1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỀN MÃ HÓA – BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM

90 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiền mã hóa – Bài học từ các nước trên thế giới và khuyến nghị xây dựng khung pháp lý tại Việt Nam
Tác giả Lê Thị Như Quỳnh, Quách Khả Nhi, Nguyễn Đình Lan Vy, Nguyễn Thị Tường Vy, Nguyễn Tiêu Thùy Vy
Người hướng dẫn Giảng viên hướng dẫn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật, Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những ưu điểm nổi bật về chi phí, thời gian giao dịch, khả năng thanh khoản, tính tiện dụng, gọn nhẹ và dễ dàng sử dụng, tiền mã hóa đang ngày càng chứng minh ưu thế của mình khi mà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

NĂM 2022

TI ỀN MÃ HÓA – BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ

KHUY ẾN NGHỊ XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM

Nhi K195011922 Khoa Luật

Kinh tế Tham gia

3 Nguyễn Đình

Lan Vy K195011943 Khoa Luật

Kinh tế Tham gia

4 Nguyễn Thị

Tường Vy K195011944 Khoa Luật Kinh tế Tham gia

5 Nguyễn Tiêu

Thùy Vy K195011945 Khoa Luật

Kinh tế Tham gia

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

NĂM 2022

TI ỀN MÃ HÓA – BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN

NGH Ị XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM

Đại diện nhóm nghiên cứu Giảng viên hướng dẫn Ch ủ tịch Hội đồng

Lãnh đạo Khoa/Bộ môn/Trung tâm

(Ký, h ọ tên)

Trang 3

M ỤC LỤC

DANH M ỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 4

M Ở ĐẦU 5

1 Lý do lựa chọn đề tài 5

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

2.1 M ục tiêu tổng quát: 7

2.2 M ục tiêu cụ thể: 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

3.1 Đối tượng nghiên cứu 8

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu 8

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

4.1 Tình hình nghiên c ứu trong nước 8

4.2 Tình hình nghiên c ứu trên thế giới 12

5 Cơ sở lý thuyết 15

6 Phương pháp nghiên cứu 15

7 Kết cấu của đề tài 16

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 17

K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH (BÀN LUẬN) KẾT QUẢ 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TIỀN MÃ HÓA 18

1.1 Khái quát chung về tiền mã hóa 18

1.1.1 Định nghĩa tiền mã hóa 18

1.1.2 Phân lo ại tiền mã hóa 22

1.1.3 Đặc điểm của tiền mã hóa 23

1.1.4 Các ch ủ thể trong hệ thống tiền mã hóa 25

1.1.5 Công ngh ệ Blockchain 26

1.1.7 Nh ững rủi ro khi sử dụng tiền mã hóa 27

1.1.8 Ý nghĩa của tiền mã hóa trong nền kinh tế thời đại 4.0 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ TIỀN MÃ HÓA Ở VI ỆT NAM 34

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về tiền mã hóa ở Việt Nam 34

Trang 4

2.1.1 Dưới góc độ phương diện tài sản 34

2.1.2 Dưới góc độ phương tiện thanh toán 35

2.1.3 Dưới góc độ giá trị pháp lý của các giao dịch tiền mã hóa 37

2.1.4 Dưới góc độ thuế 38

2.1.5 Dưới góc độ hành chính 39

2.1.6 Dưới góc độ hình sự 40

2.2 Thực tiễn các hoạt động liên quan đến tiền mã hóa tại Việt Nam 42

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI V Ề TIỀN MÃ HÓA 45

3.1 Thực trạng pháp luật ở một số nước trên thế giới về tiền mã hóa 45

3.1.1 Quy định pháp luật ở El Salvador 45

3.1.2 Quy định pháp luật ở Hoa Kỳ 46

3.1.3 Quy định pháp luật ở Úc 50

3.1.4 Quy định pháp luật ở Liên minh châu Âu 52

3.1.5 Quy định pháp luật ở Nhật Bản 54

3.1.6 Quy định pháp luật ở Singapore 57

3.1.7 Quy định pháp luật ở Trung Quốc 61

3.2 Đánh giá chung thực trạng pháp luật ở một số nước trên thế giới về tiền mã hóa 64

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VI ỆT NAM VỀ TIỀN MÃ HÓA 67

4.1 Các yếu tố tác động trong việc xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam 67

4.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam 67

4.1.2 Chính sách pháp lu ật của nhà nước Việt Nam 68

4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội của thế giới 68

4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa 69

4.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam 70

4.4 Đề xuất khuyến nghị xây dựng hoàn thiện khung pháp lý tại Việt Nam về tiền mã hóa 72

4.4.1 Thay đổi tên gọi và đưa ra định nghĩa cho tiền mã hóa 72

4.4.2 Ghi nh ận tiền mã hóa là tài sản 73

4.4.3 V ề góc độ là phương tiện thanh toán 74

Trang 5

4.4.4 Xem ho ạt động kinh doanh tiền mã hóa là một ngành nghề kinh doanh có điều

ki ện 77

4.4.5 Ti ến tới thu thuế đối với các hoạt động liên quan đến tiền mã hóa 77

K ẾT LUẬN 80

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 82

Trang 6

DANH M ỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nếu cuối thế kỷ XX là sự phát triển của ngành công nghiệp Internet thì chính lúc này đây sẽ là thời kì bùng nổ của công nghệ Thật vậy, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ khiến cuộc sống của chúng ta thay đổi rất nhiều Và không thể không nói đến sự thay đổi trong phương thức trao đổi thương mại, hệ thống thanh toán1, sự phát triển của công nghệ số đã kéo theo sự bùng nổ mạnh mẽ của tiền mã hóa trong những năm gần đây

Với những ưu điểm nổi bật về chi phí, thời gian giao dịch, khả năng thanh khoản, tính tiện dụng, gọn nhẹ và dễ dàng sử dụng, tiền mã hóa đang ngày càng chứng minh ưu thế của mình khi mà gần 30 quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Canada, Úc, Brazil, Singapore,…

đã chấp nhận một số loại tiền mã hóa như Bitcoin (BTC) là một phương thức thanh toán hợp pháp, đến cả những công ty công nghệ nổi tiếng như Tesla, Dell, Apple hay Microsoft cũng đang chấp nhận sử dụng loại tiền tệ này để giao dịch Bên cạnh sự phát triển của tiền

mã hoá, còn rất nhiều ý kiến trái chiều do vẫn còn tồn đọng nhiều khuyết điểm2 mà sẽ được nhóm nghiên cứu phân tích ở Chương sau

Đối với Việt Nam, trong giai đoạn ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, không thể không quan tâm đến sự phát triển của đồng tiền này, nhất là khi nó đã bắt đầu du nhập vào nước ta Thực tế cho thấy, Việt Nam đã hình thành cộng đồng những người chơi BTC và phát triển các công cụ hỗ trợ, ví dụ như là các sàn giao dịch tiền mã hóa Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là những hoạt động này lại đang nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước Đặc biệt là trong thời gian gần đây, trên các diễn đàn liên tục đăng tải, quảng bá giới thiệu “đồng tiền mã hóa”, lan rộng trên phạm vi nhiều tỉnh, thành phố Nhiều tổ chức, công

ty đã lợi dụng sự tăng giá của nó để lừa đảo người dân đầu tư sinh lợi trên sàn Trước tình hình đó, nước ta đã có những văn bản, cụ thể là Ngân hàng Nhà nước đã khuyến cáo các tổ

chức, cá nhân không đầu tư, nắm giữ, thực hiện các giao dịch liên quan đến BTC và các loại tiền mã hóa; khẳng định BTC và các loại tiền mã hóa tương tự khác không phải là

1 Joseph Githinji Choto (2018), Virtual currency as a medium of exchange in Kenya, A Research Project Report

Submitted to the Chandaria School of Business in Partial Fulfilment of the Requirement for the Degree of Master of Science in Management and Organizational Development, p 13-15

2 Sergio Luis Náñez Alonso et al (2021), “Cryptocurrency Mining from an Economic and Environmental

Perspective” Analysis of the Most and Least Sustainable Countries, Energies, p 2

Trang 8

phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam; vì thế, việc phát hành, cung ứng, sử dụng BTC và các loại tiền mã hóa tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi vi phạm pháp luật Thậm chí, về chế tài xử lý vi phạm, theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Nghị định 96/2014/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hành

vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp (trong đó có BTC và các loại tiền mã hóa tương tự khác) sẽ bị xử phạt ở mức phạt tiền từ 150 triệu đến

200 triệu đồng Đồng thời, từ ngày 01/01/2018, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp (trong đó có BTC và các loại tiền mã hóa tương tự khác) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuy nhiên liệu các biện pháp cấm này là có khả thi và phù hợp trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới hay không? Qua quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cho rằng đất nước nên thay đổi và nhìn nhận

về tiền mã hoá để có thể bắt kịp xu thế Như năm 2016, VTV còn nói BTC là tiền ảo, là kênh đầu tư nhiều rủi ro3, từ "ảo" đã làm nhiều nhà đầu tư thấy lo ngại và bỏ qua cơ hội tiếp cận Nhưng tại thời điểm hiện nay, tiền mã hoá đã có sự phát triển một cách mạnh mẽ và ta

đã thực sự bỏ lỡ thời điểm vàng để đầu tư sinh lợi khi mà giá đồng BTC là 1.000 USD vào năm 2016, và đã có thời điểm đồng BTC "chạm đỉnh" với giá 67.000 USD4 Việc phát triển mạnh mẽ của loại tiền này được lý giải bởi độ phủ sóng và lan truyền trên các trang mạng, giúp mọi người dễ tiếp cận thông tin, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập như hiện nay thì nhu cầu về tài sản số được đẩy lên cao vì tính tiện dụng và nhanh nhạy Theo đó có thể thấy trong tương lai, tiền mã hoá sẽ là một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống, và nếu chúng ta vẫn tiếp tục không chấp nhận loại tiền này thì sẽ còn bỏ qua rất nhiều cơ hội khác Do đó, Việt Nam cũng nên nắm bắt và thay đổi, việc thừa nhận tiền mã hóa là điều thật sự cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập toàn cầu và đối diện với nền công nghiệp 4.0

3 “Đầu tư tiền mã hóa, rủi ro thật” (2016), Báo Điện Tử VTV, xem ngày 20/10/2021,

[https://vtv.vn/news-20161020095112338.htm]

4 Bình An (2021), “Giá Bitcoin vượt 67.000 USD, lập kỷ lục mọi thời đại”, xem ngày 24/11/2021,

[https://tuoitre.vn/gia-bitcoin-vuot-67-000-usd-lap-ky-luc-moi-thoi-dai-20211109091446353.htm]

Trang 9

Nhưng thừa nhận ở mức độ nào và xây dựng khung pháp lý như thế nào để kiểm soát và quản lý nó thì mới là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm5

Xuất phát từ yêu cầu trên, nhóm đã lựa chọn đề tài “Tiền mã hoá – Bài học từ các

nước trên thế giới và khuyến nghị xây dựng khung pháp lý ở Việt Nam” để làm đề tài

nghiên cứu khoa học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Về mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ khung pháp lý của tiền mã hoá cũng như thực trạng pháp luật về tiền mã hoá của một số nước trên thế giới Từ đó, nhóm nghiên cứu liên hệ và so sánh với pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra các bài học kinh nghiệm để

đề xuất, định hướng khung pháp lý về tiền mã hoá tại nước ta Việc điều chỉnh này sẽ là bước tiến lớn cho pháp luật Việt Nam, góp phần giảm thiểu và phòng tránh rủi ro liên quan đến các hoạt động và giao dịch liên quan đến tiền mã hoá, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia

Th ứ hai, phân tích quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về tiền mã hoá và

thực tiễn thực hiện pháp luật

Th ứ ba, tìm hiểu, phân tích các quy định hiện hành của một số quốc gia về tiền mã

hoá, đánh giá các quy định đó và rút ra kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam

Th ứ tư, đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam về tiền mã

hóa, với điều kiện đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường này

5 Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2019), “Tổng quan về vị trí pháp lý của tiền mã hóa (BTC) tại một số quốc gia trên thế giới – Định hướng xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, tr 123

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tiền mã hóa, pháp luật và thực tiễn Việt Nam liên quan đến tiền mã hóa Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, cụ thể là Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Singapore, El Salvador, Trung Quốc, Úc, Nhật Bản về vấn đề tiền mã hóa để đối chiếu với pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu sẽ không đi sâu nghiên cứu về hoạt động huy động vốn ICO (Initial Coin Offering - Đợt phát hành Coin đầu tiên)

- Phạm vi thời gian: Đề tài chỉ nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và của các nước trên thế giới, đồng thời nghiên cứu thực trạng về tiền mã hóa trong

05 năm gần đây

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu

4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tiền mã hóa là một trong những sản phẩm được ra đời dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ “Cơn sốt” tiền mã hóa ngày càng thu hút được nhiều nhà đầu tư trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ Tuy nhiên, các bài nghiên cứu chuyên sâu về đề tài tiền mã hóa và khung pháp lý ở nước ta vẫn còn hạn chế Một số công trình đáng chú ý có thể kể đến như:

- Đề tài cấp Bộ “Các khía cạnh pháp lý của tiền mã hóa: Thực tiễn các nước và một

s ố kinh nghiệm cho Việt Nam” được nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Luật Hà Nội

thực hiện năm 2018 đưa ra cái nhìn tổng quan về tiền mã hóa (khái niệm, đặc điểm, phân

loại, ) khoanh vùng phạm vi điều chỉnh về tiền mã hóa, giúp người tiêu dùng có khả năng kiểm soát rủi ro; đề tài cũng có những phân tích nhằm chỉ ra những điểm khác nhau giữa tiền mã hóa với tiền điện tử và các loại tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015, từ đó đưa ra

Trang 11

những đề xuất về mặt pháp lý cho việc quản lý, điều chỉnh tiền mã hóa Với việc rà soát các quy định pháp luật có liên quan, bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mặc dù tiền mã hóa không được công nhận là tiền pháp định, phương tiện thanh toán, ngoại hối hay tài sản, nhưng các hoạt động khai thác, trao đổi, kinh doanh, đầu tư loại tiền này lại không bị cấm Cũng vì không có cơ sở pháp lý nên hoạt động kinh doanh tiền mã hóa không bị đánh thuế

và cũng khó xác định trách nhiệm hình sự về tội phạm liên quan đến tiền mã hóa Bên cạnh

đó, nhóm tác giả đã phân tích quy định pháp luật của một số quốc gia điển hình của cả hai

hệ thống luật Common Law và Civil Law, từ đó rút ra bài học cũng như đưa ra các khuyến nghị, đề xuất xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa ở Việt Nam Đây có thể coi là một công trình tiêu biểu về đề tài nghiên cứu tiền mã hóa dưới góc độ pháp lý và nhóm tác giả cũng đã đề xuất được các giải pháp pháp lý phù hợp với tình hình nước ta Bài viết cũng đưa ra cái nhìn một cách toàn diện về các khía cạnh của tiền mã hóa như thu thuế, hoạt động ICO, Ngoài ra, các nghiên cứu của nhóm tác giả về pháp luật của các nước cũng rất đầy đủ, và rút ra được những bài học cho Việt Nam trong quá trình xây dựng khung pháp

lý về tiền mã hóa

- Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM của tác giả Đoàn

Phương Thảo, “Nghiên cứu xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam” (2018)

đã khẳng định giá trị tiền mã hóa nằm ở mức độ chấp nhận, và chưa thỏa mãn định nghĩa

về tiền dưới góc độ kinh tế Từ khái niệm, đặc điểm của tiền mã hóa và đối chiếu với lý thuyết về tiền tệ gồm 4 chức năng chính là phương tiện trao đổi, đơn vị đo lường giá trị, chức năng tiền tệ thế giới và chức năng cất trữ giá trị, tác giả nhận thấy tiền mã hóa mới chỉ thực hiện được chức năng “phương tiện trao đổi”, do đó, nó vẫn không thể được nhìn nhận

là tiền tệ theo quan điểm của Mác cũng như các nhà kinh tế Dưới góc độ pháp lý, nghiên cứu cho thấy tiền mã hóa cũng không thỏa mãn được 2 chức năng để có thể trở thành phương tiện thanh toán, cũng như không được xem là tài sản theo quy định của BLDS 2015

Từ những nhận định trên, kết hợp với việc phân tích quy định của Nhật Bản và Canada về tiền mã hóa, tác giả cho rằng, với trình độ pháp lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện tại của nước ta, chưa cần thiết phát hành tiền mã hóa quốc gia mà cần tập trung vào mở rộng khái niệm tài sản, nhằm xây dựng các quy định về tiền mã hóa với tư cách là tài sản; cần thiết

Trang 12

phải giới hạn các loại hình vốn góp được phép sử dụng tiền mã hóa; đồng thời, xây dựng nền tảng công nghệ tiên tiến, đội ngũ trình độ cao

- Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế - Luật “Nghiên cứu Luật Thuế

các nước liên quan đến tiền mã hóa và kinh nghiệm cho Việt Nam” (2018) của tác giả

Nguyễn Huỳnh Phương Thảo cũng cho rằng, tiền mã hóa không thể xếp vào khái niệm

“vật” hay “quyền tài sản” như quy định về tài sản tại BLDS 2015, thay vào đó, tác giả cho rằng nếu xem tiền mã hóa là tài sản vô hình có điều kiện thì đây có thể là 1 loại đặc thù của

“quyền tài sản”, tồn tại trong không gian mạng Tác giả cũng tham khảo quy định của các nước trên thế giới khi áp dụng thuế lên BTC qua đó đi đến kết luận việc đánh thuế tiền mã hóa là phù hợp với hoạt động quản lý Cũng từ những nghiên cứu về tình hình hiện tại về tiền mã hóa tại Việt Nam, tác giả đã đưa ra ý kiến rằng các cơ quan tổ chức nhà nước không nên tiếp tục lơ đi việc quy định về các loại tiền mã hóa, điều này sẽ khiến ta tụt hậu, xa rời quá trình hội nhập; bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra nhiều hướng để hoàn thiện vấn đề này Tuy nhiên, bài nghiên cứu vẫn còn một số điểm còn hạn chế sau đây: tác giả kiến nghị nên đánh thuế lên tiền mã hóa nhưng lại không có các lý giải tại sao nên xem tiền mã hóa là một dạng tài sản, hàng hóa, việc không nhận định được hình thức tồn tại của tiền mã hóa

sẽ gây khó khăn cho việc điều chỉnh quy định về thu thuế; bài viết cũng không thống nhất, còn nhập nhằng giữa các thuật ngữ như tiền kỹ thuật số, tiền mã hóa, token, tài sản mã hóa;

và các kiến nghị chỉ mang tính lý thuyết mà không có các đề xuất cụ thể để đưa vào thực tiễn

- Luận văn Thạc sĩ Kinh tế quốc tế, trường Đại học Kinh Tế của tác giả Đặng Nam,

“Sự hình thành và phát triển của đồng tiền mã hóa Bitcoin và một số hàm ý cho Việt Nam trong b ối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (2018) đã trình bày tổng quan về BTC và so sánh

với các loại tiền tệ cũng như các loại tiền mã hóa khác, đồng thời chỉ ra cơ chế giao dịch và

ưu, nhược điểm của đồng tiền BTC Bên cạnh những lợi ích mà BTC mang lại cho các nhà đầu tư thì đồng này cũng tiềm ẩn vô vàn rủi ro, một số rủi ro khi đầu tư BTC được tác giả

đề cập đến là rủi ro về mặt giá trị do đồng BTC có sự biến động mạnh và phức tạp; rủi ro

về mặt quản lý vì đồng tiền này không bị chi phối hay kiểm soát bởi các cơ quan nhà nước; rủi ro về việc trợ giúp cho loại tội phạm rửa tiền, khủng bố do tính ẩn danh của BTC,… Tác giả cũng phân tích thực trạng phát triển, quản lý và khung pháp lý về tiền mã hóa BTC

Trang 13

ở một số nước trên thế giới, kết hợp với các rủi ro nêu trên để làm nền tảng đưa ra các khuyến nghị về chính sách cho Việt Nam trong việc quản lý đồng tiền mã hóa BTC

- Đề tài nghiên cứu khoa học “Khung pháp lý về Bitcoin và các loại tiền mã hóa

trong pháp lu ật một số nước trên thế giới - Kinh nghiệm cho Việt Nam” (2019) của hai tác

giả Phạm Hải Trà My và Hoàng Thị Liên đã đưa ra các vấn đề lý luận về BTC nói riêng và tiền mã hóa nói chung, trên cơ sở phân tích khung pháp lý cũng như đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về loại tiền này tại Hoa Kỳ, Singapore, Pháp và Trung Quốc – những quốc gia được đánh giá là rất nhạy bén với sự biến động của nền kinh tế và đi đầu trong việc đưa

ra các chính sách về tiền mã hóa, các tác giả đã đối chiếu với quy định pháp luật và thực trạng về tiền mã hóa tại Việt Nam để đưa ra những đề xuất mang tính định hướng xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa ở nước ta trong tương lai Với phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích quy định pháp luật và thực tiễn, đồng thời nghiên cứu ở cả góc độ kinh

tế và pháp lý, nhóm tác giả đã đưa ra một số đề xuất có giá trị có thể kể đến như nên có một tên gọi pháp lý chính thức cho tiền mã hóa, cụ thể nhóm tác giả khuyến nghị nên gọi tiền

mã hóa là “tài sản mã hóa” để phân biệt với khái niệm tiền trong BLDS 2015, theo đó cũng

bổ sung tiền mã hóa vào khái niệm tài sản trong BLDS 2015 nhằm bảo hộ quyền của các nhà đầu tư và là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét giải quyết các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tiền mã hóa

- Ngoài ra, một số bài báo nghiên cứu tiêu biểu như bài nghiên cứu “Tổng quan về

v ị trí pháp lý của tiền mã hóa (Bitcoin) tại một số quốc gia trên thế giới - Định hướng xây

d ựng khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam” (2019) của tác giả Nguyễn Thị Hồng

Nhung và Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đã đưa ra các định nghĩa, cách thức hoạt động của BTC

và Blockchain đồng thời đưa ra cái nhìn về vị trí pháp lý của đồng tiền mã hóa ở Việt Nam thông qua việc so sánh với các quốc gia cụ thể như Pháp và Thái Lan, qua đó nhóm tác giả cho rằng nên xem xét tiền mã hóa như chứng khoán giống với quy định của Thái Lan, vừa

có thể quản lý, vừa có thể đánh thuế để tăng nguồn thu ngân sách nhà nước; bài viết “Xây

d ựng khung pháp lý quản lý giao dịch tiền mã hóa – Qua nghiên cứu pháp luật Nhật Bản

và m ột số gợi mở cho Việt Nam” (2020) của tác giả Nguyễn Lưu Lan Phương và Lê Thị

Thùy Nhi từ việc nghiên cứu pháp luật của Nhật Bản và thực trạng hiện nay của Việt Nam, các tác giả đã đưa ra một lộ trình nhằm hướng tới việc công nhận tiền mã hóa là một phương

Trang 14

tiện thanh toán ở nước ta; bài viết “Tiền mã hóa và một số vấn đề pháp lý đặt ra ở Việt Nam

hi ện nay” (2021) của tác giả Trần Văn Biên và Nguyễn Minh Oanh lại tiếp cận từ các quy

định hiện hành của nước ta hiện nay, đánh giá những điểm còn thiếu sót trong các quy định trên nhiều lĩnh vực như dân sự, hình sự, pháp luật kinh doanh,… và đưa ra kiến nghị nên ghi nhận tiền mã hóa là một loại tài sản, chưa nên công nhận là phương tiện thanh toán, và các vấn đề có liên quan như việc lưu thông, thu thuế, cho phép và kiểm soát việc phát hành tiền mã hóa ở Việt Nam

Nhìn chung các bài nghiên cứu nói trên đều đề cập đến các loại hình tiền mã hóa, phân tích tiền mã hóa từ nhiều góc độ, đối chiếu với pháp luật của các nước về tiền mã hóa đồng thời so sánh với pháp luật hiện hành của nước ta để đưa ra các khuyến nghị về việc xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa ở Việt Nam Tuy nhiên, tác giả của các bài nghiên cứu nói trên có những quan điểm khác nhau về tiền mã hóa, không thống nhất trong việc xác định bản chất của tiền mã hóa cũng như việc kiến nghị nên công nhận tiền mã hóa là tài sản hay phương tiện thanh toán vẫn còn nhiều tranh cãi

4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngược lại với Việt Nam, một số nước trên thế giới đã bước đầu hoàn thiện khung pháp lý về tiền mã hóa, cùng với đó thì đề tài về tiền mã hóa cũng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các nhà nghiên cứu Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:

- Nghiên cứu “Regulating crypto-currencies in South Africa: The need for an

effective legal framework to mitigate the associated risks” (2017) của tác giả Karabo

Mothokoa thông qua các tình huống thực tế về các đồng tiền điện tử được sử dụng phổ biến

ở Nam Phi là Ethereum, BTC, Ripple, Litecoin, Number42, UMC, Luno,… để phân tích những rủi ro liên quan đến việc sử dụng tiền mã hóa Các rủi ro đó như là: hệ thống thanh toán, nhà cung cấp thanh toán, rửa tiền, khủng bố, bất ổn tài chính, thiếu ổn định giá cả, áp

lực lên hệ thống kiểm soát, rủi ro cho người tiêu dùng, thiếu minh bạch, không có tư cách pháp nhân, tính biến động cao, ẩn danh, thiếu tính liên tục, xuất hiện các loại tiền mã hóa bất hợp pháp,… Bên cạnh đó là các ví dụ cụ thể như vấn đề Silk road – con đường tơ lụa bán vũ khí trái phép Ngoài ra, bài viết còn nghiên cứu về tính hiệu quả của Luật Bảo vệ người tiêu dùng ở Nam Phi liên quan đến việc bảo vệ người sử dụng các loại tiền mã hóa ở

Trang 15

Nam Phi Về hạn chế, bài viết chỉ tập trung nghiên cứu tiền mã hóa như một phương tiện thanh toán, chứ không phải một loại hàng hóa hay tài sản

- Joseph Githinji Choto với nghiên cứu “Virtual currency as a medium of exchange

in Kenya” (2018) đã phân tích các yếu tố ngăn cản tiền mã hóa trở thành một phương tiện

thanh toán hợp pháp tại Kenya như khung pháp lý hiện hành hay tính rủi ro cao của tiền mã hóa Bài viết cũng thể hiện tính khách quan khi mà bên cạnh những phân tích về mặt lý luận, tác giả cũng thực hiện một khảo sát với quy mô nhỏ nhằm tìm hiểu nhận thức của người dân đối với tiền mã hóa và các nguy cơ khi giao dịch trên không gian mạng, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm loại bỏ những yếu tố gây cản trở người dân tiếp cận loại tiền này

- Bài nghiên cứu “Tragedy of the Energy Commons: How Government Regulation

Can Help Mitigate the Environment and Public Health Consequences of Cryptocurrency Mining” (2020) của Jeff Thomson là một trong số những bài nghiên cứu có nhắc đến vấn

đề ô nhiễm môi trường do việc khai thác BTC quá mức, đây là vấn đề khá quan trọng vì có thể tác động đến toàn xã hội Từ việc phân tích cách hoạt động của việc khai thác tiền mã hóa và giải thích tại sao nó lại tiêu tốn nhiều năng lượng, tác giả đã xem xét tác động của việc sử dụng năng lượng như vậy đối với môi trường, cơ sở hạ tầng tiện ích công cộng và sức khỏe cộng đồng Đồng thời phân tích quy định hiện hành ở Hoa Kỳ về điều chỉnh các giao dịch, khai thác tiền mã hóa và đánh giá, so sánh với các quy định hiện hành ở Trung Quốc và Iran Tác giả cũng đưa ra các đề xuất nhằm giảm tác động của việc khai thác tiền

mã hóa đến môi trường, sức khỏe cộng đồng và cơ sở hạ tầng tiện ích công cộng Tuy nhiên

có nhiều phương án lại không khả thi trong tình hình hiện nay, và các tác động đến môi trường của việc khai thác chỉ mới là suy đoán dựa trên các dữ liệu nghiên cứu hiện tại, tác giả chưa đưa ra được căn cứ chỉ ra rằng việc khai thác tiền mã hóa có thể làm tăng lượng khí thải carbon vào bầu khí quyển

- Bài viết của Sergio Luis Náñez Alonso et al “Cryptocurrency Mining from an

Economic and Environmental Perspective Analysis of the Most and Least Sustainable Countries” (2021), bằng những phân tích các yếu tố tác động gây tiêu tốn năng lượng trong

quá trình khai thác BTC, phân tích tính bền vững của môi trường ở một số quốc gia khác nhau với 133 quốc gia là đối tượng nghiên cứu; chỉ ra những gì phải tiêu thụ, và những thứ

Trang 16

phải thải ra môi trường trong hoạt động khai thác BTC, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng

và cấp thiết của việc tìm ra các phương pháp nhằm tối ưu hóa việc khai thác BTC, ngăn chặn kịp thời các tác động của việc khai thác này lên môi trường

- Nghiên cứu của Evangelos Stamoulis “Comparative study on the environmental,

political, social effects and long-term sustainability of Bitcoin, Ethereum, Tether and Cardano cryptocurrencies” (2021) tập trung phân tích cơ chế hoạt động của Blockchain,

từ đó tác giả đã phân tích sự giống và khác nhau trong cấu trúc của bốn loại tiền mã hóa phổ biến hiện nay là BTC, Ethereum, Cardano và Tether Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu đã

đề cập đến sự ảnh hưởng của quá trình vận hành của từng loại tiền mã hóa nói trên lên môi trường Tuy nhiên, việc đi sâu vào nghiên cứu mặt trái đó của tiền mã hóa cũng như đưa ra các giải pháp cụ thể lại không được tác giả đề cập đến trong bài viết

Ngoài ra còn có một số đầu sách đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam sau đây:

- Tác phẩm “Bitcoin: Financial or future bubbles of currency” của tác giả Mark Gates do Bùi Đức Anh dịch

- Tác phẩm “The age of Cryptocurrency How Bitcoin and the blockchain are

challenging the global economic order” của tác giả Paul Vigna và Michael.J.Casey do Han

- Tác phẩm “Blockchain: Ultimate guide to understanding blockchain, Bitcoin,

cryptocurrencies, smart contracts and the future of money” của tác giả Mark Gates do

Thành Dương dịch

Có thể thấy các nghiên cứu trên thế giới đa phần đề tập trung phân tích về khái niệm, đặc điểm cũng như cơ chế hoạt động của tiền mã hóa mà không chú trọng vào khía cạnh pháp lý Góc độ pháp lý của tiền mã hóa thường do các cơ quan Nhà nước thực hiện dưới

dạng báo cáo hoặc đề án Đáng chú ý là một số bài viết hướng tới việc nghiên cứu tác động của việc khai thác BTC lên môi trường, một đề tài khá mới mẻ liên quan đến tiền mã hóa,

và đây cũng là một phần trong bài nghiên cứu của nhóm

Trang 17

5 Cơ sở lý thuyết

Theo lý thuyết Nhà nước về tiền tệ (the State Theory of Money) của Georg Friedrich Knapp, tiền tệ được hình thành bởi sự thực thi pháp luật của nhà nước hoặc bằng sự bảo đảm của nhà nước Lý thuyết này cũng cho rằng giá trị của tiền không dựa trên giá trị của vật chất như kim loại có trong tiền xu, mà tiền có thể được tạo ra từ những vật liệu không

có giá trị nội tại, chẳng hạn như giấy Dựa trên quan điểm của Lý thuyết Nhà nước về tiền

tệ, tiền mã hóa không có độ tin cậy, không được đảm bảo từ phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vì nó không được phát hành hoặc kiểm soát bởi Nhà nước hoặc Ngân hàng trung ương (NHTW)

Việc phát hành một loại tiền mã hóa độc lập với Nhà nước có thể dựa trên lý thuyết tiền tệ phi quốc gia (Theory of Denationalisation of Money), được ủng hộ bởi Friedrich Hayek Hayek cho rằng việc NHTW độc quyền phát hành tiền sẽ dẫn đến cung tiền quá mức và gây ra lạm phát, gây bất ổn đến đời sống, kinh tế, xã hội Giải pháp của ông là bãi

bỏ sự độc quyền của chính phủ đối với việc phát hành tiền, tin tưởng vào một nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do, cho phép các ngân hàng tư nhân phát hành tiền tệ và kỳ vọng rằng sự cạnh tranh của các tổ chức phát hành sẽ ngăn chặn sự mất giá của tiền tệ

Mặt khác, việc hình thành một hệ thống tiền tệ hoàn toàn độc lập với chính phủ sẽ làm giảm tác dụng của các chính sách tiền tệ của nhà nước, mất hiệu lực của các chính sách tài khóa Cho nên, đây được coi là lý do tại sao chưa có quốc gia nào cho phép tự do phát hành tiền tệ Tuy nhiên, lý thuyết Nhà nước về tiền tệ và lý thuyết tiền tệ phi quốc gia không nhất thiết phải mâu thuẫn với nhau Cả hai lý thuyết này đều có mục tiêu chung là theo đuổi đến một hệ thống tiền tệ đáng tin cậy Hàm ý là, ngay cả khi không có sự bảo đảm của nhà nước, tiền mã hóa vẫn có thể hoạt động như tiền nếu nó được quản lý, giám sát để đảm bảo

độ tin cậy Vậy nên, thay vì thảo luận về việc giải thích liệu tự do phát hành tiền tệ có phù hợp với ý chí của Nhà nước hay không, điều quan trọng hơn là phải thảo luận một cách thực tế về những tác động của tiền mã hóa đối với đời sống, kinh tế, xã hội và các biện pháp mới để có thể áp dụng cho các loại tiền mã hóa phi tập trung đã được phát hành hiện nay

Lý thuyết này sẽ được sử dụng và nghiên cứu ở nội dung lý luận và đề xuất khung pháp lý

về tiền mã hóa ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt những mục tiêu đã đề ra, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 18

- Phương pháp phân tích: Trên cơ sở lý luận, khung pháp lý và thực tiễn các vấn đề liên quan đến tiền mã hóa, đề tài sử dụng phương pháp phân tích để lý giải, đánh giá nội dung của các quy định pháp luật, từ đó đưa ra kết luận định hướng hoàn thiện khung pháp

lý về tiền mã hóa ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau về vấn đề điều chỉnh tiền mã hóa

Từ đó, rút ra được bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa cho pháp luật Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp các kết quả thu được từ quá trình phân tích và so sánh, từ đó có thể đánh giá các khía cạnh pháp lý của tiền mã hóa một cách tổng quan, khái quát đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp bình luận: Đưa ra những nhận xét, tìm ra những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam và những hạn chế khi áp dụng pháp luật, từ đó làm cơ sở để đưa ra đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam

7 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Tổng quan về tiền mã hóa

Nội dung chương này sẽ khái quát chung về tiền mã hóa qua khái niệm, các đặc điểm, các chủ thể trong hệ thống tiền mã hóa, công nghệ Blockchain, những rủi ro khi sử dụng tiền mã hóa và ý nghĩa của tiền mã hóa trong nền kinh tế thời đại 4.0

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn về tiền mã hóa ở Việt Nam

Nội dung chương này sẽ tập trung phân tích hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn

về tiền mã hóa ở Việt Nam Với sự phát triển của hệ thống quy phạm pháp luật thì tiền mã hóa tại Việt Nam vẫn chưa có khuôn khổ pháp lý điều chỉnh cụ thể

Chương 3: Thực trạng pháp luật các nước về tiền mã hóa

Nội dung chương này sẽ đề cập đến thực trạng pháp luật về tiền mã hóa của một số quốc gia điển hình là Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, El Salvador, Úc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc để thấy được quan điểm của các nước đối với tiền mã hóa Qua đó có cơ sở pháp lý phù hợp giúp Việt Nam đưa ra những chính sách phù hợp

Chương 4: Một số khuyến nghị về hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tiền mã hóa

Trang 19

Nội dung chương này sẽ đưa ra một số khuyến nghị về hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tiền mã hóa từ những nghiên cứu đã đưa ra ở trên Quá trình nghiên cứu đã giúp rút ra được những bài học kinh nghiệm để đưa ra những khuyến nghị phù hợp

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả của bài nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin về những vấn đề xoay quanh tiền

mã hóa dưới góc nhìn của pháp luật Từ những phân tích các quy định về tiền mã hóa trong

hệ thống pháp luật trong và ngoài nước, cùng những vấn đề mà người dùng có thể gặp phải khi tham gia vào thị trường mới mẻ này, nhóm nghiên cứu đã đưa ra định hướng xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam Việc có được khung pháp lý phù hợp với tình hình hiện tại sẽ giúp giảm thiểu phần nào những rủi ro và khó khăn mà hoạt động này mang lại Từ đó, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống pháp luật cũng như là nền kinh tế của quốc gia

Bên cạnh đó, báo cáo nghiên cứu này còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham

khảo trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực có liên quan nhằm hiểu rõ hơn về các vấn đề về tiền mã hóa; về các vấn đề pháp lý và phát triển kinh tế

Trang 20

K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH (BÀN LUẬN) KẾT QUẢ

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TIỀN MÃ HÓA 1.1 Khái quát chung về tiền mã hóa

1.1.1 Định nghĩa tiền mã hóa

Theo khảo sát của Chainalysis được công bố vào tháng 8/2021, Việt Nam là một trong những quốc gia đang đứng đầu về chỉ số chấp nhận tiền mã hoá6, và một khảo sát khác của Finder chỉ ra rằng số người biết và đã mua tiền mã hoá của Việt Nam cũng thuộc mức cao so với các quốc gia thực hiện khảo sát7 Thế nhưng đến hiện tại vẫn còn rất nhiều người chưa phân biệt được đâu là tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hoá, vì thế dễ dẫn đến trường hợp bị lừa vì nhầm lẫn giữa các loại tiền này8

Mặc dù các loại tiền kể trên đang rất thịnh hành nhưng đa phần mọi người không biết rõ và cũng không phân biệt được các khái niệm này là do đà phát triển rất nhanh của những đồng tiền điện tử; thứ hai là việc dịch nghĩa sang tiếng Việt vẫn chưa nhất quán; thứ

ba là do nhiều thành phần lừa đảo đánh tráo khái niệm, gộp chung các loại tiền "phi truyền thống" thành "tiền ảo" làm mọi người bị nhầm lẫn; ngoài ra chính là do suy nghĩ, tư tưởng của đa số người Việt đều nhận định rằng tất cả mọi thứ ở trên mạng đều là ảo dù cho giá trị của nó là thật

1.1.1.1 Khái niệm tiền ảo (Virtual Currency)

Tiền ảo là loại tiền được tạo ra với mục đích ban đầu nhằm giải trí trực tuyến, chúng không có bất kỳ giá trị nào vì loại tiền này không được tạo ra để phục vụ trong cuộc sống thực9 Theo định nghĩa của NHTW Châu Âu thì “Đồng tiền ảo là một loại tiền kỹ thuật số

không ch ịu sự quản lý, được phát hành bởi những người phát triển phần mềm (developers)

6 Chainalysis Team (2021), “The 2021 Global Crypto Adoption Index: Worldwide Adoption Jumps Over 880% With P2P Platforms Driving Cryptocurrency Usage in Emerging Markets”, accessed 26/11/2021,

9 Rudi Santoso, Martinus Sony Erstiawan, Marya Mujayana (2018), “International Journal of Business and

Management Invention”, International Journal of Business and Management Invention

Trang 21

thường đồng thời là người kiểm soát hệ thống; được sử dụng và chấp nhận thanh toán giữa các thành viên c ủa một cộng đồng ảo nhất định”10 Theo đó, có thể nhận thấy được tiền ảo không phải là tiền pháp định nên không đảm bảo trong việc chuyển đổi sang tiền pháp định,

và phạm vi thị trường tiền ảo chỉ trong cộng đồng nhỏ, và được sử dụng cho các mục đích nhất định (ví dụ như trao đổi qua game online) Điều đó có nghĩa bản chất của tiền ảo chỉ mang đặc điểm của các loại hàng hoá trao đổi hơn là tiền tệ Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện những loại tiền ảo có chức năng quy đổi (như 1 Shopee xu trên sàn thương mại điện

tử Shopee được quy đổi thành 1VNĐ và được trừ trực tiếp vào giá trị đơn hàng khi người tiêu dùng mua hàng trên nền tảng này), nhưng có thể thấy nếu suy cho cùng thì bản chất của nó vẫn không có nhiều thay đổi do loại tiền này vẫn không nằm dưới sự quản lý của NHTW, không mang đặc tính của tiền pháp định, nó chỉ đi liền với trách nhiệm của tổ chức phát hành ra nó và phạm vi hoạt động của loại tiền này cũng chỉ giới hạn trong một cộng đồng nhỏ

1.1.1.2 Khái niệm tiền điện tử (Electronic money)

Tiền điện tử là tiền được số hoá, được lưu hành trong môi trường điện tử, phục vụ với mục đích thanh toán qua hệ thống mạng Internet

NHTW Châu Âu định nghĩa về tiền điện tử là “giá trị tiền tệ được lưu trữ trên một

thi ết bị điện tử được sử dụng phổ biến để thực hiện các giao dịch thanh toán cho các tổ

ch ức khác mà không phải là tổ chức phát hành, trong đó không nhất thiết cần sự tham gia

tr ực tiếp của các tài khoản ngân hàng trong giao dịch…”11 Theo quan điểm này thì việc thanh toán phải được chấp thuận bởi cá nhân hay tổ chức khác không phải là nhà phát hành,

ví dụ như tiền di động chỉ được chấp nhận bởi nhà mạng điện thoại phát hành ra nó, thì đó không thể xem là tiền điện tử

Còn về Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) định nghĩa tiền điện tử là “giá trị được

lưu trữ hoặc sản phẩm trả trước, trong đó thông tin về khoản tiền hoặc giá trị khả dụng

10 European Central Bank (2012), Virtual currency schemes

11 Phạm Thị Thái Hà, “Quan điểm quản lý, sử dụng Bitcoin trên thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam”, xem ngày 25/11/2021,

Trang 22

c ủa khách hàng được lưu trữ trên một thiết bị điện tử thuộc sở hữu của khách hàng”12 Định nghĩa của BIS còn khá rộng, có thể gây nhầm lẫn tiền điện tử với tiền mã hóa, tiền ảo, thậm chí là tiền điện thoại13

Định nghĩa về tiền điện tử trong Chỉ thị về Tiền điện tử của Hội đồng châu Âu (2009/110/EC) thì Tiền điện tử là “Giá trị tiền tệ thể hiện quyền đòi nợ đối với tổ chức phát

hành, mang m ột số đặc tính như được lưu trữ dưới dạng điện tử, được phát hành trên cơ

s ở đối ứng với số tiền nhận được không thấp hơn giá trị tiền điện tử phát hành và được các

t ổ chức khác không phải tổ chức phát hành chấp nhận sử dụng như một phương tiện thanh toán”14

Từ các định nghĩa trên có thể khái quát định nghĩa của tiền điện tử là tiền dùng để giao dịch thông qua một phương tiện trong không gian kỹ thuật số Và chúng có 5 đặc tính

cơ bản là (i) được lưu trữ bằng phương tiện điện tử, (ii) được thể hiện quyền đòi nợ, (iii) được đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc do đó nó ít bị biến động, (iv) được sử dụng với mục đích thanh toán, (v) và được chấp thuận kể cả không phải tổ chức phát hành Tiền điện tử hiện nay bao gồm các dạng: (i) Tiền điện tử offline, (ii) Tiền điện tử online, (iii) Tiền mặt điện tử15

1.1.1.3 Khái niệm tiền mã hoá (Cryptocurrency)

Việc định nghĩa “tiền mã hoá” gây nhiều khó khăn cho Chính phủ các quốc gia trên khắp thế giới do thuật ngữ này vẫn còn rất mới mẻ Năm 2009, khái niệm tiền mã hoá lần đầu được giới thiệu thông qua đồng Bitcoin Đến năm 2017, khi Bitcoin có sự phát triển nhanh chóng, từ đó, kéo theo sự xuất hiện và nở rộ của tiền mã hoá trên thị trường này Cùng với sự sôi động của sự xuất hiện các loại tiền mã hóa trong những năm gần đây, việc đầu tư vào các loại đồng tiền này đang hình thành xu hướng trên toàn thế giới và kể cả Việt Nam

12 Phạm Thị Thái Hà, 11

13 Nguyễn Huỳnh Phương Thảo (2018), Nghiên cứu Luật Thuế các nước liên quan đến tiền mã hóa và kinh nghiệm

cho Vi ệt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế - Luật, tr 5-6

14 Nguyễn Thị Hiền (2018), “Một số khuyến nghị hoàn thiện khung pháp lý quản lý các loại tiền mã hóa, tiền điện tử”, Tạp chí Tài chính tháng 5/2018, tr 14

15 Nguyễn Huỳnh Phương Thảo, 13, tr 16-17

Trang 23

Lý do gọi loại tiền này là tiền mã hoá bởi nó được hình thành bởi thuật toán mã hóa phức tạp, nó tương tự với tiền điện tử ở chỗ những giao dịch, mọi trao đổi đều trên không gian mạng, Internet, tuy nhiên loại tiền này không chịu sự quản lý của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào Dưới góc độ kinh tế, tiền mã hoá không có giá trị vì bản thân nó là những đoạn

mã hoá được lập trình sẵn, giá trị của nó dựa trên sự tin tưởng, mức độ phổ biến, chấp nhận của cộng đồng, nói một cách ngắn gọn thì giá trị của tiền mã hóa do cộng đồng quyết định

Vào thời kỳ đầu, các loại tiền mã hoá như Bitcoin, Altcoin (tiền mã hóa khác ngoài Bitcoin) đều được mặc định gọi là tiền mã hóa Theo định nghĩa của Luật bang New York

“Tiền tệ ảo là bất kỳ loại đơn vị số nào được sử dụng nhằm làm môi trường trao đổi hoặc

m ột hình thức lưu trữ số” Trong Bộ Luật mẫu của Mỹ cũng định nghĩa tiền mã hóa là một

“đại diện của kỹ thuật và của giá trị, theo đó nó được sử dụng như một phương tiện trao

đổi, đơn vị tài khoản, hoặc lưu trữ giá trị, đây không được xem xét như là tiền pháp định Không bao g ồm giao dịch mà giá trị được trao đổi từ tiền pháp định, tín dụng ngân hàng

ho ặc là loại đại diện kỹ thuật số mà giá trị được sử dụng cho trò chơi chứ không được thiết

k ế để sử dụng cho mục đích như tiền pháp định, thẻ ngân hàng trên thực tế vượt quá phạm

vi trò chơi”16 Qua định nghĩa này của Luật bang New York hay cả Luật mẫu của Mỹ đã gây ra không ít xôn xao tranh luận về khái niệm loại tiền này, theo đó các đánh giá của nhà làm luật chỉ bám vào cụm từ “tiền ảo” nhưng loại trừ các loại “tiền ảo” có giá trị thực tế khỏi định nghĩa

Theo định nghĩa của Hội đồng Châu Âu thì tiền mã hóa là “một đại diện số của giá

tr ị không phải do ngân hàng trung ương hay cơ quan nhà nước phát hành, cũng không gần

gi ống với đồng tiền pháp định, và không có tư cách pháp lý về đồng tiền, nhưng được chấp

nh ận bởi các cá nhân hoặc pháp nhân như là một phương tiện trao đổi hoặc cho các mục đích khác và có thể được chuyển giao, lưu trữ hoặc giao dịch điện tử”17, theo đó loại tiền này chưa thể xem là tiền tệ, nó chỉ được xem xét ở khía cạnh “trao đổi” thay vì “thanh toán”

16 Luật bang New York, Regulations of the superintendent of financial services

17 Prof Dr Robby Houben, Alexander SNYERS (2017), Cryptocurrencies and blockchain, Legal context and

implications for financial crime, money laundering and tax evasion, p 73

Trang 24

Theo IRS thì “tiền mã hóa” không được xem như tiền của chính phủ nhưng được nhìn nhận là tài sản với mục đích để tính thuế

Theo định nghĩa của NHTW Châu Âu thì lại đề cập đến thuật ngữ “tiền mã hoá”,

theo đó loại tiền này được cho là “loại tiền kỹ thuật số có khả năng kết hợp các hệ thống

thanh toán m ới với các loại tiền tệ mới mà không phải do một ngân hàng trung ương phát hành Lo ại tiền tệ kỹ thuật số được đa số tất cả mọi người biết đến nhiều nhất hiện nay là Bitcoin, nhưng các ví dụ khác bao gồm LiteCoin, Ethereum và Ripple”18

Và như nhóm đã sơ lược ở phần trên thì “tiền ảo” là loại tiền tồn tại trong nền tảng trò chơi, vì thế gắn các loại đồng Bitcoin, Altcoin với “tiền ảo” là hạ cấp giá trị đồng tiền

đó, do vậy nhóm đề xuất sử dụng thuật ngữ “tiền mã hoá” thì hợp lý hơn Tuy nhiên, tại Việt Nam khi pháp luật chưa quy định rõ loại tiền này là vật, tiền, giấy tờ có giá hay là quyền tài sản, do đó việc sử dụng thuật ngữ “tiền ảo” vẫn chưa phản ảnh được chính xác giá trị của nó về mặt kinh tế, kỹ thuật liên quan yếu tố mã hoá

Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra được tiền mã hoá “là hình thức biểu thị điện

t ử của giá trị, mà không được phát hành bởi ngân hàng trung ương (NHTW), các tổ chức tín d ụng hay các định chế tiền điện tử, và trong một vài trường hợp, có thể được sử dụng

gi ống như một phương tiện để thay thế tiền pháp định thông thường của các quốc gia”

(ECB, 2012; ECB, 2015; IMF, 2016; BIS, 2015)19

1.1.2 Phân loại tiền mã hóa

Việc phân loại tiền mã hóa sẽ giúp các cơ quan, tổ chức tiếp cận dễ dàng đến các vấn đề xoay quanh các loại tiền mã hóa, cũng như đưa ra cơ chế pháp lý phù hợp để điều chỉnh đối với các loại tiền mã hóa; đồng thời, xác định loại nào sẽ thuộc về phạm vi điều chỉnh và loại nào không thuộc về phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tiền mã hóa nếu luật chuyên biệt cho loại tiền này được đề xuất

Theo IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế), tiền mã hóa có thể phân loại dựa trên khả năng kiểm soát, và được chia làm 2 loại: tiền mã hóa tập trung (centralized virtual currency), tiền

mã hóa phi tập trung (decentralized virtual currency)

18 European Central Bank (2015), Virtual currency schemes – a further analysis, p 10

19 Trần Thị Xuân Anh và Ngô Thị Hằng (2020), “Ứng dụng của tiền mã hóa trong nền kinh tế và gợi ý chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, tr 2

Trang 25

Tiền mã hóa tập trung (centralized virtual currency): Một loại tiền mã hóa tập trung

sẽ có quản trị viên trung tâm và kho lưu trữ riêng Nhóm quản trị hoặc cá nhân quản trị này

sẽ nắm vai trò trong toàn bộ nền kinh tế ảo đó, từ việc phát hành đến các khâu xác thực, ban hành các quy định hoạt động, Ví dụ: E–gold, Second Life (Linden dollars),

Tiền mã hóa phi tập trung (decentralized virtual currency): là loại tiền được lưu chuyển bởi mã nguồn mở, dựa trên mạng lưới Blockchain, theo cấu trúc ngang hàng mà không có cơ quan quản lý hay giám sát trung tâm Khi một giao dịch được yêu cầu, yêu cầu này sẽ chuyển đi trong mạng rất nhiều máy tính Sau khi được xác nhận, thông tin sẽ bị khóa vĩnh viễn và không ai có thể sửa đổi nó So với hệ thống tập trung, hệ thống phân tán

sẽ tránh được các lỗi bảo mật tập trung, tạo ra sự minh bạch và chi phí cũng thấp hơn Ví dụ: Bitcoin, Litecoin hay Ripple

1.1.3 Đặc điểm của tiền mã hóa

Một số những đặc điểm chung của tiền mã hóa có thể kể đến như sau:

Th ứ nhất, tiền mã hóa là sản phẩm của trí tuệ sáng tạo do con người tạo ra trong nền

công nghiệp 4.0, chỉ được lưu trữ và chuyển nhượng dưới một phần mềm đã được mã hóa, gắn liền với thế giới mạng và cũng được quản lý, nắm giữ thông qua mạng Internet

Th ứ hai, tiền mã hóa không phải đồng tiền được Ngân hàng Trung ương phát hành

mà được phát hành bởi bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào đó Do đó, chúng không được Nhà nước bảo hộ, giá trị của chúng được quyết định do thị trường và những người tham gia vào thị trường trao đổi tiền mã hóa

Th ứ ba, chức năng trao đổi hoặc thanh toán của tiền mã hóa không thể được thay thế

cho tiền pháp định dù trong thực tiễn đã có nhiều trường hợp tiền mã hóa được mua bán, trao đổi, đầu tư hoặc được sử dụng là một phương tiện thanh toán trong những giao dịch điện tử Về bản chất, các loại tiền mã hóa không đáp ứng được chức năng của một phương

tiện thanh toán theo quy định ngang giá do giá trị của những đồng tiền này được những người sử dụng quyết định thông qua quá trình giao dịch chúng

Cùng với đó thì tiền mã hóa cũng có một số ưu và nhược điểm có thể kể đến như:

Ưu điểm

Trang 26

Tính công khai, minh b ạch: Do tiền mã hóa được xây dựng dựa trên nền tảng công

nghệ ngang hàng Blockchain nên nó hoạt động như một cuốn sổ cái, mọi người khi gia nhập mạng lưới này đều có thể xem được ngay khi giao dịch vừa được khởi tạo

Lo ại bỏ đơn vị trung gian: Không như phần lớn các giao dịch đều cần một bên trung

gian để đảm bảo độ an toàn và tin cậy của các giao dịch, ưu điểm của các loại tiền mã hóa

là giúp mọi người có thể giao dịch trực tiếp giữa các bên với nhau mà không cần sự tham gia của bên thứ ba nào can thiệp

Tính b ảo mật cao: Mặc dù đặc điểm của các loại tiền mã hóa là mọi người đều có

thể xem được các giao dịch trong khối Blockchain, thế nhưng các dữ liệu khi được nhập vào hệ thống Blockchain sẽ không thể sửa đổi hay xóa bỏ được, điều này đã ngăn chặn các hành vi được cho là gian lận, tạo các giao dịch giả tạo

Tính ẩn danh: Các giao dịch tiền mã hóa dù được công khai nhưng thông tin của chủ

sở hữu lại được bảo mật vì người sử dụng tiền mã hóa không cần phải kết nối với bất kỳ thông tin xác minh cá nhân nào Trừ trường hợp các bên trong giao dịch có xu hướng tự nguyện cung cấp thông tin cá nhân, tổ chức cho nhau

Nhược điểm

Thi ếu tính riêng tư: Tương ứng với việc ưu điểm là minh bạch, thì nhìn dưới góc độ

khác, các giao dịch tiền mã hóa lại là mất đi sự riêng tư khi lịch sử giao dịch có thể bị mọi người trong mạng lưới nhìn thấy

Chi phí ngày càng tăng: Chi phí khi gửi tiền của các chủ sở hữu tiền mã hóa dựa

trên tiêu chí tự nguyện, thế nhưng chi phí cho việc khai thác tiền mã hóa lại ngày càng đắt

đỏ Ngoài chi phí phải chi trả cho việc mua các thiết bị chuyên dụng cho việc khai thác thì người sử dụng còn phải chi trả tiền cho lượng điện năng khổng lồ mà hệ thống Blockchain tiêu tốn

Kh ả năng mở rộng: Hiệu suất của mạng lưới Blockchain hiện nay vẫn còn khá thấp

hơn so với các hệ thống thanh toán hiện có Trong khi Bitcoin chỉ có thể xử lý khoảng 7 giao dịch trên một giây thì mạng lưới Visa đã có thể xử lý gấp 3.000 lần con số đó

Khó s ử dụng và tiếp cận: Tiền mã hóa, công nghệ Blockchain và cách thức hoạt

động của nó là những kiến thức khá khó hiểu đối với nhiều người Hơn nữa, không có nhiều những người sẵn sàng bỏ ra chi phí cho việc nhập các thiết bị khai thác chuyên dụng khi

Trang 27

mà lợi ích của tiền mã hóa chưa thể nắm chắc được Thay vì thế, nhiều người có xu hướng

sẽ chọn các cách thức thanh toán truyền thống vì dễ tiếp cận và dễ sử dụng hơn

1.1.4 Các chủ thể trong hệ thống tiền mã hóa

Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã cho ban hành Hướng dẫn, phân loại ba chủ thể khác nhau

có thể tham gia vào hệ thống tiền mã hóa20:

Th ứ nhất, là người dùng (user) Người dùng nếu là cá nhân, tổ chức có được tiền mã

hóa để mua hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc nắm giữ để đầu tư21 Người này có thể có được tiền mã hóa thông qua một số các cách khác nhau, chẳng hạn như: kiếm được thông qua việc được trả lương bằng tiền mã hóa, giành được tiền mã hóa thông qua phần thưởng; có được thông qua hoạt động đào tiền mã hóa (mining); tự sản xuất hoặc tạo ra tiền mã hóa;

có được thông qua hoạt động mua bán, trao đổi tiền mã hóa…

Th ứ hai, là người trao đổi (exchanger) Người trao đổi là cá nhân, tổ chức tham gia

vào công việc trao đổi tiền mã hóa để lấy được tiền thật, quỹ hoặc tiền mã hóa khác Ta

thấy, các loại tiền mã hóa phi tập trung như Bitcoin đều không được phát hành bởi Ngân hàng Trung ương hoặc Chính phủ, mà chúng có thể mua được từ người trao đổi Những người trao đổi sẽ chấp nhận các loại tiền tệ thông thường để trao đổi tiền mã hóa dựa trên biến động tỷ giá hối đoái22 Sau khi trao đổi, tiền mã hóa được lưu trữ trong một ví kỹ thuật

số được liên kết với “địa chỉ tiền mã hóa của người dùng”23, tương tự như các loại thẻ hay

số tài khoản ngân hàng, được biểu thị bằng một chuỗi chữ và số phức tạp

Th ứ ba, là quản trị viên (administrator) Quản trị viên chính là người tham gia với

tư cách là cá nhân hay tổ chức phát hành (đưa vào lưu thông) một loại tiền mã hóa và có quyền thu hồi (rút khỏi lưu thông) loại tiền mã hóa đó Tuy nhiên, quản trị viên chỉ tồn tại trong hệ thống tiền mã hóa tập trung, cho nên chúng ta không cần phải thảo luận về chủ thể này trong hệ thống tiền mã hóa phi tập trung như Bitcoin, Ethereum… Vì những loại tiền

20 Fin Crimes Enf Network (2013), Application of FinCEN’s Regulations to Persons Administering, Exchanging,

or Using Virtual Currencies, United States Department of the Treasury, p 2

21 Nguyễn Thị Như Ý (2017), Tiền mã hóa BTC - thực trạng tại một số quốc gia trên thế giới và quản lý tại Việt

Nam, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh Tế Tp.HCM, Tp Hồ Chí Minh, tr 8

22 Brill Alan, and Lonnie Keene (2014), "Cryptocurrencies: The next generation of terrorist financing?" Defence

against terrorism review, 6(1), p 12

23 Brill Alan, and Lonnie Keene, 22, p 12

Trang 28

mã hóa này sau khi được phát hành sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà phát triển và nhà bảo trì mạng lưới24

1.1.5 Công nghệ Blockchain

Với sự phát triển nhanh chóng của tiền mã hóa, Blockchain đã trở thành một công nghệ thu hút rất nhiều sự chú ý Blockchain được phát minh và thiết kế bởi Satoshi Nakamoto năm 2008, và nó đã trở thành một phần cốt lõi của Bitcoin như một cuốn sổ cái ghi lại tất cả giao dịch Bằng cách vận dụng công nghệ về mạng lưới ngang hàng và hệ thống dữ liệu phi tập trung, Bitcoin được Blockchain quản lý một cách tự động Việc phát minh ra Blockchain đã làm cho Bitcoin trở thành đồng tiền mã hóa đầu tiên khi đã giải quyết được vấn đề gian lận trong tiêu dùng khi cùng một số tiền được sử dụng hai lần25

Một cách dễ hiểu, Blockchain là một loại công nghệ sử dụng các khối khác nhau, được kết nối tạo thành một chuỗi Khối ở đây là khối thông tin, chứa một lượng lớn dữ liệu

đã được số hóa và mã hóa Mỗi khối chứa thông tin cơ bản về giao dịch, chẳng hạn như

thời gian giao dịch, số tiền, người thực hiện, nội dung giao dịch và hàm băm26

Điểm đặc biệt không thể bỏ qua của mạng lưới tiền mã hóa là sổ cái Blockchain được công khai, lưu trữ và quản lý thông qua mạng người dùng Những người tham gia vào quản lý Blockchain phải chạy phần mềm trên máy tính nhằm xử lý và ghi lại các giao dịch Mỗi máy khi tham gia vào quá trình xử lý đều lưu trữ một bản sao của Blockchain Do đó, thông tin trong mỗi khối không được kiểm soát bởi một bên duy nhất, mà bởi tất cả những người tham gia Và những thay đổi đối với thông tin trong Blockchain sẽ lan truyền đến toàn bộ mạng lưới cho đến khi tất cả các bản sao được đồng bộ hóa Do cơ chế quản lý này,

hệ thống tài khoản tiền mã hóa gần như không thể bị phá hủy, giả mạo hoặc đánh cắp27 Ngoài ra, với tính phi tập trung này, rất khó để thao túng hoặc làm sai lệch dữ liệu trong

24 Peter Van Valkenburgh (2017), The Bank Secrecy Act, Cryptocurrencies, and New Tokens: What is Known and

What Remains Ambiguous, Coin Center Report, p 8

25 Phạm Hải Trà My (2019), Khung pháp lý về BTC và các loại tiền mã hóa trong pháp luật một số nước trên thế

gi ới – Kinh nghiệm cho Việt Nam, Trường Đại học Luật, Huế, tr 29

26 Lê Tiến Trung (2020), “Xây dựng mô hình kinh doanh sử dụng công nghệ Blockchain” trong Kỷ yếu hội thảo

khoa h ọc Khám phá những mô hình kinh doanh sáng tạo, Hà Nội, tr 85

27 Phạm Hải Trà My, 25, tr 28

Trang 29

Blockchain, vì mọi thông tin đều minh bạch với tất cả những người tham gia và việc truy xuất dữ liệu là rất dễ dàng28

Bên cạnh đó, ngoài đặc tính phi tập trung là mỗi giao dịch cần được xác thực nhưng quá trình xác thực không diễn ra thông qua một cơ quan quản lý đáng tin cậy như Ngân hàng Trung ương, mà thông qua một thuật toán đồng thuận để duy trì tính nhất quán của các dữ liệu trong một mạng phân tán29, thì Blockchain còn có các đặc điểm như tính bền vững, tính ẩn danh và khả năng kiểm toán30 Tính bền vững có nghĩa là không thể xóa hoặc khôi phục bất kỳ giao dịch nào khi nó được đưa vào Blockchain, tuy nhiên, các giao dịch không hợp lệ có thể được phát hiện ngay lập tức31 Tính ẩn danh có nghĩa là mỗi người dùng có thể tương tác trong Blockchain với một địa chỉ được tạo mà không để lộ danh tính thực của người dùng32 Cuối cùng, khả năng kiểm toán nghĩa là bất kỳ một giao dịch nào cũng phải tham chiếu đến giao dịch chưa được sử dụng trước đó33, do đó, các giao dịch có thể dễ dàng được xác minh và theo dõi

1.1.6 Những rủi ro khi sử dụng tiền mã hóa

Rủi ro về việc quản lý

Việc tiền mã hóa không bị chi phối hay kiểm soát bởi các cơ quan của nhà nước, giao dịch không thông qua trung gian là ngân hàng vừa là một ưu điểm nhưng trong đó cũng tiềm ẩn không ít những rủi ro nhất định Người sử dụng tiền mã hóa nếu gặp các vấn

đề như bị hack tài khoản, hư máy tính làm mất toàn bộ tiền thì sẽ phải chịu toàn bộ rủi ro, không có các chính sách bảo vệ quyền lợi của người dùng trong các trường hợp rủi ro này

Bên cạnh đó, tính ẩn danh của loại giao dịch này là một sự thuận lợi đối với tội phạm rửa tiền, tài trợ khủng bố Tiền mã hóa có thể được sử dụng nhằm che giấu, ngụy tạo nguồn

28 Melanie, S (2015), Blockchain: Blueprint for a New Economy, O'Reilly Media p 38–39

29 Z Zheng, et al (2017), “An Overview of Blockchain Technology: Architecture, Consensus, and Future Trends.”,

2017 IEEE International Congress on Big Data (BigData Congress)

30 Ertz Myriam, and Émilie Boily (2019), “The rise of the digital economy: Thoughts on blockchain technology and

cryptocurrencies for the collaborative economy.” International Journal of Innovation Studies, 3(4), p 3

31 Ertz Myriam, and Émilie Boily, 29, p 3.

32 Kosba Ahmed, et al (2016), “Hawk: The blockchain model of cryptography and privacy-preserving smart

contracts.” 2016 IEEE symposium on security and privacy (SP) IEEE, 2016

33 Nakamoto, S (2008), BTC: A peer-to-peer electronic Cash system Satoshi Nakamoto Institute, accessed

26/11/2021

[ https://nakamotoinstitute.org/BTC/ ]

Trang 30

gốc bất hợp pháp của nguồn tài chính mà các cá nhân, tổ chức có được, là một phương tiện giúp những người phạm tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật của mình Rửa tiền là một hoạt động phi pháp, tác động trực tiếp lên nền kinh tế, làm suy giảm tính ổn định của các tổ chức tài chính cũng như sự ổn định kinh tế của quốc gia nên rất cần sự quản lý sát sao nhằm hạn chế tối đa tổn thất có thể xảy ra34 Thế nhưng vì tiền mã hóa được trao đổi qua lại giữa các cá nhân, tổ chức mà không có sự can thiệp của bên thứ ba đã làm việc tiếp cận, cũng như quản lý các giao dịch bất hợp pháp trở nên khó khăn hơn, đặt ra một thách thức đối với các cơ quan có thẩm quyền trong việc nhận diện cũng như xử lý các hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố trên nền tảng tiền mã hóa

Rủi ro về mặt pháp lý

Trong tình hình nhiều nước vẫn còn chưa có những bước đi nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho loại tiền mới mẻ này, và cách tiếp cận của các quốc gia cũng rất khác nhau, việc người sử dụng không tìm hiểu rõ các thông tin cần thiết, liên quan khi giao dịch trên

phạm vi quốc tế sẽ gặp rất nhiều rắc rối về pháp lý như nghĩa vụ đóng thuế (đối với các nước quy định mức thuế cho tiền mã hóa) Nhất là khi một trong những ưu điểm tiền mã hóa là có thể truy cập và giao dịch xuyên biên giới

R ủi ro về sự biến động giá cả

Do hiện nay tiền mã hóa không được bảo đảm về giá trị cũng như không được bảo

hộ bởi chính sách tiền tệ của quốc gia nào35 nên việc biến động về giá là không tránh khỏi Giá trị của tiền mã hóa phụ thuộc phần lớn vào cung và cầu trên thị trường, chính vì thế các

sự kiện xã hội, chính trị đều có khả năng tác động làm tăng hay giảm giá trị của đồng tiền này trong một thời gian nhất định Ví dụ như vào năm 2021, ngay sau khi tỷ phú Elon Musk tuyên bố Tesla sẽ không còn chấp nhận thanh toán bằng tiền mã hóa do lượng nhiên liệu hóa thạch được dùng để khai thác loại tiền này gây ảnh hưởng tiêu cực lên môi trường thì giá trị của các đồng tiền mã hóa đã giảm nhanh chóng, tiêu biểu là đồng Bitcoin có thời

34 Blessing Mukwehwa (2019), Rethinking the regulation of virtual currency in South Africa, Faculty of Law

University of Pretoria, p.14

35 Nguyễn Minh Oanh, Nguyễn Văn Hợi (2018), Các khía cạnh pháp lý của tiền ảo: thực tiễn các nước và một số

kinh nghi ệm cho Việt Nam, Đề tài cấp Bộ, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 52

Trang 31

điểm đã giảm tới 17%36 Sự biến động của tiền mã hóa không chỉ là một điểm để các nhà đầu tư cân nhắc khi gia nhập thị trường mà còn là một thách thức trong quá trình xây dựng khung pháp lý Việc chấp nhận tiền mã hóa phải đi kèm với chính sách nhằm bảo đảm giá trị, nếu không sẽ tạo mối nguy hiểm tiềm tàng đối với nền kinh tế được đánh giá là đang trong giai đoạn phát triển của nước ta

R ủi ro trong hoạt động

Người sử dụng tiền mã hóa khi tham gia vào hoạt động khai thác sẽ phải đầu tư rất nhiều vào các thiết bị khai thác, tuy nhiên việc này cũng dẫn đến nhiều rủi ro, hệ lụy về sau như: Lợi nhuận từ việc khai thác tiền mã hóa không bù đắp được số tiền mà người khai thác

bỏ ra khi đầu tư vì thị trường tiền mã hóa luôn biến đổi làm cho giá của đồng tiền này cũng tăng lên, giảm xuống không theo quy luật thông thường nào, trong trường hợp giá trị của tiền mã hóa đang tăng thì người sử dụng sẽ có xu hướng đầu tư thêm vào công nghệ để có thể “đào tiền” nhanh hơn, thế nhưng không thể loại trừ khả năng sau khi đầu tư thì giá của

tiền mã hóa lại rớt làm người sử dụng không thu lại vốn được; Càng nhiều người tham gia khai thác tiền mã hóa làm cho việc khai thác riêng lẻ không còn hiệu quả, dẫn đến việc các nhà khai thác sẽ hợp tác với nhau, lập thành các nhóm “đào tiền”, điều này sẽ không tránh khỏi việc phân chia lợi ích không đồng đều dẫn đến mâu thuẫn

Còn trong hoạt động giao dịch tiền mã hóa cũng có một số rủi ro như sau: Rủi ro bị hack hệ thống ví hay đánh cắp khóa bí mật, và khi bị hack, người sử dụng đồng tiền mã hóa

sẽ không giống như loại tiền truyền thống, có thể báo ngân hàng hay các đơn vị quản lý để đóng băng tài khoản, người dùng tiền mã hóa sẽ không thể sử dụng tiền trong tài khoản đó được nữa; Vì tiền mã hóa chưa được thừa nhận trên diện rộng nên người dùng sẽ không thể quy đổi tiền mã hóa ra các loại tiền tệ khác; Rủi ro mất khả năng truy cập vào các tài khoản hay mất lượng tiền mã hóa mà mình có khi các sàn giao dịch phá sản

R ủi ro liên quan đến môi trường

Tiền mã hóa tồn tại trên không gian mạng và những người tham gia mạng lưới này phải khai thác thông qua máy tính Tiền mã hóa ngày càng phát triển đòi hỏi các “máy đào”

36 Trà My (2020) “Người dân Nga và Ukraine đổ xô đầu tư vào tiền điện tử” xem ngày 22/01/2022

[https://www.vietnamplus.vn/nguoi-dan-nga-va-ukraine-do-xo-dau-tu-vao-tien-dien-tu/775718.vnp]

Trang 32

phải càng tiên tiến cũng như quá trình “đào” cũng ngốn nhiều năng lượng hơn để có thể xử

lý càng nhiều thông tin và đem đến càng nhiều tiền cho những người sử dụng

Nếu như trước đây, chỉ với các máy tính cá nhân tầm trung chúng ta cũng có thể khai thác tiền mã hóa thì hiện nay với sự phức tạp của các thuật toán, việc khai thác tiền

mã hóa đòi hỏi phải sử dụng đến phần cứng riêng biệt gọi là vi mạch tích hợp chuyên dụng (Application Specific Integrated Circuit – ASIC) Các máy khai thác này có kích thước lớn, lượng điện cần thiết để các máy tính này hoạt động là rất lớn Điều này đồng nghĩa rằng khi khai thác tiền mã hóa thì chúng ta cũng đang đồng thời sẽ thải ra môi trường thiên nhiên một lượng Carbon dioxide (CO2) khổng lồ Chỉ tính riêng năm 2017, lượng CO2 do hoạt động khai thác Bitcoin thải ra đã đạt 69 triệu tấn37 Một giao dịch khai thác tiền mã hóa có thể tiêu tốn lượng năng lượng tương đương với các nhu cầu sử dụng điện của một hộ gia đình trong một tuần, thực tế thì một ngày số giao dịch blockchain được thực hiện có thể lên đến con số 300.000 Chính vì nhu cầu năng lượng cao đó mà việc khai thác tiền mã hóa chỉ

có thể sử dụng nguồn năng lượng nhiên liệu hóa thạch, nguồn năng lượng từ thiên nhiên như mặt trời, sức gió đã không thể nào đáp ứng được tốt nhu cầu khai thác này Mà như chúng ta đã biết thì nguồn năng lượng nhiên liệu hóa thạch vốn có hại cho không khí và nước, cũng như việc tạo ra lượng lớn khí thải nhà kính, nguyên nhân chính gây ra sự biến đổi khí hậu toàn cầu

Theo một nghiên cứu về hiệu quả sử dụng năng lượng của các máy tính được dùng

để khai thác Bitcoin của một nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Hawaii Manoa, nếu Bitcoin được pháp luật các nước chấp nhận thì có khả năng nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm 2 độ C tối thiểu trong vòng 22 năm, nếu khai thác ngày càng tăng thì có thể rút ngắn thời gian đó xuống còn 16 năm38

Thế nên nếu không tìm được giải pháp thay thế (về nguồn năng lượng được sử dụng

để khai thác tiền mã hóa và cách thức khai thác tiền mã hóa) thì hoạt động khai thác này vẫn sẽ gây sức ép lên môi trường trong thời gian tới

37 Egiyi, Modesta Amaka Ofoegbu, Grace Nyereugwu (2020), “Cryptocurrency and climate change: An overview”, International Journal of Mechanical Engineering and Technology, p 16

38 Egiyi, Modesta Amaka Ofoegbu, Grace Nyereugwu 37, p 20

Trang 33

1.1.7 Ý nghĩa của tiền mã hóa trong nền kinh tế thời đại 4.0

Chúng ta đều biết, cùng với sự phát triển của xã hội cho đến hiện nay đã từng bước

và trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp Bước sang cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

4, con người đã chứng kiến vô số những bước tiến mới đáng kinh ngạc như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), phương tiện không người lái, Cùng với đó, Bitcoin và công nghệ Blockchain cũng nằm trong số những sự đổi mới công nghệ khác mang vai trò rất quan trọng và được xem như sự phát triển đỉnh cao trong phạm vi toàn cầu Đây được xem

là một sản phẩm có khả năng hoàn thiện và khắc phục những thiếu sót của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này Có một vài lý do để chứng minh cho nhận định này

Th ứ nhất, các loại tiền mã hóa được thực hiện trên nền tảng Blockchain cho thấy ý

nghĩa về tính minh bạch, rõ ràng, công bằng cho tất cả những ai sử dụng nó Bởi lẽ, các giao dịch diễn ra trong hệ thống đều được công khai cho tất cả các máy tính được sử dụng cho việc đào coin Một khi các máy chủ chấp nhận giao dịch, dữ liệu sẽ tự động được đồng

bộ và được khóa lại, lưu trữ và liên kết như các chuỗi khối không thể tách rời, mà không ai

có thể sửa đổi Khác với đồng tiền xây dựng trên nền tảng Blockchain, các giao dịch truyền thống được lưu trữ bởi chỉ một trung tâm nhất định, việc thay đổi thông tin là hoàn toàn có thể xảy ra, liệu có ai dám chắc rằng, việc quản lý tại các cơ quan này là hoàn toàn minh bạch, trung thực cũng như không có sự tác động nào khác có thể xâm nhập

Th ứ hai, các nền tảng tiền mã hóa có thể truy cập và giao dịch xuyên biên giới, giúp

người sử dụng giảm được các chi phí khi giao dịch như khi sử dụng các phương tiện thanh toán truyền thống Ví dụ như khi sử dụng PayPal (dịch vụ trung gian chuyển tiền quốc tế thông qua Internet) thì luôn có một khoản phí giao dịch từ 3.9% đến 4,9% tùy theo số tiền thanh toán hàng tháng39, khoản phí này để chi trả cho các công ty phát hành thẻ tín dụng và chính bản thân công ty PayPal Nhưng như đã nói, các giao dịch tiền mã hóa không cần sự can thiệp của các bên trung gian, chính vì thế chi phí giao dịch tiền mã hóa thường không đáng kể, cố định trong khoảng từ 0,04 USD đến 0,07 USD40

39 “Thỏa thuận nhận tiền và chuyển tiền tự động PayPal”, xem ngày 22/01/2022

[https://www.paypal.com/vn/webapps/mpp/ua/recpymt-full?locale.x=vi_VN]

40 Nghiêm Thị Thùy Trang (2018), Nghiên cứu về đồng tiền ảo Bitcoin và các khuyến nghị quản lý tiền ảo tại Việt

Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Ngoại thương, tr 29

Trang 34

Th ứ ba, để có thể phát triển một nền kinh tế mới tiên tiến hơn, việc công nhận tiền

mã hóa và công nghệ Blockchain là hoàn toàn cần thiết Tiền mã hóa hoàn toàn có thể được đưa vào các lĩnh vực hay mục đích khác nhau như: tiền tệ, hợp đồng, sự chuyển và nhận tiền tệ như Bitcoin thông qua các hệ thống thanh toán điện tử là một bước tiến vô cùng to lớn bởi các đặc tính mà không loại giao dịch truyền thống nào có thể thay thế Tiền mã hóa

và Blockchain vượt trội bởi sự nhanh chóng, tiện lợi của nó, cùng với lợi ích về chi phí khi

số tiền phải trả cho các giao dịch gần như bằng 0 và không cần thiết phải qua bất cứ trung gian nào là điều mà chúng ta đều có thể nhận thấy được

Th ứ tư, tiền mã hóa và Blockchain còn thuận tiện ở chỗ có thể giải quyết các vấn đề

an toàn trong việc giao dịch hay truy vết Để có thể hack được hệ thống điều hành này là điều gần như không thể, bởi thông tin được cung cấp đến từng máy chủ tham gia giao dịch, chỉ khi có thể điều khiển được quá nửa số máy tính sử dụng để đào coin trên thế giới này, thì mới có cơ hội xâm nhập và bẻ khóa dãy mã của nhà sáng lập nó tạo ra, và trên thực tế,

số máy chủ là một con số khổng lồ Do vậy, muốn đánh sập hệ thống này là không thể Khác với loại tiền giấy thông thường, việc “vận chuyển” bitcoin dễ dàng hơn rất nhiều khi muốn chuyển từ nơi này sang nơi khác, tiền mã hóa được phát hành bởi công nghệ Blockchain không thể bị cướp khi đang được “vận chuyển”

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể nói, tiền mã hóa là một điểm sáng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 do

có nhiều đặc điểm ưu việt đầy hứa hẹn cũng như tác động nhiều đến nền kinh tế Tuy nhiên, những đặc tính nổi trội của tiền mã hóa cũng là một trong những mối lo ngại vô cùng lớn của các quốc gia trong việc có hay không thừa nhận nó như một phương thức thanh toán hợp pháp bên cạnh tiền tệ quốc gia Do đó, chương đầu tiên của đề tài đã đưa ra góc nhìn tổng quan về tiền mã hóa, để từ đó tạo nên cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo Nội dung

của chương này nghiên cứu, phân tích sâu về các khái niệm, phân loại, đặc điểm, và ý nghĩa… của tiền mã hóa Bên cạnh đó, việc phân biệt tiền mã hóa với các loại tiền kỹ thuật

số khác cũng được đánh giá một cách kỹ lưỡng trong chương này để góp phần nhận diện ranh giới giữa tiền mã hóa với các đối tượng khác, từ đó có thể giúp các cơ quan quản lý của Nhà nước có thể khoanh vùng phạm vi của tiền mã hóa cần quản lý, hay giám sát và điều chỉnh Ngoài ra, các ưu điểm và nhược điểm, rủi ro của tiền mã hóa cũng được xem

Trang 35

xét một cách toàn diện để có thể đưa ra những đánh giá khách quan cho việc có nên công nhận hay không công nhận tiền mã hóa sau này Và kết quả của nhóm nghiên cứu được trình bày ở Chương 1 sẽ là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu các chương sau và đồng thời góp phần giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra của đề tài một cách khoa học và hợp lý

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ TIỀN MÃ

HÓA Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng quy định pháp luật về tiền mã hóa ở Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến tiền mã hóa, và những quy định còn khá rời rạc, nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Để dễ dàng có cái nhìn tổng quan về quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến tiền mã hóa, nhóm sẽ nghiên cứu trên các khía cạnh pháp lý sau

2.1.1 Dưới góc độ phương diện tài sản

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, tiền mã hóa không phải là tài sản

Điều 105 BLDS 2015 quy định tài sản theo hướng là một quy phạm định nghĩa, “Tài

s ản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.”

Vật được hiểu là đối tượng hữu hình, sự hiện diện của nó là một phần của không gian, và con người có thể biết được thông qua các giác quan tiếp xúc như cầm, nắm, nhìn,

sờ chúng Vật là một phần của thế giới vật chất, tồn tại ở một trong ba trạng thái rắn, lỏng hoặc khí và con người có thể chiếm hữu, sử dụng Tiền mã hóa không được xem là vật vì

nó chỉ tồn tại ở trong dữ liệu máy tính và nó không có thật, con người chỉ có thể nắm giữ

và quản lý dữ liệu khi có hệ thống máy chủ

Tiền là một loại tài sản đặc biệt, có chức năng trao đổi ngang giá với các loại tài sản khác, được sử dụng như một phương tiện thanh toán đa năng và là công cụ định giá các loại tài sản khác Loại tiền này được phát hành độc quyền thông qua Ngân hàng Nhà nước và được hiểu là Việt Nam Đồng Giá trị của tiền được thể hiện bằng mệnh giá trên chính đồng tiền đó Tiền có giá trị sử dụng ổn định và được sử dụng rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Ngoài chức năng trao đổi, tiền còn có chức năng dự trữ và thanh toán trên thị trường Như vậy, tiền mã hóa không thỏa mãn được các điều kiện là tiền Việt Nam41

Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy

tờ có giá với người sở hữu loại tài sản này trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và

41 Lê Xuân Ninh (2017), Tìm hi ểu quy định của BLDS 2015 về tài sản, Trang thông tin điện tử Sở tư pháp tỉnh

Quảng Bình, xem ngày 09/01/2022,

[https://stp.quangbinh.gov.vn/3cms/tim-hieu-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-(blds)-2015-ve-tai-san.htm]

Trang 37

các điều kiện khác42 Trên giấy tờ có giá phải xác định chủ thể phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch43 Như vậy, tiền mã hóa không phải là giấy tờ có giá tại Việt Nam

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác44 Có thể thấy, tiền

mã hóa cũng tương tự như quyền tài sản với đặc điểm vô hình vì nó tồn tại dưới các dãy

mã hóa trên mạng máy tính nên không thể thực hiện quyền chiếm hữu như tài sản thông thường, hơn nữa tiền mã hóa còn có thể trị giá được bằng tiền và chuyển giao trong các giao dịch dân sự Vì vậy, quyền đối với tiền mã hóa có thể được xem như là quyền tài sản

Tuy nhiên, hiện nay Nhà nước chưa có văn bản nào thừa nhận tiền mã hóa là tài sản

và điều này dẫn đến không được bảo vệ bởi các quy định đối với tài sản

2.1.2 Dưới góc độ phương tiện thanh toán

Tiền mã hóa không phải là một loại tiền và không phải là phương tiện thanh toán

h ợp pháp tại Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ phát hành tiền giấy và tiền kim loại được quy

định rõ tại khoản 2 Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 “Tiền giấy, tiền kim loại

do Ngân hàng Nhà nước phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước

C ộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Và theo quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số

101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định

số 80/2016/NĐ-CP, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định

của Ngân hàng Nhà nước Đồng thời, tại khoản 7 Điều 4 Nghị định này cũng quy định

“Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không thuộc quy định tại khoản 6 Điều này.” Vậy, việc sử dụng tiền mã hóa làm phương tiện thanh toán là

42 Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010

43 Điều 1 Nghị định số 11/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước

44 Điều 115 BLDS 2015

Trang 38

bất hợp pháp tại Việt Nam vì tiền mã hóa không phải là séc, lệnh chi, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng hay bất cứ phương tiện thanh toán nào khác được quy định trong Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010

Ngày 28/12/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khẳng định các loại tiền mã hóa không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam45 Ngày 21/7/2017 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã gửi công văn số 5747/NHNN-PC tới văn phòng chính phủ để trả lời về vấn để tiến mã hóa: “Tiền mã hóa nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng không

ph ải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp theo quy định của pháp

lu ật Việt Nam Việc phát hành, cung ứng và sử dụng tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng (phương tiện thanh toán không hợp pháp) làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán là hành vi b ị cấm Chế tài xử lý hành vi này đã được quy định tại Nghị định 96/2014/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng và BLHS 2015 (đã sửa đổi, bổ sung) Ngoài ra, về việc đầu tư vào tiền ảo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo nhiều lần việc đầu tư này tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho đầu tư.”

Ti ền mã hóa không phải một trong các loại ngoại hối theo quy định pháp luật Việt Nam

Ngoại hối bao gồm: Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ); Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác; Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại

tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh

thổ Việt Nam; Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc

45 “Việt Nam: Chính phủ “mạnh tay với tiền ảo”, BBC News, xem ngày 09/01/2022,

Trang 39

tế46 Như vậy, tiền mã hóa không thuộc vào danh mục ngoại hối và không được sử dụng để giao dịch trong giao dịch ngoại hối tại Việt Nam

2.1.3 Dưới góc độ giá trị pháp lý của các giao dịch tiền mã hóa

Nhìn chung, các giao dịch tiền mã hóa vẫn được xem như một giao dịch dân sự, nên phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự được quy định tại BLDS

2015 Theo đó, tại khoản 1 Điều 117 của Bộ luật quy định giao dịch dân sự nói chung khi xác lập phải đáp ứng ba điều kiện bắt buộc là: chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự đã được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Ngoài ra, một số giao dịch dân sự nhất định còn phải đáp ứng được điều kiện liên quan đến hình thức xác lập giao dịch tại khoản

2 Điều 117 của Bộ luật này Tương tự, điều kiện có hiệu lực của giao dịch tiền mã hóa cũng phải xét trên các khía cạnh trên, cụ thể như sau:

V ề điều kiện liên quan đến năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao dịch:

Không như các giao dịch dân sự khác, do tính ẩn danh đặc trưng của mình nên các giao dịch tiền mã hóa rất khó để xác định chủ thể tham gia giao dịch Mặc dù việc xác lập giao dịch tiền mã hóa đòi hỏi chủ thể phải có trình độ chuyên môn về công nghệ thông tin

và tài chính, nhưng trên thực tế, không thiếu những trường hợp các cá nhân không có năng lực hành vi dân sự phù hợp vẫn có thể thực hiện giao dịch Còn về năng lực pháp luật dân

sự, do BLDS và các luật khác có liên quan đều không quy định cấm xác lập các giao dịch liên quan đến tiền mã hóa nên các chủ thể tham gia giao dịch vẫn đáp ứng được điều kiện này

Về điều kiện liên quan đến mục đích và nội dung của giao dịch liên quan đến tiền

mã hóa:

Điều cấm của luật theo quy định tại Điều 123 BLDS 2015 là “những quy định của

lu ật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” Bởi vì trong BLDS 2015

không quy định cấm xác lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền mã hóa nên nội

46 Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005

Trang 40

dung của giao dịch tiền mã hóa không bị coi là vi phạm điều cấm của pháp luật Còn về mục đích khi thực hiện giao dịch thì rất khó để xác định Thực tế có những chủ thể thực hiện giao dịch tiền mã hóa mà không vi phạm điều cấm của luật cũng không trái đạo đức

xã hội, nhưng cũng không ít cá nhân lợi dụng tính ẩn danh và việc xác lập giao dịch trên môi trường kỹ thuật số để đạt các mục đích bất hợp pháp như rửa tiền, tài trợ khủng bố,…

V ề sự tự nguyện của chủ thể khi thực hiện giao dịch:

Các chủ thể khi giao dịch tiền mã hóa đều ẩn danh, nghĩa là các chủ thể đó sẽ không biết người đang giao dịch với mình là ai, cũng như để thực hiện được một giao dịch tiền

mã hóa cũng đòi hỏi các chủ thể phải có trình độ chuyên môn nhất định, có sự am hiểu các thao tác liên quan khi thực hiện giao dịch, nếu khi xác lập giao dịch mà xuất hiện sự nhầm lẫn về kỹ thuật và thao tác thì giao dịch đó sẽ không thể thực hiện thành công, chính vì thế hầu như không thể xuất hiện tình huống các chủ thể thực hiện giao dịch trong tình trạng không tự nguyện

V ề điều kiện liên quan đến hình thức giao dịch tiền mã hóa:

Do tính chất đặc thù, tiền mã hóa chỉ tồn tại trên hệ thống mạng lưới Internet, nên các giao dịch liên quan đến đồng tiền này cũng được xác lập và thực hiện thông qua hệ thống máy tính dưới dạng dữ liệu thông tin điện tử BLDS 2015 chỉ yêu cầu các trường hợp được luật quy định thì giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký47 Nhưng do hiện tại chưa có văn bản pháp luật nào yêu cầu hình thức của giao dịch tiền mã hóa nên việc tiền mã hóa được giao dịch thông qua phương tiện điện

tử là không vi phạm về hình thức của giao dịch dân sự

Từ những phân tích trên, có thể thấy, giao dịch tiền mã hóa khi nhìn nhận dưới góc

độ là một giao dịch dân sự thì trong nhiều trường hợp không vi phạm các quy định của BLDS 2015, nhưng tính ẩn danh của loại giao dịch này lại là một vấn đề khó đối với các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm soát tính hợp pháp của chúng

2.1.4 Dưới góc độ thuế

Quy định của Luật thuế Thu nhập cá nhân năm 2007, được sửa đổi, bổ sung năm

2012 (sau đây gọi là Luật Thuế TNCN)

47 Khoản 2 Điều 119 BLDS 2015

Ngày đăng: 10/12/2022, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w