1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP đề tài cập nhật các hiện trạng, vấn đề năng suất lao động của việt nam

27 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập thảo luận môn tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp: Cập nhật các hiện trạng, vấn đề năng suất lao động của Việt Nam
Tác giả Nhóm Thành Viên: Trần Thị Trâm Anh, Hoàng Thị Thùy Dung, Hoàng Xuân Đạt, Hoàng Thị Khánh Linh, Nguyễn Bảo Phúc
Người hướng dẫn Phạm Thị Minh Lan, Giảng viên
Trường học Học viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài tập thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 481,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng suất của các nhân tố tổng hợp TFP- Total factor productivity là chỉ tiêuphản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động,nhờ vào tác động của các nhân

Trang 1

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP

Giảng viên: Phạm Thị Minh Lan

Đề tài: Cập nhật các hiện trạng, vấn đề năng suất lao động của

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của năng suất lao động 5

1.1 Các khái niệm cơ bản 5

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 6

Chương 2: Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam 7

2.1 Năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế 7

2.2 Năng suất lao động theo ngành kinh tế 9

2.3 Năng suất lao động theo khu vực kinh tế 14

2.4 Đánh giá nguyên nhân của thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam 17

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam 20

3.1 Nhóm giải pháp cho khu vực doanh nghiệp 20

3.2 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách 21

3.3 Nhóm giải pháp chung cho nền kinh tế 22

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

I Giới thiệu vấn đề

Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, mở ra nhiều cơ hội cũng nhưthách thức lớn đối với nền kinh tế Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi quá trìnhchuyển đổi sâu rộng trong từng hướng đi nhằm phát triển kinh tế bền vững, hiệnđại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Nền kinh tế nước nhà đang từng bướcthể hiện sức trỗi dậy và khát khao vươn xa hơn trên bảng chỉ số tăng trưởng củakhu vực

Giai đoạn 2016-2020, kinh tế Việt Nam đạt được những bước phát triển quantrọng, gây tiếng vang trên thế giới Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nềnkinh tế mới nổi thành công nhất

Đến năm 2020, Việt Nam vươn lên đứng thứ 4 trong ASEAN về quy mô GDP.Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu tính theo sức mua tương đương,nền kinh tế Việt Nam đã vượt 1.000 tỷ USD Vượt qua những khó khăn, tháchthức, đặc biệt là dịch Covid-19, kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020 đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấnnổi bật

Tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2016 - 2019 (4 năm đầu của kế hoạch

5 năm) đạt trung bình 6,8%, cao hơn hẳn mức trung bình của 5 năm 2011 - 2015(5,91%) Năm 2020, tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 2,91% do ảnh hưởngcủa dịch Covid-19 Tuy nhiên, Việt Nam là một trong số ít quốc gia đạt mức tăngtrưởng dương, thuộc hàng cao nhất thế giới

Theo dự thảo báo cáo chính trị dự kiến trình Đại hội Đảng lần thứ XIII, năngsuất lao động giai đoạn 2016 - 2020 được cải thiện rõ nét Đến năm 2020 năng suấtlao động tăng gần 1,5 lần so với năm 2015, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 -

Trang 4

Mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, bình quângiai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 45,21%, vượt mục tiêu đặt ra (30 - 35%) Đáng chú

ý, trong giai đoạn 2016 - 2019, khi chưa chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, mứcđóng góp của TFP đạt tới gần 46%, cao gấp rưỡi giai đoạn trước

Năng suất của các nhân tố tổng hợp TFP- Total factor productivity là chỉ tiêuphản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động,nhờ vào tác động của các nhân tố đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiếnquản lí, nâng cao trình độ lao động…

Trong đó hiệu quả sử dụng lao động được ám chỉ thông qua thuật ngữ “năngsuất lao động” Năng suất lao động là chỉ tiêu liên quan đến yếu tố nguồn nhân lực

và khoa học công nghệ, tức là yếu tố con người và kỹ thuật trong quá trình sảnxuất

“Năng suất lao động” luôn là đề tài quan trọng cần được lựa chọn đánh giá vànghiên cứu nó là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh tình hình phát triển

và mức độ tăng trưởng của quốc gia qua các giai đoạn

II Tầm quan trọng của nâng cao năng suất lao động

Năng suất lao động là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và sựtồn tại lâu dài của một doanh nghiệp, là cơ sở để nâng cao thu nhập, tạo môi trường

và điều kiện làm việc tốt cho người lao động Tăng năng suất lao động là nâng caođược chất lượng cuộc sống và đảm bảo một xã hội tốt đẹp hơn Ở cấp độ quốc gia,trong điều kiện hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt hiện nay, năng suất lao động

xã hội là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, của cả nền kinh tế Vai trò của năng suất lao động càng được khẳng địnhkhi nền kinh tế thế giới đi vào khủng hoảng, nhiều nước phát triển đã định hướngcách thức phục hồi nền kinh tế nhanh nhất là thông qua phát triển công nghệ và cảitiến năng suất lao động

Tổ chức lao động quốc tế ILO-International Labour Organization tại Việt Namcho rằng có ít nhất 4 lý do tăng năng suất lao động là quan trọng đối với nước tatrong thời đại mới:

Trang 5

 Thứ nhất, nó thúc đẩy nền kinh tế

 Thứ hai, năng suất lao động ảnh hưởng đến tất cả mọi người

 Thứ ba, thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

 Thứ tư, dân số già trong tương lai và hội nhập kinh tế cần được xem xét

=> Vì vậy, có thể nói nâng cao Năng suất lao động quyết định một nền kinh tế

có đang và sẽ phát triển bền vững hay không

III Cấu trúc tiểu luận

Tiểu luận gồm 3 chương :

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của năng suất lao động

Chương 2: Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động Việt Nam

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của năng suất lao động

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm năng suất lao động

Theo cách tiếp cận của giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực: “Năng suất laođộng được hiểu là hiểu quả hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thờigian.”

Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong mộtđơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vịsản phẩm

Theo C.Mác, năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích.Theo cách tiếp cận của tổ chức lao động quốc tế ILO:

“Năng suất lao động là một chỉ số kinh tế quan trọng có liên quan chặt chẽ vớităng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh và mức sống trong một nền kinh tế Năngsuất lao động thể hiện tổng khối lượng sản lượng (đo lường về Tổng sản phẩm quốcnội, GDP) được sản xuất trên một đơn vị lao động (đo lường về số lượng người cóviệc làm hoặc số giờ làm việc) trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ số nàycho phép người sử dụng dữ liệu đánh giá mức đầu vào GDP so với lao động và tốc

độ tăng trưởng theo thời gian, do đó cung cấp thông tin chung về hiệu quả và chấtlượng vốn nhân lực trong quá trình sản xuất cho một bối cảnh kinh tế và xã hộinhất định, bao gồm các đầu vào bổ sung và đổi mới khác được sử dụng trong sảnxuất.”

Từ các khái niệm trên, công thức chung để tính năng suất lao động được thànhlập như sau:

W=Q/T hoặc t=T/Q

Trong đó:

W: năng suất lao động

Q: Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra

Trang 7

T: Tổng khối lượng thời gian lao động hao phí

t: lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Trang 8

1.1.2 Tăng năng suất lao động

Tăng năng suất lao động là: “Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất laođộng, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thayđổi làm rút ngắn thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cholượng lao động ít hơn mà lại sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”

Ý nghĩa của tăng năng suất lao động:

- Là con đường tăng tổng sản phẩm xã hội không có giới hạn, con đường làmgiàu cho mỗi quốc gia và từng thành viên trong xã hội

- Tạo cơ hội giảm bớt thời gian hao phí lao động vào quá trình sản xuất vậtchất, làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, tạo cơ hội cho con ngườiphát triển toàn diện

- Là cơ sở vật chất cho sự tiến bộ xã hội bao gồm tích lũy tái sản xuất và tăngcường quỹ tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu của xã hội

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động

Dựa vào nội dung và bản chất của năng suất lao động, các nhân tố ảnh hưởngđến năng suất lao động được chia thành 3 nhóm cơ bản:

- Nhân tố vật chất kỹ thuật được gắn chặt với trình độ phát triển của kỹ thuật

và công nghệ, hoàn thiện công cụ và tư liệu lao động

- Nhân tố tổ chức sản xuất, tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, bao gồm yếu

tố kinh tế xã hội gắn liền với cơ cấu lao động, trình độ lành nghề, điều kiện laođộng, chế độ sở hữu, cường độ lao động, hiệu quả kích thích lao động và sự quantâm tới kết quả sản xuất cuối cùng, tức là tất cả liên quan đến con người và quan hệcon người với lao động

- Các nhân tố gắn liền với điều kiện tự nhiên

Trang 9

Chương 2: Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

2.1 Năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế

Những năm qua, năng suất lao động Việt Nam liên tục gia tăng cả về giá trị vàtốc độ, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Bình quân giai đoạn 2016 – 2020, năng suất lao động Việt Nam tăng5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%).Mặc dù có mức tăng trưởng năng suất lao động cao, năng suất lao động củaViệt Nam năm 2020, theo ước tính của ILO, vẫn thấp hơn 7 lần so với Malaysia, 4lần so với Trung Quốc, 3 lần so với Thái Lan, 2 lần so với Philippines và 26 lần sovới Singapore Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cũng cho thấy,năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với Malaysia 40năm và Thái Lan 10 năm

Trang 10

Theo báo cáo thường niên của ILO năm 2019 năng suất lao động nước ta tínhtheo chỉ số giá tiêu dùng PPP 2011 là 13.817$, trong khi đó Nhật Bản ở con số77.490$ gấp 5,6 lần, Hàn Quốc gấp 5,8 lần và Trung Quốc gấp 2,1 lần.

Việt Nam có xuất phát điểm thấp nên bị tụt lại phía sau trên bản đồ kinh tếChâu lục Tuy những năm gần đây năng suất lao động nước ta đã có sự tăng trưởng

rõ rệt nhưng nhìn chung khoảng cách còn quá xa so với các nền kinh tế lớn Là mộtnước đi sau, chúng ta có nhiều cơ hội hơn để học hỏi cũng như khắc phục nhữngnhược điểm của các nền kinh tế lớn Tuy nhiên, việc đuổi kịp các nước đồng thờiphát triển một cách bền vững trong từng bước đi, độc lập trên con đường của riêngmình cũng là thách thức lớn

So sánh chỉ số này với nước bạn Lào có cùng xuất phát điểm, chúng ta đang ở

vị trí thấp hơn (thấp hơn 1070$) Rõ ràng, chúng ta cần cố gắng hơn nữa trong tiếntrình này để không bị bỏ lại phía sau

Trang 11

2.2 Năng suất lao động theo ngành kinh tế

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm

tỷ trọng thấp nhất là 14,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,72%; khuvực dịch vụ cao nhất chiếm 41,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm9,8% (Cơ cấu tương ứng của năm 2019 là: 13,96%; 34,49%; 41,64%; 9,91%)

Trang 12

Bảng 1- Nguồn: Tổng cục thống kê

Tình hình tăng trưởng của các ngành kinh tế qua các năm thể hiện mức tăngcao hơn ở 2 ngành là dịch vụ, công nghiệp và xây dựng (trung bình từ 7 - 9%) Cábiệt năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tác động xấu đến nền kinh tếchung toàn cầu, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh Tuy vậy ở ngành nông, lâm, thủysản tốc độ tăng trưởng vẫn tăng, 2 ngành còn lại tuy giảm nhưng vẫn ở con sốdương là một kết quả đáng ghi nhận trước tình hình khó khăn hiện tại

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý IV/2020 ước tính 54 triệu người.Trong đó, tính chung cả năm 2020, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,4triệu người, bao gồm 17,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp

và thủy sản, giảm 7,2% so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,5triệu người, tăng 0,3%; khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, tăng 0,1%

12

Trang 13

Số liệu trên cho thấy lao động phân bố tương đối đồng đều ở cả 3 ngành Lớnnhất là dịch vụ (19,4tr/lđ), tiếp đến là nông, lâm, thủy sản (17,5tr/lđ) với mức chênhlệch không cao (1,9tr/lđ), thấp nhất là công nghiệp và xây dựng (16,5tr/lđ) thấp hơn

so với nông, lâm, thủy sản (1tr/lđ) Xu hướng chuyển dịch tăng lao động các ngànhcông nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm lao động các ngành nông, lâm, thủy sản,tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn thấp và chưa bền vững

a Ngành nông, lâm, thủy sản

Mặc dù khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có tốc độ tăng trưởng bìnhquân đều nhưng năng suất lao động vẫn thuộc nhóm thấp nhất châu Á và có mứcNSLĐ thấp nhất trong các khu vực kinh tế, đến năm 2018 theo giá hiện hành đạt39,8 triệu VNĐ/lao động, chỉ bằng 38,9% NSLĐ của toàn nền kinh tế, bằng 30,4%NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng, bằng 33,7% khu vực dịch vụ Trongcác nước ASEAN, NSLĐ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của Malaysia caogấp 11,9 lần; Indonesia cao gấp 2,4 lần; Thái Lan cao gấp 2,1 lần và Philippine caogấp 1,8 lần mức NSLĐ của Việt Nam Nguyên nhân chủ yếu khiến năng suất laođộng của ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thuộc nhóm thấp nhất châu Á là do

Trang 14

nông dân thấp, thể trạng người nông dân còn thấp và yếu, lao động trực tiếp trênđồng ruộng chủ yếu là người có tuổi và trẻ nhỏ.

b Ngành công nghiệp

Công nghiệp có tốc độ tăng trưởng qua các năm khá cao, tuy nhiên có xuhướng chững lại Đánh giá về thực trạng công nghiệp Việt Nam có nhiều điểm tắcnghẽn lớn khiến cho tốc độ tăng trưởng chậm lại và chưa thực sự bền vững

Thứ nhất, tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tàinguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và côngnghệ, lao động có kỹ năng

Thứ hai, một số ngành công nghiệp chủ đạo chưa được tổ chức theo mô hìnhchuỗi giá trị, đặc biệt là các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu Việt Namchỉ tham gia được ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp,không chủ động được nguồn cung cho sản xuất, đặc biệt là đối với

Thứ ba, đầu tư trong công nghiệp chưa đi vào chiều sâu, việc thu hút và tậndụng nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) còn nhiều hạn chế, đặc biệt làviệc tiếp nhận chuyển giao công nghệ; các doanh nghiệp công nghiệp nội địa quy

mô nhỏ, năng lực cạnh tranh nhìn chung còn thấp; phân bố không gian của cácngành công nghiệp chưa hiệu quả, vấn đề ô nhiễm môi trường…

c Ngành dịch vụ

Năm 2020, lao động đang làm việc trong khu vực dịch vụ là 19,4 triệu người,tăng gần 0,1% Chuyển dịch lao động tiếp tục theo xu hướng từ khu vực nông, lâmnghiệp và thủy sản sang khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ với tỷtrọng lao động tương ứng trong các khu vực năm 2020 là: 32,8%; 30,9%; 36,3%(năm 2019 tương ứng là 34,5%; 30,1% và 35,4%) Như vậy, lao động trong khuvực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khu vực của nền kinh tế và có xuhướng tăng Tuy vậy, thực tế, nguồn nhân lực dịch vụ còn bất cập cả về chất lượng

và số lượng

Theo dự báo, đến năm 2020, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp là 1triệu nhân lực công nghệ thông tin (CNTT) Tuy nhiên, hiện mỗi năm có khoảng

14

Trang 15

50.000 sinh viên CNTT tốt nghiệp Mặc dù nhu cầu nguồn nhân lực CNTT lớn nhưvậy nhưng theo ông Phí Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Tin học TP.HCM - HCA, hiệnnay, các chương trình đào tạo ngành CNTT trong nước được cho là chưa đáp ứngđược nhu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt là trong việc đào tạo kỹ sư chất lượngcao Hiện chỉ có khoảng 27% lao động CNTT là có thể đáp ứng yêu cầu.

Hiện nay tại Việt Nam có khoảng 3.000 doanh nghiệp (DN) logistics và dựkiến đến năm 2030, nhu cầu nguồn nhân lực về logistics là trên 200.000 nhân lực.Trong khi đó, khả năng đáp ứng về nhu cầu nguồn nhân lực logistics chỉ đáp ứngkhoảng 10% nhu cầu của thị trường nên có thể nói nguồn nhân lực logistics tại ViệtNam đang thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng ( số liệu năm 2021)

Theo Hiệp hội DN dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), ngoài khó khăn về vốn,

DN logistics Việt Nam đang phải đối mặt với tình hình thiếu đội ngũ nhân viênchuyên nghiệp, lao động được đào tạo bài bản trong lĩnh vực dịch vụ logistics.Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội, số lao động được đào tạo bài bản về dịch vụlogistics chỉ chiếm khoảng 5 - 7% số lao động hiện đang làm việc trong lĩnh vựcnày

Ngoài ra các ngành dịch vụ khác cũng đang gặp vấn đề về nguồn nhân lực nhưmarketing, dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán… là nhữngngành mới, đang tạo nên những “cơn sốt” nhân lực hiện nay, có tiềm năng pháttriển lớn và được xem là đòn bẩy cho nền kinh tế

Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam liên tục được cải thiện trong bảngxếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), xếp hạng 63/140 nền kinh tế Tuynhiên, chỉ số về nhân lực và thị trường lao động lại sụt giảm 10 bậc, từ vị trí 37xuống vị trí 47

Trong khối ASEAN, chỉ số về nhân lực và thị trường lao động của Du lịchViệt Nam xếp thứ 6, xếp trên Lào (hạng 67) và Campuchia (hạng 95), xếp sauSingapore (hạng 5), Malaysia (hạng 15), Thái Lan (hạng 27), Philippines (hạng 37)

và Indonesia (hạng 44) Điều đáng nói là chỉ số về nhân lực và thị trường lao động

Ngày đăng: 10/12/2022, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w