Chống chủ nghĩa duy tân tôn giáo, chủ nghĩa duy vậtsiêu hình máy móc, chủ nghĩ chủ quan duy ý chí trong nhận thức triết học, tácphẩm đã bóc trần những quan điểm duy vật tầm thường mang t
Trang 1A MỞ ĐẦU
Tác phẩm chống Đuy-rinh của ph Ăngghen là một tác phẩm phân tíchnhững vấn đề quan trọng nhất của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội,chống Đuy-rinh được xem là bách khoa toàn thư của chủ nghĩa Mác, nó cógiá trị như là giáp khoa lý của chủ nghĩa Mác - Lênin Tác phẩm chống Duy-rinh là một tác phẩm có giá trị to lớn về mặt tư tưởng, nó ra đời đáp ứng tínhchất của lịch sử đương thời nên xem chống Đuy-rinh như là ánh sáng củangọn hải đăng bùng sáng giữa chân trời chính trị có mây đen giông tố, khôngnhững thế mà còn cho đến tận ngày nay, tác phẩm "chống Đuy-rinh vẫn là vũkhí sắc bén về tinh thần Chống chủ nghĩa duy tân tôn giáo, chủ nghĩa duy vậtsiêu hình máy móc, chủ nghĩ chủ quan duy ý chí trong nhận thức triết học, tácphẩm đã bóc trần những quan điểm duy vật tầm thường mang tính triết trung,ngụy biện của Đuy-rinh, đồng thời phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng vàphương pháp phê phán kinh tế - chính trị theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Tácphẩm chống Đuy-rinh có thể nói là một tác phẩm bút chiến kiểu mẫu đấutranh chống kẻ thù của chủ nghĩa Mác Đấu tranh một cách quyết liệt khôngkhoan nhượng để bảo vệ thế giới quan khoa học, bảo vệ lợi ích của nhà nước
vô sản Nó cũng là tác phẩm kiểu mẫu về tính đảng - tính khoa học trong việcxây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa Đặc biệt đối với đất nước ta hiện nayđang đi trên con dường cải cách, đổi mới xây dựng đất nước pháp quyền hộinhập kinh tế quốc tế Nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh” Với ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nước ta hiện
nay Tôi đã chọn "Tác phẩm của Ph.Ăngghen "Chống Đuy-rinh"" để
nghiên cứu viết tiểu luận cho mình
Trang 2B NỘI DUNG
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
Sau Đại hội hợp nhất Gô-ta (ngày 22-27 tháng 5 năm 1875, hợp nhấthai tổ chức chính trị, mặc dù trên danh nghĩa đều là tổ chức của giai cấp dânchủ-xã hội dưới sự lãnh đạo của Líp-nếch, Bê-ben, Bec-stanh và Tổng liênđoàn công nhân Đức của lát-xan), Trình độ lý luận của Đảng dân chủ-xã hộiĐức nói chung bị hạ thấp một cách rõ rệt Ảnh hưởng của những quan điểmtiểu tư sản Lát-xan ngày một trầm trọng Trên những bài báo cơ quan ngônluận trưng ương xuất hiện những bài viết của những tác giả mang những quanđiểm sai lầm, dốt nát
Trong bức thư gửi Bê-ben ngày 15 tháng 10 năm 1875, Ph Ăng-ghen
đã nhận xét về những bài viết đó như sau: "sự dốt nát về kinh tế học, cũngnhư những quan điểm sai lầm, sự thiếu hiểu biết về sách báo xã hội chủ nghĩacủa họ là cách tốt nhất để hoàn toàn xóa bỏ ưu thế lý luận mà từ trước đó đếnnay vẫn là đặc trưng của phong trào ở Đức" Sau đó, trong bức thư gửi Líp-nếch ngày 31 tháng 7 năm 1877, thậm chí Ph Ăng-ghen còn tự nhận xét là từkhi hợp nhất, trong Đảng dân chủ-xã hội đã có "sự sụp đổ về đạo đức và trítuệ", ngự trị trong đảng là "những kẻ hiểu biết nửa vời" Tình hình này đã tạođiều kiện thuận lợi cho việc truyền bá trong phong trào công nhân nhữngquan điểm chiết trung, được che đậy bằng những chiêu bài xã hội chủ nghĩa,nhưng thực chất thì thù địch với chủ nghĩa xã hội khoa học Điển hình lànhững quan điểm của O Đuy-rinh, Phó giáo sư trường Đại học tổng hợp Béc-lin Trong các bài giảng và trong các tác phẩm công bố trên báo chí và xuấtbản thành sách của mình, Đuy-rinh đã tuyên truyền những quan điểm của chủnghĩa xã hội tiểu tư sản, cải lương, tuyên bố những quan điểm đó là nhữngthành tựu khoa học mới mẻ và là những chân lý tuyệt đỉnh
Oi-ghen Đuy-rinh, là thứ lý luận xã hội chủ nghĩa không tưởng của giaicấp tiểu tư sản dựa trên cơ sở chiết trung chủ nghĩa và kinh tế học tầm thường
Trang 3Tốt nghiệp khoa luật trường Đại học tổng hợp Béc-lin năm 1856, năm
1861 nhận học vị tiến sĩ triết học trường đại học tổng hợp Béc-lin với luận án
"Bàn về thời gian, không gian, tính nhân quả kiêm bàn về logic vi phân" Ítlâu sau, Đuy-rinh bị lòa hai mắt do bị đau mắt quá nặng
Mùa đông năm 1863, với tư cách một giảng viên chưa được chínhphủ chính thức bổ nhiệm, Đuy-rinh giảng dạy triết học, kinh tế học tại trườngđại học tổng hợp Béc-lin
Tuy bị mù lòa nhưng Đuy-rinh viết rất nhiều Trong những năm 60của thế kỷ XIX, Đuy-rinh đã cho xuất bản một số sách như: Biện chứng của
tự nhiên (1865), Kê-ri đảo lộn trong học thuyết về kinh tế quốc dân và khoahọc xã hội (1865), Giá trị của cuộc đời (1865), Tư bản và lao động (1865),Điều trần về hợp tác kinh tế và tổ chức đoàn thể xã hội (1865), Lịch sử phêphán triết học (1869) v.v Trong những năm 70, Đuy-rinh tiếp tục cho xuấtbản các cuốn sách: Lịch sử phê phán khoa học kinh tế chính trị và chủ nghĩa
xã hội (1871), Giáo trình kinh tế quốc dân và kinh tế xã hội (1873) và Bài giảng
về triết học - Thế giới quan và nhân sinh khoa học nghiêm túc (1875) v.v
Do chỉ trong một thời gian ngắn mà đã cho công bố nhiều tác phẩmcùng với hàng loạt những buổi diễn giảng, Đuy-rinh tự cho mình là một "thiêntài", một "chuyên gia ý luật" về chủ nghĩa xã hội, một "nhà cải cách" và một
"nhà triết học chân chính duy nhất" Đuy-rinh tuyên bố rằng mình đã sáng lập
ra một khoa học mới, "một khoa học bao gồm hết thảy", đã thực hiện "mộtcuộc cải cách toàn diện" và đã đạt tới đỉnh cao tri thức nhân loại
Đuy-ring có ý định tiến hành một cuộc "cải cách" triệt để trong khoahọc, tấn công vào tất cả các triết gia, các nhà kinh tế học tiền bối và trong sốcác nhà tư tưởng cùng thời, chỉ có Mác là ngang hàng với ông ta nên ông tatập trung vào công kích Mác Ngay khi tập bộ "tư bản" của Mác vừa mớixuất bản, trên báo chí Đức đã có những bài bình luận của Đuy-rinh phê phántác phẩm này một cách vô căn cứ
Trang 4Đến những năm 70 thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của chính mình,Đuy-rinh đã mở cuộc tấn công toàn diện vào triết học, kinh tế học và lý luận
về chủ nghĩa xã hội của Mác
Về triết học, Đuy-rinh đưa ra luận điệu xuyên tạc, cho rằng lý luận củaMác là sự "tái bản" tác phẩm của Hê-ghen, là sự bắt chước Hê-ghen; Mác chỉlợi dụng Hê-ghen để "tạo ra phép màu biện chứng cho các tín đồ của mình"
Về mặt kinh tế học, Đuy-rinh công kích khái niệm của Mác về tư bản
"chỉ là những sản phẩm lai căng của câu chuyện hoang đường về lịch sử và vềlogic", "chỉ tạo ra một sự rối rắm trong khoa học chặt chẽ về kinh tế quốcdân"
Về chủ nghĩa xã hội khoa học, Đuy-rinh khẳng định lý luận của Mác
về chủ nghĩa xã hội mang "tính chất phản động dấu mặt", và cho rằng, Mácphải dựa vào đôi nạng phép biện chứng thì mới sáng chế ra được cái gọi làchủ nghĩa xã hội tương lai
Mục đích của việc Đuy-rinh công kích, bôi nhọ lý luận của Mác nhằmđưa cái gọi là chủ nghĩa Đuy-rinh - "chân lý tuyệt đỉnh, cuối cùng" của ông tathay thế cho chủ nghĩa Mác đang giữ vai trò chỉ đạo trong Đảng dân chủ-xãhội Đức và phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế Chủ nghĩa Đuy-rinh đã cóảnh hưởng rất xấu đến phong trào công nhân Đức, gây ra tình trạng hỗn loạnnghiêm trọng về tư tưởng và lý luận
Ngay cả những người lãnh đạo Đảng dân chủ-xã hội Đức như Bê-ben,Lip-nếch lúc đầu cũng không nhận ra bản chất phản cách mạng, phản khoahọc của chủ nghĩa Đuy-rinh, cho rằng trong những tác phẩm của Đuy-rinh,đặc biệt là ba tác phẩm chủ yếu công bố vào những năm 70 (Lịch sử phê phánkhoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội, Giáo trình kinh tế quốc dân và kinh
tế xã hội và Bài giảng về triết học), ông ta đã thể hiện lập trường của nhữngngười chủ nghĩa cánh tả, và quan điểm của Đuy-rinh hoàn toàn nhất trí vớichủ nghĩa xã hội khoa học Líp-nếch, người phụ trách báo "Nhà nước nhân
Trang 5dân", cơ quan ngôn luận của đảng, đã cho đăng bài báo này của Bê-ben đểgiới thiệu tác phẩm của Đuy-rinh.
Chủ nghĩa Đuy-rinh gây tác hại không những về mặt tư tưởng, lý luận
mà còn về mặt tổ chức, phá hoại sự đoàn kết của đảng Thông qua nhữngphần tử phái hữu trong đảng dân chủ - xã hội Đức như Béc-stanh, Mô-xtơ,En-xơ,.v.v , Đuy-rinh đã công khai can thiệp vào công việc nội bộ của đảng,
tổ chức ra bè phái của mình
Trước tình hình như vậy, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nhiều lần viết thưnhắc nhở Líp-nếch về tác hại của Đuy-rinh đối với Đảng dân chủ-xã hội Đức.Nhờ đó mà Líp-nếch và những nhà lãnh đạo Đảng dân chủ-xã hội Đức đãnhận thức được tính chất nguy hại của chủ nghĩa Đuy-rinh, thấy cần thiết phảitiến hành phê phán chủ nghĩa Đuy-rinh Líp-nếch đã chính thức viết thư đềnghị Ph.Ăng-ghen thẳng tay vạch trần bản chất của chủ nghĩa Đuy-rinh
Tháng 9 năm 1876, trước yêu cầu của ban lãnh đạo đảng dân chủ - xãhội Đức, được sự ủng hộ của Mác, Ăng-ghen đã tạm ngưng mọi công việckhác (trong đó có việc biên soạn cuốn sách Biện chứng tự nhiên) để tiến hànhcuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận với Đuy-rinh Đến tháng giêngnăm 1877, Ăng-ghen đã viết xong một loạt bài phê phán Bài giảng về triếthọc của Đuy-rinh Từ ngày 3 tháng giêng đến 13 tháng 5 năm 1877, báo TiếnLên đã đăng hàng loạt bài của Ph.Ăng-ghen dưới tiêu đề chung: " Ông Oi-ghen Đuy-rinh đảo lộn khoa học" Tháng 7 năm 1877, những bài này đượcxuất bản thành sách với tiêu đề là "Ông Oi-ghen Đuy-rinh đảo lộn khoa học.Phần thứ nhất: “Trết học” Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1877, Ph.Ăng-ghen đãviết xong phần "Kinh tế chính trị học", chương cuối cùng của phần này là doMác viết, và khoảng từ tháng 8 năm 1877 đến tháng 4 năm 1878, hoàn thànhphần "Chủ nghĩa xã hội" Trên phụ trương học thuật của báo Tiến lên, từtháng 7 đến tháng 12 năm 1877, đã đăng toàn bộ phần "Kinh tế chính trị học"dưới tiêu đề: "Ông Oi-ghen Đuy-rinh đảo lộn kinh tế chính trị học" và từtháng 5 đến tháng 7 năm 1878, cả phần hai và phần ba đã được xuất bản thành
Trang 6chính trị học” Phần thứ ba: “Chủ nghĩa xã hội" Sau đó Ph.Ăng-ghen viết lờitựa cho việc xuất bản thành sách gồm cả ba phần với kết cấu như hiện naychúng ta có trong tay.
KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM
Ở dạng hoàn chỉnh nhất tác phẩm "Chống Đuy-rinh" gồm có phần mởđầu (Lời mở đầu) và ba phần chính (Phần thứ nhất - Triết học; Phần thứ hai -Kinh tế chính trị học; Phần thứ ba - Chủ nghĩa xã hội)
Phần thứ nhất - Triết học: trong phần này, cùng với việc phê phán
những quan điểm triết học của Đuy-rinh, Ph.Ăng-ghen đã trình bày những nộidung chủ yếu của triết học mác-xít Tác giả phân tích vấn đề cơ bản của triếthọc, vấn đề tính thống nhất vật chất của thế giới, các phương thức tồn tại củavật chất, lý luận nhận thức, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật,một số vấn đề của quan niệm duy vật về lịch sử (chủ nghĩa duy vật lịch sử)
Phần thứ hai - Kinh tế chính trị học: Trong khi phê phán những quan
niệm sai lầm của Đuy-rinh trên lĩnh vực kinh tế chính trị, Ph.Ăng-ghen đãphân tích, mổ xẻ những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị hoặc như lý luận
về giá trị, tư bản và giá trị thặng dư, quy luật tự nhiên về kinh tế v.v Đồngthời PH.Ăng-ghen cũng tiếp tục phân tích những vấn đề của triết học xã hộinhư lý luận về bạo lực
Phần thứ ba - Chủ nghĩa xa hội: Tiếp tục phê phán những quan điểm
của Đuy-rinh về chủ nghĩa xã hội, đồng thời Ph.Ăng-ghen đã trình bày sựphát triển của học thuyết về chủ nghĩa xã hội, từ không tưởng đến khoa học.Trong phần này, Ph.Ăng-ghen đã dựa trên cơ sở lập trường triết học duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các quá trình lịch sử-xã hội
III NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA TÁC PHẨM
1 Phê phán những quan điểm triết học của Đuy-rinh, hệ thống hóa những quan điểm triết học mác-xít.
Trang 7Hệ thống những quan điểm triết học của Đuy-rinh bao gồm những vấnđề: đồ thức luận về vũ trụ, triết học về tự nhiên, triết học về nhận thức, triếthọc về con người: "triết học là sự phát triển của hình thức cao nhất của ý thức
về thế giới và về đời sống, và hiểu theo nghĩa rộng hơn, triết học bao quátnhững nguyên lý của mọi hiểu biết và của ý chí" và "chúng ta có ba nhóm mộtcách hoàn toàn thoải mái để sắp xếp lại vật liệu của chúng ta, cụ thể là: đồthức luận chung về vũ trụ, học thuyết về những nguyên lý của tự nhiên vàcuối cùng là học thuyết về con người Trình tự đó đồng thời cũng bao hàmmột trật tự logic ở bên trong; bởi vì những nguyên lý hình thức, có ý nghĩađối với mọi tồn tại, đi phía trước, còn có những lĩnh vực vật thể, trong đónhững nguyên lý ấy phải được ứng dụng, thì đi theo sau chúng tùy theo mức
độ phụ thuộc của những lĩnh vực đó" Khi phê phán những quan điểm triếthọc của Đuy-rinh, Ph.Ăng-ghen đồng thời cũng trình bày có hệ thống nhữngquan điểm triết học mác-xít đối lập hoàn toàn với triết học của Đuy-rinh vềcác vấn đề trên
- Phê phán chủ nghĩa tiên nghiệm duy tâm của triết học Đuy-rinh, khẳng định chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học mác-xít
Mở đầu hệ thống triết học Đuy-rinh là đồ thức luận về vũ trụ TheoĐuy-rinh, đồ thức luận về vũ trụ được cấu thành từ một loạt những nguyên lýtiên nghiệm, còn được gọi là "những nguyên lý hình thức có ý nghĩa đối vớimọi tồn tại", có trước những giới tự nhiên và xã hội loài người Giới tự nhiên
và xã hội loài người chẳng qua chỉ là sự ứng dụng và thể hiện những nguyên
lý đó
Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra thực chất duy tâm của những quan điểm nóitrên của Đuy-rinh Hơn nữa, Ph.Ăng-ghen còn chỉ ra nguồn gốc của nhữngquan điểm đó chính là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hê-ghen: "quanđiểm của ông Đuy-rinh là quan điểm duy tâm, là quan điểm hoàn toàn đặt lộnmối quan hệ hiện thực, và cấu tạo hiện thực từ tư duy, từ những đồ thức, từnhững phương án hay những phạm trù tồn tại vĩnh cửu ở đâu đó trước khi có
Trang 8hãy đối chiếu "Bách khoa toàn thư" của một Hê-ghen với những chân lýtuyệt đỉnh cuối cùng của ông Đuy-rinh Trước hết chúng ta thấy ở ông Đuy-rinh cái đồ thức luận chung về vũ trụ, cái mà Hê-ghen gọi là lo -gích Sau đó,chúng ta lại thấy cả hai đều ứng dụng vào những đồ thức - hay phạm trù lo-gích ấy vào giới tự nhiên: đó là triết học về tự nhiên, và sau cùng ứng dụngvào loài người; đó là cái mà Hê-ghen gọi là triết học về tinh thần Như vậy làcái "trật tự lo-gích bên trong" của hệ thống Đuy-rinh dẫn chúng ta "một cáchhoàn toàn thoải mái" trở về với "Bách khoa toàn thư" của He-ghen "
Sau khi phê phán Đuy-rinh như vậy, Ph.Ăng-ghen đã trình bày nhữngnguyên tắc cơ bản của triết học mác-xít Ph.Ăng-ghen đã viết: "các nguyên lýkhông phải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối cùng củanó; những nguyên lý ấy không phải là được ứng dụng vào giới tự nhiên vàvào lịch sử loài người, mà được trừu tượng hóa từ giới tự nhiên và lịch sử loàingười; không phải là giới tự nhiên và loài người phải phù hợp với các nguyên
lý, mà trái lại các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp vớigiới tự nhiên và lịch sử Đó là quan điểm duy vật duy nhất đối với sự vật"
Rõ ràng, theo Ph.Ăng-ghen, thái độ của người ta đối với vấn đềnguyên lý tùy thuộc và việc người ta nhận thức thế nào đối với mối quan hệgiữa ý thức và tự nhiên, giữa tư duy và tồn tại, giữa quy luật tư duy và quyluật tự nhiên.(Trong tác phẩm "Lút-vích Phoi-ơ-bắt và sự cáo chung của triếthọc cổ điển Đức" Ph.Ăng-ghen đã gọi vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồntại, giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản nhất của triết học)
Thừa nhận tư duy, ý thức bắt nguồn từ giới tự nhiên, Ph.Ăng-ghen rút
ra kết luật: " tất cả những ý niệm đều rút ra từ kinh nghiệm, chúng là sự phảnánh hiện thực những sự phản ánh trung thực hoặc méo mó" Từ nguyên tắc cơbản này, Ph.Ăng-ghen đã trình bày hệ thống triết học mác-xít và so sánh vớicác hệ thống triết học trước Mác, xác định bản chất của triết học mác-xít
Ph.Ăng-ghen gọi triết học mác-xít là "chủ nghĩa duy vật hiện đại" đểphân biệt với triết học cũ, triết học trước Mác, đặc biệt là chủ nghĩa siêu hình
Trang 9"Chủ nghĩa duy vật hiện đại" tiếp thu có phê phán những thành quả về phépbiện chứng của triết học Hê-ghen, phủ định chủ nghĩa duy vật siêu hình, hoàntoàn khác với chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Trong tác phẩm " Chống Đuy-rinh", Ph.Ăng-ghen còn xuất phát từ đốitượng nghiên cứu của triết học mác-xít để chỉ ra sự khác biệt về chất giữa nóvới các trường phái triết học trước đó Các trường phái triết học duy tâm lấy
tư tưởng, tinh thần làm đối tượng nghiên cứu Đối với triết học duy tâm thì tựnhiên, xã hội chẳng qua chỉ là vật phụ thuộc hoặc là sản phẩm của tinh thần
Chủ nghĩa duy vật siêu hình có đối tượng nghiên cứu là giới tự nhiên,
xã hội và tư duy nhưng coi những đối tượng nghiên cứu này là những yếu tốtồn tại biệt lập với nhau, "nhất thành bất biến" Còn chủ nghĩa duy vật hiệnđại, triết học mác-xít nghiên cứu tự nhiên, xã hội, tư duy trong mối quan hệmật thiết hữu cơ với nhau, trong sự vận động và biến đổi không ngừng.Ph.Ăng-ghen viết: "Khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giới tự nhiên, lịch
sử loài người, hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta là trước nhất,chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ vànhững sự tác động qua lại trong đó không có cái gì là đứng nguyên, khôngthay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi"
Như vậy Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra cái chung của giới tự nhiên, xã hội, tưduy là chúng đều có chung mối liên hệ (trong từng lĩnh vực, giữa các lĩnh vựckhác nhau), đều vận động, biến đổi, nói cách khác đi, đều có quy luật vậnđộng, phát triển giống nhau
- Phê phán triết học tự nhiên của Đuy-rinh, trình bày lý luận cơ bản của triết học mác-xít về tự nhiên.
Trong tác phẩm "Chống Đuy-rinh", Ph.Ăng-ghen đã vạch trần nhữngthủ đoạn của Đuy-rinh, một mặt sao chép một cách trắng trợn, vụng về nhữngtác phẩm, những ý tưởng của các nhà triết học tiền bối, một mặt lại ra sứccông kích, miệt thị những người mà Đuy-rinh sao chép nhằm mục đích tân
Trang 10bốc hệ thống triết học của mình là "phương pháp tư duy mới", là "những kếtluận và những quan điểm hết sức độc đáo", là "tư tưởng sáng tạo ra hệ thống".
Đuy-rinh đã viết về triết học tự nhiên với thủ đoạn như vậy: "triết học
về tự nhiên đã suy đồi đến mức trở thành một thứ văn thời giả hiệu rỗng tuếch
và dựa trên sự ngu dốt" và "đã trở thành số phận của một thứ triết lý đánh đĩcủa một gã Sê-linh nào đó hoặc của những kẻ cùng loại, cố đóng vai trò củabọn phụng thờ cái tuyệt đối và mê hoặc công chúng "
Đuy-rinh tự cho mình đã đưa ra những quan điểm độc đáo về nguồngốc của thế giới Tuy nhiên, như Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra, tất cả những quanđiểm của Đuy-rinh về sự phát triển của thế giới trong thời gian và tính giớihạn của nó trong không gian, mà Đuy-rinh vô cùng đắc ý về chúng, tất cảnhững quan điểm đó đều là sao chép y nguyên của người, cụ thể là của Can-tơ: "những câu trên đây được sao y nguyên từ một quyển sách nổi tiếng xuấtbản đầu tiên năm 1781, với nhan đề: I-ma-nu-en Can-tơ " phê phán lý tínhthuần túy" Như vậy là ông Đuy-rinh chỉ có niềm vinh quang là đã gán cáitên: "quy luật về tính xác định của mỗi số" cho một ý kiến mà Can-tơ đã nói
ra, và ông Đuy-rinh đã phát hiện ra rằng đã có thời kỳ chưa có thời giannhưng đã có thế giới Còn về tất cả những cái khác, tức là tất cả những gì còn
có đôi chút ý nghĩa trong những lập luận của ông Đuy-rinh, thì đó nu-en Can-tơ"
là I-ma-Nhưng, Ph.Ăng-ghen cũng chỉ ra rằng, chính Can-tơ cũng không hềkhẳng định rằng những luận điểm về khởi đầu trong thời gian và điểm kếtthúc trong không gian là đã được xác lập dứt khoát bằng sự minh chứng củamình Can-tơ đồng thời cũng khẳng định và chứng minh điều ngược lại: thếgiới không có điểm khởi đầu trong thời gian và không có điểm kết thúc trongkhông gian Và chính cả hai điều đó đều có thể chứng minh được nên Can-tơmới đưa ra cái tương phản (antinomie), tức là một mâu thuẫn không thể giảiquyết được Ph.Ăng-ghen đã mỉa mai Đuy-rinh: "có lẽ những người cỡ nhỏhơn sẽ phải suy nghĩ một chút về điều mà ở đây "một ngài Can-tơ" nào đó coi
là một khó khăn không thể giải quyết được Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ tiền đề lý
Trang 11luận của những quan điểm của triết học mác-xít về tự nhiên là vấn đề tínhthống nhất của thế giới Có hai cách giải quyết vấn đề tính thống nhất của thếgiới: theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm hoặc theo quan điểm duy vật.
Đuy-rinh tự cho mình là đã giải quyết vấn đề tính thống nhất của thếgiới vượt lên trên cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm Theo Đuy-rinh,thế giới thống nhất không phải ở tính vật chất như các nhà duy vật quan niệm,cũng không phải ở tính tinh thần như các nhà duy tâm quan niệm Đuy-rinh
đã dùng thủ đoạn tung hứng khái niệm để nói về tính thống nhất của thế giới.Còn Ph.Ăng-ghen thì chỉ ra rằng, quan điểm của Đuy-rinh không vượt quanhững quan điểm và phương pháp của duy linh chủ nghĩa, là quan điểm thừanhận sự tồn tại của thượng đế và phương pháp chứng minh của bản thể luận
về sự tồn tại của thượng đế
Ph.Ăng-ghen khẳng định "Tính thống nhất của thế giới không phải là
ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vìtrước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồntại Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vậtchất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làmtrò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học vàkhoa học tự nhiên" Đồng thời, Ph.Ăng-ghen một lần nữa vạch mặt Đuy-rinh
đã sao chép Hê-ghen rồi lại miệt thị Hê-ghen là " tưởng tượng mê sảng"
Như ở trên đã nói, Ph.Ăng-ghen nhấn mạnh đến tính vật chất của thế giới, và khẳng định tính thống nhất, cái chung của tất cả mọi sự vật đang tồn tại trên thế giới này là ở tính vật chất của nó Nếu nói cái chung là tồn
tại thì sẽ lẫn lộn giữa vật chất và ý thức, bởi vì cả hai cái đó đều tồn tại, nhưng
ý thức tồn tại vì nó là sự phản ánh thế giới vật chất đang tồn tại Đây chính là quan niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật, cơ sở vững chắc của triết học mác-xít.
Trang 12Trong " Chống Đuy-rinh", Ph.Ăng-ghen đã trình bày một cách cụ thể
mối quan hệ giữa vật chất và vận động trong khi phê phán những luận điểm
của Đuy-rinh liên quan đến vấn đề này
Trước hết, Ph.Ăng-ghen phê phán quan niệm của Đuy-rinh về chuỗi
vô tận đếm được, về thời gian có điểm khởi đầu Ph.Ăng-ghen viết: "Nhưngcòn mâu thuẫn của "chuỗi vô tận đếm được" thì thế nào? Nếu ông Đuy-rinhchỉ cho chúng ta thấy cái thuật đếm chuỗi số đó như thế nào thì cõ lẽ chúng ta
sẽ có thể nghiên cứu nó sâu hơn Bao giờ ông ta làm nổi cái công việc đếm từ(âm vô cực) cho đến số không thì lúc đó xin mời ông ta trở lại với chúng ta.Rất rõ ràng là dù ông ta bắt đầu đếm từ số nào cũng vậy, ông ta vẫn để lạiđằng sau một chuỗi số vô tận và cuối cùng với nó là cả một bài toán mà ông taphải giải đáp Nếu ông Đuy-rinh khẳng định rằng chuỗi vô tận của thời gian
đã qua là đếm được rồi thì như vậy ông ta đã khẳng định rằng thời gian đã cóđiểm khởi đầu, vì nếu không thì ông không tài nào bắt đầu "đếm" được
Quan điểm của Đuy-rinh về thời gian có khởi đầu liên quan đến vấn
đề quan hệ giữa vật chất và vận động Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra thực chất siêuhình rồi dẫn đến duy tâm khách quan trong quan điểm của Đuy-rinh về vấn đềnày: "Vậy, thời gian đã có điểm khởi đầu Nhưng trước điểm khởi đầu đó cócái gì? Thế giới nằm trong trạng thái bất biến đồng nhất với bản thân Và vìtrong trạng thái ấy, không chỉ xảy ra nhưng sự biến đổi nối tiếp nhau, cho nênkhái niệm đặc biệt hơn về thời gian cũng tự nó biến thành ý niệm phổ biếnhơn về tồn tại Nếu thế giới đã có lần ở vào trạng thái tuyệt đối không xảy ramột biến đổi nào cả, thì làm thế nào mà nó lại có thể chuyển từ trạng thái đósang những biến đổi được? Cái tuyệt đối không có sự biến đổi nào, hơn nữa,lại ở trong trạng ấy từ ngàn xưa, thì dù sao cũng không thể tự nó thoát ra khỏitrạng thái ấy được để chuyển sang trạng thái vận động biến đổi Như vậy làphải có một cái hít đầu tiên từ bên ngoài, từ ngoài thế giới vào, làm cho nóvận động Nhưng ai cũng biết rằng "cái hít đầu tiên" chỉ là một cách nói khác
để chỉ thượng đế mà thôi"
Trang 13Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa vật chất và vận động,khẳng định rằng "vận động là phương thức tồn tại của vật chất" Bất kỳ lúcnào và bất kỳ ở đâu hễ có vật chất thì phải là vật chất đang vận động Hìnhthức vận động của vật chất rất đa dạng Vận động của các thiên thể, dao độngphân tử dưới hình thức nhiệt, hoặc những chuyển động dưới hình thức dòngđiện, dòng từ, sự phân giải và hóa hợp các chất v.v đều là những hình thứcvận động khác nhau của vật chất: "mỗi một nguyên tử vật chất riêng biệttrong vũ trụ, trong mỗi lúc nhất định, đều nằm dưới một hình thức vận độnghay dưới nhiều hình thức vận động một lúc" Ph.Ăng-ghen còn chỉ ra tĩnh tại(đứng im) cũng là một trạng thái đặc thù của vận động, đó là "khả năng biểuhiện vận động bằng cái đối lập với nó, tức thể tĩnh"
Trong "Chống Đuy-rinh", Ph.Ăng-ghen còn trình bày lịch sử tiến hóacủa thế giới tự nhiên, vạch ra phương thức tồn tại và phát triển cụ thể của vậtchất đang vận động trong không gian và thời gian, tức là quá trình phát triển
từ đơn giản đến phức tạp; từ thấp lên cao; từ giới vô cơ lên giới hữu cơ, tiếnlên sự sống: "Sự sống là phương thức tồn tại của những thể an-bu-min, vàphương thức tồn tại này, về căn bản, bao hàm ở sự thường xuyên tự đổi mớicủa những thành phần hóa học của những thể ấy" Cũng cần chú ý rằng,Ph.Ăng-ghen đưa ra định nghĩa này là dựa trên những thành tựu khoa học mànhân loài đã đạt được cho đến lúc đó Đến nay rõ ràng là định nghĩa về sựsống của Ph.Ăng-ghen đã bị thực tiễn phát triển khoa học sinh học vượt qua.Nhưng ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa này, khẳng định phươngthức tồn tại của bất cứ hình thức vật chất nào, từ đơn giản nhất đến phức tạpnhất, đều là vận động, thì vẫn giữ nguyên tính thời sự của nó
- Phê phán những quan điểm của Đuy-rinh về xã hội, trình bày những quan điểm của triết học mác-xít về lịch sử (chủ nghĩa duy vật lịch sử).
Trong "Chống Đuy-rinh", Ph.Ăng-ghen đã phê phán những quan điểm
về đạo đức, công bằng và quan điểm duy tâm về lịch sử của Đuy-rinh, đồngthời trình bày quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
Trang 14Ph.Ăng-ghen đã trích những lập luận của Đuy-rinh bàn về tính khôngđổi của đạo đức, mà Đuy-rinh tự coi đó là một trong những " chân lý tuyệtđỉnh cuối cùng" do mình sáng tạo ra: thế giới đạo đức "cũng như thế giới củacủa tri thức phổ biến, - có những nguyên tắc vĩnh hằng và những yếu tố giảnđơn của nó"; những nguyên tắc đạo đức "đứng trên lịch sử và trên cả những
sự khác biệt hiện nay về tính dân tộc Những chân lý riêng biệt đó mà từ đótrong quá trình phát triển, ý thức đạo đức đầy đủ hơn được hình thành, và cóthể nói là hình thành lương tâm, nhận thức đến tận những cơ sở cuối cùng củachúng thì chúng có thể đòi hỏi thừa nhận tầm quan trọng và một phạm vi hoạtđộng giống như những chân lý của toán học và những sự vận dụng toán học.Những chân lý thực sự thì nói chung không biến đổi thành thử thật là điên rồnếu hình dung rằng sự đúng đắn của nhận thức phải tùy thuộc vào thời gian vànhững thay đổi hiện thực "
Ph.Ăng-ghen đã bác bỏ cái gọi là chân lý vĩnh cửu về đạo đức củaĐuy-rinh, và chỉ ra rằng, đạo đức là một phạm trù lịch sử Trong lĩnh vực đạođức, "những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng hiếm có hơn hết Từ dân tộc nàysang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm vềthiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau".Ph.Ăng-ghen khẳng định rằng, "xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức
đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội lúc bấygiờ"
Do đó, trong xã hội còn phân chia giai cấp, nên đạo đức của các giaicấp khác nhau sẽ khác nhau Đạo đức của giai cấp thống trị thì "biện hộ cho
sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị", còn đạo đức của giai cấp bị trịthì "tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợiích tương lai của những người bị áp bức" Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, khi xãhội còn tồn tại những giai cấp khác nhau, không thể có một chuẩn mực đạođức chung, "một đạo đức thực sự có tính người, đứng trên những đối lập giaicấp", cho mọi giai cấp
Trang 15Nhìn chung, cần phải xuất phát từ cơ sở kinh tế-xã hội để xem xét,phân tích sự ra đời, phát triển và biến đổi của những chuẩn mực đạo đức trongmỗi thời đại Chỉ đến khi xã hội đạt tới một trình độ phát triển, không nhữngđối lập giai cấp bị xóa bỏ mà những "hồi ức về sự đối lập giai cấp" cũngkhông còn, tức là đến chủ nghĩa cộng sản, thì lúc đó mới có thể nói đến mộtđạo đức thực sự có tính người.
Phân tích về cái gọi là ứng dụng phương pháp toán học, giải quyếtbằng những định đề những vấn đề lịch sử, đạo đức và pháp quyền, của Đuy-rinh, Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra thực chất của phương pháp này là một hình thứckhác của phương pháp tiên nghiệm, mà "theo phương pháp này, người takhông nhận thức những đặc tính của đối tượng nào đó bằng cách khám phánhững đặc tính ấy trong bản thân đối tượng đó Trước hết, người ta xuất phát
từ đối tượng để tạo ra khái niệm đối tượng; sau đó người ta đảo ngược tất cảlại và biến hình ảnh của đối tượng, khái niệm về nó thành thước đo cho bảnthân đối tượng Bây giờ thì không phải là khái niệm phải phù hợp với đốitượng, mà đối tượng phải phù hợp với khái niệm" Đó chính là một biểu hiệncủa chủ nghĩa duy tâm chủ quan Trong "Chống Đuy-rinh", Ph.Ăng-ghen đãchỉ ra mọi lập luận của Đuy-rinh về bình đẳng dựa trên phương pháp định đề
đã bị phá sản một cách thảm hại
Đồng thời, Ph.Ăng-ghen đã vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử đểphân tích lịch sử hình thành quan niệm về bình đẳng, nhấn mạnh rằng, bìnhđẳng không phải là một phạm trù trừu tượng vĩnh cửu, mà nó là một phạm trù
có tính lịch sử cụ thể
Trong xã hội nguyên thủy, do lực lượng sản xuất thấp kém, tư liệu sảnxuất là của chung, giữa các thành viên cộng đồng không có sự khác biệt về lợiích kinh tế, cho nên giữa họ có sự bình đẳng Đến xã hội chiếm hữu nô lệ rồichế độ phong kiến, đã có sự phân chia giai cấp: giai cấp bóc lột và bị bóc lột,giai cấp áp bức thống trị và bị áp bức thống trị Rõ ràng giữa hai loại giai cấpnhư vậy thì không thể có được bất cứ sự bình đẳng nào cả Nếu có cái gọi là
Trang 16bình đẳng thì chỉ là sự bình đẳng giữa các thành viên của cùng một giai cấpvới nhau.
Khi quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa ra đời, quan niệm về bình đẳngcủa giai cấp tư sản cận đại cũng được hình thành để chống lại sự trói buộc củachế độ phong kiến Nội dung quan niệm bình đẳng của giai cấp tư sản phảnánh rõ yêu cầu của giai cấp tư sản: đòi quyền con người, đòi quyền tự do buônbán, đòi quyền trao đổi bình đẳng, chống những đặc quyền phong kiến Quanniệm bình đẳng này đã có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy chủ nghĩa
tư bản phát triển Như vậy, quan niệm về bình đẳng dưới hình thức tư sảncũng như dưới hình thức vô sản, bản thân là một sản phẩm của sự phát triểnlịch sử nhất định, bản thân những điều kiện này, đến lượt mình, lại giả địnhphải có một lịch sử lâu dài trước đó Cho nên quan niệm bình đẳng là cái gìcũng được, nhưng quyết không phải là một chân lý vĩnh cửu"
Bàn về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, Đuy-rinh lại bộc lộ lậptrường duy tâm của mình Đuy-rinh viết: "Trong hệ thống của tôi, quan hệgiữa chính trị chung với những hình thức của pháp quyền kinh tế đã được quyđịnh một cách dứt khoát, và đồng thời thật độc đáo, đến mức là việc đặc biệtgiới thiệu nó để giúp cho nghiên cứu được dễ dàng cũng không phải là thừa.Hình thức của những quan hệ chính trị là cái cơ bản có tính chất lịch sử, cònnhững quan hệ lệ thuộc về kinh tế thì chỉ là một hậu quả hay một trường hợpđặc biệt, và vì vậy bao giờ chúng cũng là những sự kiện thứ yếu"
Ph.Ăng-ghen mỉa mai: " chúng ta nhận thấy rằng cần phải tự yêu mìnhnhư ông Đuy-rinh thì mới có thể coi ý kiến chẳng độc đáo chút nào đó là một
ý kiến "độc đáo" " Vạch trần bản chất duy tâm của quan điểm nói trên củaĐuy-rinh, đồng thời Ph.Ăng-ghen đã trình bày một cách khoa học mối quan
hệ giữa chính trị và kinh tế
Xuất phát từ lịch sử phát triển của loài người, Ph.Ăng-ghen đã chỉ rarằng, từ khi loài người xuất hiện đã bắt đầu có hoạt động lao động sản xuất,hoạt động kinh tế, còn hoạt động chính trị thì chỉ xuất hiện ở một giai đoạn