình ly hôn
Theo đó, nội dung quy định tại: Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015 vợ hoặc chồng – người nộp đơn xin ly hôn trong vụ án ly hôn (đương
sự) có quyền: giữ nguyên, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu khởi kiện. Do đó,khi một bên yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn thì vợ (chồng) hoàn toàn có quyềnrút lại đơn xin ly hôn (đơn yêu cầu khởi kiện) sau khi tòa án đã thụ lý
Trang 9đình chỉ giải quyết dân sự tại Điểm c Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015:
“ Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”
Và hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp
này được quy định tại Khoản 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “
Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.”
=> Như vậy, sau khi vụ án dân sự về hôn nhân gia đình do anh Tiến khởi
kiện này bị đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp sẽ được trả lại
Bài tập 2:
An và Khánh kết hôn T12/2013, họ có 3 người con là Phương (2014), Thảo(2016), Ngọc (2018). Sau nhiều mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, An gửiđơn ra Tòa xin ly hôn, Tòa án đã thụ lý đơn
1. Hãy liệt kê những tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện trong trường hợp họ có tranh chấp về vấn đề tài sản và con cái? Được biết Tòa yêu cầu anh An phải ít nhất 1 lần hầu tòa, điều đó có đúng không? Giải thích vì sao?
a) Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện trong trường hợp anh An và
chị Khánh có tranh chấp về vấn đề tài sản và con cái:
- Đơn khởi kiện theo mẫu;
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (Trong trường hợp mất bản chính thìphải có cam kết và có xác nhận của chính quyền địa phương. Đồng thời nộp
Trang 10- Bản sao hợp lệ giấy khai sinh của 3 người con Phương, Thảo, Ngọc;
- Hộ khẩu của cả hai bên vợ chồng, có thể cung cấp bản sao - công chứnghoặc chứng thực của UBND cấp xã;
công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp xã;
- CMND hoặc CCCD của cả hai vợ chồng, có thể cung cấp bản sao - - Các giấy tờ liên quan đến tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, về thunhập của vợ chồng;
- Các giấy tờ về nợ chung (nếu có);
- Các giấy tờ tài liệu khác có liên quan như: chứng cứ xác định tìnhtrạng hôn nhân qua sự phản ánh của cơ quan quản lý của vợ, chồng; tổ chứcdân cư, đoàn thể, chính quyền địa phương; các chứng cứ về chỗ ở, thu nhập,nghề nghiệp, điều kiện nuôi dưỡng con.
Căn cứ Điều 93 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về chứng cứ cóquy định như sau:
“ Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn
“ 1 Khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện
của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa Nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Trang 11Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.
2 Khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của
họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ”
Thông thường một vụ án ly hôn tòa án sẽ triệu tập hợp lệ 2 lần. Trừtrường hợp vắng mặt có lý do chính đáng, bất khả kháng thì sau 2 lần hợp lệphiên tòa sẽ được hoãn và đợi gọi triệu tập trong phiên tòa tiếp theo. Nếukhông có lý do chính đáng, cũng không có người đại diện hợp pháp tham giaphiên tòa hoặc đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì sẽ bị coi là từ bỏ việc khởi kiện,Tòa sẽ ra quyết định chỉ quyết vụ án theo quy định, người còn lại nếu vẫnmuốn ly hôn có thể tiến hành đơn phương ly hôn
=> Như vậy, việc anh An có thể vắng mặt trong các phiên tòa bởi khiTòa án không triệu tập được anh An trong 2 lần triệu tập thì chị Khánh có thểtiến hành đơn phương ly hôn
2. Giả sử chị Khánh chuẩn bị đi công tác nước ngoài 1 năm, Khánh có thể
ủy quyền cho người nhà thay mặt mình tham gia tố tụng được hay không? Giải thích vì sao?
Theo như đề bài, vì chị Khánh chuẩn bị ra nước ngoài công tác 1 nămnên muốn ủy quyền cho người nhà mình tham gia tố tụng
Trang 12" 2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ."
Xét theo những căn cứ trên, trong trường hợp này thì chị Khánh không
thể ủy quyền cho người nhà thay mặt mình tham gia tố tụng được mà phải tựmình tham gia. Trừ trường hợp đặc biệt khác đó là nếu chị Khánh phải là ngườimất năng lực hành vi dân sự và là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng chịgây ra (phải có bằng chứng chứng minh) thì chị Khánh mới được quyền ủy thác
cho người thân thay mặt mình (theo Khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014). Tuy nhiên theo đề bài, chị Khánh không nằm trong trường hợp này
mẹ của mình.
2 Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan.”
Đây là trường hợp luật quy định rất rõ ràng, trong thực tiễn chưa xảy ratrường hợp nào khó khăn, vướng mắc. Vấn đề hôn nhân là vấn đề gắn liền vớibản thân của đương sự, là vấn đề về nhân thân nên không thể ủy quyền chongười khác thực hiện
3. Giả sử trước khi hòa giải/ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm An chết, Tòa án xử lý như thế nào? Giải thích vì sao?
Trang 13d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí
tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản
án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;
Trang 14g) Các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án
đã thụ lý;
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, vì anh An và chị Khánh có 3 người con là Phương (2014), Thảo(2016), Ngọc (2018) nên khi anh An chết, quyền và nghĩa vụ của anh An là cóngười thừa kế, vụ việc này sẽ không bị đình chỉ.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về
Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng như sau:
“ 1 Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.” Đồng thời, Căn cứ theo Khoản 2 Điều 655 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định
rõ ràng:
“2 Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho
ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.”
Theo như đề bài và căn cứ pháp lý trên, anh An chết trước khi hòa giảihoặc đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm nên có thể hiểu rằng anh An
và chị Khánh chưa ly hôn, 2 anh chị vẫn đang là vợ chồng. Tức là khi anh Anchết thì chị Khánh cũng được coi là người thừa kế di sản của anh An
Như vậy, theo như những quy định nêu trên thì khi anh An chết, nhữngngười thừa kế nghĩa vụ tài sản của anh An cũng sẽ thừa kế nghĩa vụ tố tụng vàtrở thành bị đơn (hoặc là đồng bị đơn nếu nhiều người thừa kế). Lúc này,những người sẽ tiếp tục tham gia tố tụng là: Chị Khánh (vợ của anh An),Phương (2014), Thảo (2016), Ngọc (2018) (3 người con của anh An)
Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 622 Bộ Luật Dân sự 2015 về Tài sản không
có người nhận thừa kế quy định rằng:
“Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc
về Nhà nước.”
Như vậy, trong vấn đề này sẽ có 02 trường hợp xảy ra: