Theo đó, việc dạy học không phải chỉ là “tạo ra kiến thức”, “truyền đạt kiến thức” hay “chuyển giao kiến thức” mà “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, ch
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945 (NGỮ VĂN 11) THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH”
MÔN: NGỮ VĂN
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 3
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
1 Đối với giáo viên 2
2 Đối với học sinh 2
III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
IV PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT
V CẤU TRÚC
PHẦN II: NỘI DUNG
I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
3 1 Cơ sở lý luận 3
1.1 Tổng quan về lớp học đảo ngược 3
1.2 Khái niệm: Lớp học đảo ngược 4
1.3 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược 4
1.4.Tác dụng của mô hình lớp học đảo ngược 5
2 Cơ sở thực tiễn 6
2.1 Thực trạng học tập của học sinh 6
2.2 Thực trạng giảng dạy của giáo viên 7
2.3 Thực trạng về tài liệu tham khảo 8
2.4 Thực trạng về thi cử và kiểm tra, đánh giá 8
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP 9
1 Giải pháp 1: Xác định rõ những năng lực, phẩm chất cần hình thành cho HS 9 2 Giải pháp 2: Nắm rõ quy trình thực hiện mô hình “lớp học đảo ngược” và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp với quy trình lớp học đảo ngược
10 2.1 Bước 1: Trước giờ học trên lớp 10
2.2 Bước 2 Trong giờ học trên lớp 11
2.3 Bước 3 Sau giờ học trên lớp 19
3 Giải pháp 3: Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin một cách chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong tìm kiếm, khai thác nguồn học liệu trong dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 20
4 Kế hoạch dạy học thực nghiệm 22
III TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 41
1 Hình thành ý tưởng 41
2 Khảo sát thực tiễn 41
2.1 Khảo sát
Trang 341 2.2 Phân tích kết quả khảo sát
43 3 Đúc rút sáng kiến
44 4 Áp dụng thực nghiệm
44 4 1 Phạm vi ứng dụng
44 4.2 Mức độ vận dụng
44 5 Đánh giá hiệu quả, điều chỉnh bổ sung
44 PHẦN III: KẾT LUẬN
45 I ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 45 1 Tính mới của đề tài 45 2 Tính khoa học 45 3 Tính hiệu quả 45 II KHẢ NĂNG MỞ RỘNG CỦA ĐỀ TÀI 46 III MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 46 3 1 Với các cấp quản lí giáo dục 46 3.2 Với giáo viên 47 3.3 Với học sinh 47
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN
Trang 4đã đạt được những thành tựu đáng tự hào trong quá trình nỗ lực “đổi mới căn bản và toàn diện”, tuy nhiên những bức tranh đẹp về nền giáo dục tiên tiến của các nước như một làn sóng vào làm xáo trộn ít nhiều nền giáo dục Việt Nam Điều này đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải có những thay đổi từ triết lí, mục tiêu đến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học… nhằm phát triển cho người học hệ
thống năng lực cần thiết để có thể tham gia hiệu quả vào thị trường lao động trong nước và quốc tế Trong bối cảnh đó và đặc biệt để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông năm 2018, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục nước nhà Theo đó, việc dạy học không phải chỉ là “tạo ra kiến thức”, “truyền đạt kiến thức” hay “chuyển giao kiến thức” mà “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28)
2 Để đảm bảo mục tiêu đổi mới dạy học môn Ngữ Văn THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh, đồng thời góp phần vào giải quyết thực trạng các em có
xu hướng chán học, thờ ơ với môn Văn, giáo viên đã chủ động, sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả như: phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai, nghiên cứu tình huống, WebQuest, dạy học dự án… Trong số đó, dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược là phương pháp dạy học
Trang 5hiện đại phát huy được tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, nối liền bục giảng với thực tiễn đời sống, gắn môi trường nhà trường và môi trường xã hội Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược cần thiết trong xu thế đổi mới này
3 Trong chương trình Ngữ văn THPT, truyện ngắn 1930-1945 là một trong những giai đoạn quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại, được dạy ở những tiết học giữa kì 1 lớp 11 với số tiết khá nhiều - 9 tiết, nhằm giáo dục học sinh biết trân quý các sáng tác nghệ thuật của cha ông cũng như hiểu được hiện thực cuộc sống của nhân dân lúc bấy giờ Để từ đó khơi dậy tình yêu nước, trân trọng giá trị độc lập tự do của dân tộc Thực hiện định hướng đổi mới, khi dạy học truyện ngắn, các giáo viên đã dựa vào đặc trưng thể loại để hướng dẫn học sinh khám phá thế giới nghệ thuật thông qua hình tượng nhân vật và cảm nhận cuộc sống một cách chân thực nhất Tuy nhiên, cách tổ chức dạy học truyện ngắn theo hướng quen thuộc lâu nay chưa chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗi học sinh
1 trong tiếp nhận văn bản; chưa kích thích được hứng thú học tập của người học; chưa phát triển hết được khả năng sáng tạo, năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, năng lực cộng tác làm việc, năng lực đánh giá…của học sinh
Trước yêu cầu và thực trạng đó, chúng tôi đã có nhiều tìm tòi và trăn trở để có một hình thức tổ chức dạy học truyện ngắn đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại Trên tinh thần đó, chúng tôi đã tiến
hành chọn đề tài: “Dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Ngữ văn
11) theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1 Đối với giáo viên
Đề tài sẽ giúp thầy, cô giáo phát huy được vai trò của đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Thầy cô giáo có cơ hội đổi mới về phương pháp dạy học và nội dung dạy học Từ đó, nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân
2 Đối với học sinh
Đề tài sẽ đem đến cho các em những giờ học bổ ích, sẽ giúp các em tăng thêm
sự hứng thú đối với bài học, môn học Đồng thời phát huy được năng lực tự tìm tòi, khám phá tri thức, khả năng tự học, tự nghiên cứu
III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Ðối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp dạy học truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 chương trình Ngữ văn THPT
2 Phạm vi, địa bàn khảo sát: Đề tài tìm hiểu, khảo sát việc dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược của giáo viên Ngữ văn và học sinh tại các trường THPT trên địa bàn huyện tôi công tác
IV PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
Trang 6- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
- Phương pháp so sánh đối chiếu
PHẦN II: NỘI DUNG
I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận
1.1 Tổng quan về lớp học đảo ngƣợc
Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đổi mới giáo dục Đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề quan tâm hàng đầu Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông
Qua tìm hiểu các đề tài SKKN đã làm của các giáo viên trong tỉnh, tôi thấy đã
có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực học sinh, các đề tài đã đề cập đến vấn đề đổi mới PPDH như dạy học chủ đề, dạy học dự án hay dạy học stem Riêng với nghiên cứu về phương pháp dạy học sử dụng mô hình lớp học đảo ngược còn rất ít
Mục đích của đề tài là xây dựng và sử dụng hệ thống các bài giảng trực tuyến vào dạy học các kiến thức truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 ( ngữ văn 11) theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Vì vậy, trong phần tổng quan nhiệm vụ chúng tôi đặt ra là nêu tên một số công trình nghiên cứu theo mô hình lớp học đảo ngược trên thế giới và của Việt Nam
Trên thế giới: Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh bạn) Trong đó, King đặc biệt chú trọng vào việc GV cần sử dụng thời gian ở lớp để tổ chức cho HS tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Đảo ngược lớp học- cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn”, trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng
Đặc biệt, người có công lớn cho mô hình flipped classroom là Salman Khan Năm 2004, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng của mình thành các video để phụ đạo cho em họ sống ở một bang khác Những video này được đưa lên YouTube và rất được yêu thích Từ đó Salman Khan thành lập học viện Khan, cho đến nay đã có khoảng 2200 video bao gồm tất cả các môn học, từ những kiến thức đơn giản nhất đến kiến thức nâng cao Khẩu hiệu mà học viện Khan đưa ra đầy hấp dẫn “Bạn chỉ cần biết một điều: bạn có thể học mọi thứ, miễn phí, cho mọi người, mãi mãi!”
Trang 7Mùa xuân năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai giáo viên hóa học trường THPT Woodland Park, ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS
vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chương trình, qua đó họ đã xây dựng mô hình flipped classroom, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS…
3 Còn ở Việt Nam: mô hình này được nghiên cứu, áp dụng ở nhiều trường đại học vào những năm cuối thế kỷ 20 và đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học như: Lớp học đảo ngược- mô hình kết hợp dạy học trực tiếp và trực tuyến của Nguyễn Văn Lợi năm 2016; Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh của Lê Thị Phượng- Bùi Phương Anh năm 2017 Đặc biệt
là đề tài: Sử dụng mô hình" lớp học đảo ngược" trong dạy học ca dao (Ngữ văn 10, tập 1) năm 2019 của Cù Thị Ngọc Anh- Nguyễn Thị Lan Anh
Nguyễn Thị Minh Bích và nhiều luận án tiến sĩ của các trường đại học đầu ngành Trong các công trình nghiên cứu, sách, bài viết mà tác giả đề tài đã sưu tầm được, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các tiết đọc hiểu văn bản truyện ngắn hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT nhằm góp phần phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh hiện nay Đó là "khoảng trống" về lý luận
và thực tiễn đòi hỏi đề tài sáng kiến phải làm rõ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ
có những đóng góp về lý luận và thực tiễn đối với môn Ngữ văn
1.2 Khái niệm lớp học đảo ngƣợc
“Đảo ngược lớp học là chuyển đổi những hoạt động bên trong lớp học ra ngoài lớp học và ngược lại” Lớp học đảo ngược là tất cả các hoạt động dạy học được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường Sự “đảo ngược” ở đây được hiểu là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lược sư phạm thực hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học, khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học
Lớp học đảo ngược làm thay đổi vai trò của người dạy và người học Người dạy không phải lên lớp để dạy những nội dung, kiến thức trong bài giảng mà chỉ thảo luận, trao đổi, giải thích những vấn đề phát sinh mà người học không thể giải quyết được Tương tự, việc tiếp thu kiến thức của người học sẽ được chuyển đổi qua các hình thức học với video thu lại lời giảng của giáo viên và hiện nay là các hoạt động học trực tuyến
1.3 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngƣợc
Theo mô hình lớp học đảo ngược, học sinh sẽ được lĩnh hội các kiến thức cần
thiết của bài học “ở bên ngoài lớp học” trước khi đến lớp qua các kênh thông tin
trực tuyến giáo viên hướng dẫn và cung cấp link Quá trình này sẽ giúp học sinh chủ động tiếp nhận bài học thông qua kênh hình, kênh ảnh, video, hay các bài giảng trên mạng Internet Công nghệ E-Learning giúp HS hiểu rõ hơn về lí thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp Trong giờ học ở lớp, GV tổ chức hoạt động nhóm, các hoạt động hợp tác giúp củng cố thêm các nội dung kiến thức đã tìm hiểu Điều này giúp việc học tập hiệu quả hơn, từ đó người học sẽ tự tin hơn Cách học này đòi hỏi HS phải dùng nhiều đến hoạt động trí não để tư duy Đến đây, những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện
Trang 8- HS hiểu sâu hơn các khái niệm, ứng dụng và có
sự kết nối với nội dung đã tạo ra khi thảo luận tại lớp
- HS nhận được sự hỗ trợ cá nhân khi cần thiết
Bảng 1.3: So sánh lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược
1.4 Tác dụng của mô hình lớp học đảo ngƣợc
Thứ nhất tạo ra môi trường học tập mới: Môi trường học tập có tích hợp web
4.0 sẽ mang một cấu trúc mới đầy triển vọng, cụ thể là:
- Hệ thống học tập tự tổ chức (có định hướng của người dạy)
- Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa giác quan hóa trong quá trình dạy học (người học có thể thao tác được với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động )
- Cấu trúc ngang trong dạy học, không quan tâm tới thứ bậc, mức độ quan trọng của một trong ba đỉnh của tam giác sư phạm: Người dạy - Người học - Nội dung dạy học Đây là điểm khác biệt rõ nét so với cách dạy học truyền thống
- Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện giúp nâng cao hiệu quả chất lượng quá trình dạy học nhờ việc cải tiến hoạt động nhận thức tích cực mang định hướng
cá nhân của người học, dạy học dựa trên năng lực và đánh giá thực
- Môi trường học tập không có sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá trình dạy học Người học có thể nghe, nhìn, học qua web 4.0 đã lập trình, với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi, với cấp độ và tốc độ tuỳ chọn
Thứ hai tạo cơ hội đổi mới phương pháp và hình thức dạy học
- Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh được một loại kiến thức (đơn ngành) sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực)
- Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu sang làm việc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trên web 4.0)
- Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác
Đổi mới phương pháp dạy và học vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học hiện nay, dạy học theo nhóm nhỏ, tranh luận và trình bày, nêu vấn đề và giải quyết, dạy học theo kiểu “dự án” càng
Trang 9ngày sẽ càng chiếm ưu thế trước hình thức thuyết giảng độc thoại một chiều Do giải quyết được vấn đề hạn chế không gian, thời gian học tập, nên người học và
5 người dạy có thể không cần giáp mặt thường xuyên trong quá trình tổ chức một nội dung dạy học cụ thể Chẳng hạn, chuẩn bị cho một giờ học sắp tới, người học có thể đến thư viện, lên mạng để xem, phân tích, đánh giá bài giảng từ trước với số lần không hạn chế
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng học tập của học sinh
Để có kết luận xác đáng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học sinh Cụ thể, chúng tôi đã phát câu hỏi cho học sinh các lớp 11 của một số trường trên địa bàn tôi công tác để các em phát biểu những cảm nhận và nêu ý kiến, nguyện vọng của mình khi tiếp cận chủ đề Truyện ngắn giai đoạn 1930-1945
Nội dung khảo sát như sau:
Phiếu khảo sát thực trạng học tập của học sinh
Họ và tên học sinh Lớp Trường
Hãy trả lời câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu x vào ô trống trong bảng có câu trả lời phù hợp với em
học
Không thích học
Tâm thế của em khi học chủ đề truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 trong chương trình Ngữ Văn 11
Bên cạnh đó chúng tôi cho học sinh làm bài tập để kiểm tra chất lượng học tập của các em Kết quả thu được như sau:
Không thích học
Chất lượng bài
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
1 2020-2021 THPT số 1 80/256
31%
176/256 69%
86/108 80%
42/108 39%
23/108 21%
Trang 102 2020-2021 THPT số 2 89/238
37%
147/238 62%
99/120 83%
67/120 56%
36/120 30%
3 2020-2021 THPT số 3 97/257
38%
160/257 62%
105/125 84%
76/125 61%
52/125 42%
6 Kết quả trên cho thấy, hầu hết học sinh xác định tư tưởng, tâm thế và thái độ học tập chưa đúng đắn Các em vốn đã không thích học văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng và mấy năm gần đây lại không nằm trong phạm vi giới hạn ôn thi THPTQG nên dẫn tới tâm lí không thích học, không hứng thú, thậm chí không học, không quan tâm chú trọng những tiết học này Giờ học văn bản trở nên nặng nề, nhạt nhẽo Học sinh nỗ lực học tập không vì yêu thích văn chương mà vì để hoàn thành nhiệm vụ học tập
Tỉ lệ học sinh được học các chuyên đề theo mô hình lớp học đảo ngược giữa các trường không đồng đều Điều đó cho thấy sự quan tâm chỉ đạo và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học này giữa các trường THPT có sự khác nhau
Kết quả khảo sát đó là một trong những minh chứng thuyết phục để chúng tôi
thực hiện nghiên cứu đề tài Dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
(Ngữ văn 11) theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
2.2 Thực trạng giảng dạy của giáo viên
Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng giảng dạy của giáo viên bằng việc phát câu hỏi cho một số giáo viên của một số trường THPT trên địa bàn tôi công tác
để các thầy cô phát biểu những cảm nhận và nêu ý kiến, nguyện vọng của mình khi giảng dạy Truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 trong chương trình Ngữ Văn 11
- Nội dung khảo sát như sau:
Phiếu khảo sát thực trạng giáo dục của giáo viên
Họ và tên giáo viên Giảng
dạy môn Trường
Hãy trả lời câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống trong bảng có câu trả lời phù hợp với thầy /cô
đầu
tư đổi mới phươn
g pháp
Chưa đổi mới phươn
g pháp
Hài
lòng
Trang 11Thầy/cô đã thực sự đầu tư cho tiết dạy truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 hay
chưa?
Thầy/ cô đã thực sự hài lòng với hiệu
quả giờ dạy hay chưa?
- Kết quả thu được như sau:
Hiệu quả giờ dạy
2.3 Thực trạng về tài liệu tham khảo
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các loại tài liệu tham khảo:
1 Nguyễn Văn Đường (chủ biên), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 (tập 1), NXB
Trang 12Giáo dục 2006
4 Nguyễn An Thi, Ngô Văn Nghĩa, Trần Thị Thanh Huyền, Đỗ Thị Hạnh, Đổi
mới phương pháp dạy học và những bài dạy minh họa ngữ văn 11 (tập 1), NXB Đại
học Sư phạm 2012
Từ kết quả khảo sát đó, chúng tôi có nhận xét như sau:
Thứ nhất, sách giáo viên: hướng dẫn chung chứ chưa đề ra phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học Truyện ngắn trong chương trình
Thứ hai, sách tham khảo: các tác giả đã có những đề xuất có tính đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn nhưng mang tính chất chung chung, chưa thể hiện được
sự sáng tạo và khi áp dụng vào thực tiễn chưa tạo hứng thú cho học sinh
2.4 Thực trạng về thi cử và kiểm tra, đánh giá
8 Trong những năm gần đây, song song với việc đổi mới phương pháp dạy học
là vấn đề đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh Tuy nhiên việc đánh giá của giáo viên vẫn còn nặng theo chuẩn kiến thức kĩ năng thông qua các bài kiểm tra định kì và đánh giá từ một kênh: giáo viên đánh giá học sinh Giáo viên chưa chú trọng đến việc đánh giá quá trình học tập và đánh giá sản phẩm học tập của học sinh từ nhiều kênh khác nhau: học sinh tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau, giáo viên đánh giá học sinh Tổ chức dạy học theo hướng khai thác kênh ảnh, video, lớp học đảo ngược có cơ hội cho giáo viên đánh giá học sinh từ nhiều kênh đảm bảo việc đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đã tìm ra những giải pháp hiệu quả khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn Ngữ văn ở đơn vị công tác, đồng thời tạo cho học sinh thói quen tự học, tự nghiên cứu qua các bài giảng trực tuyến góp phần đổi mới dạy học và giáo dục phù hợp điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội Đặc biệt trong tình hình dịch bệnh covid 19 diễn biến phức tạp như hiện nay phương pháp này càng chiếm ưu thế
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1 Xác định rõ những năng lực, phẩm chất cần hình thành cho HS
a) Các năng lực cần hình thành cho HS
Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh
những năng lực cốt lõi sau:
Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;…
Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh
Trang 139 Yêu nước là yêu thiên nhiên, yêu truyền thống dân tộc, yêu cộng đồng và biết làm ra các việc làm thiết thực để thể hiện tình yêu đó Để có được tình yêu này thì học sinh phải được học tập hàng ngày qua những áng văn thơ, qua những cảnh đẹp địa lý, qua những câu chuyện lịch sử và học sinh phải được sống trong tình yêu hạnh phúc mỗi ngày
- Nhân ái: là biết yêu thương, đùm bọc mọi người; yêu cái đẹp, yêu cái thiện; tôn trọng sự khác biệt; cảm thông, độ lượng và sẵn lòng giúp đỡ người khác Nhân
ái là tôn trọng sự khác biệt của những người xung quanh, không phân biệt đối xử, sẵn sàng tha thứ, tôn trọng về văn hóa, tôn trọng cộng đồng
- Chăm chỉ: Đức tính chăm học, chăm làm, hăng say học hỏi và nhiệt tình tham gia công việc chung sẽ giúp các em rèn luyện, phát triển bản thân để đạt được những thành công lớn lao trong tương lai Chăm chỉ thể hiện ở những kỹ năng học tập hàng ngày của học sinh, học mọi lúc mọi nơi, luôn dám nghĩ dám làm, dám đặt câu hỏi Việc rèn nề nếp học tập chủ động, học tập qua trải nghiệm sẽ hỗ trợ học sinh hình thành phẩm chất đáng quý này
- Trung thực: Dù một người có giỏi đến đâu mà thiếu đi đức tính này thì vẫn
là kẻ vô dụng Bởi thế nên ngay từ nhỏ, các học sinh cần được rèn luyện tính thật thà, ngay thẳng và biết đứng ra bảo vệ lẽ phải Trung thực là thật thà ngay thẳng, mạnh dạn nói lên ý kiến của mình, biết nhận lỗi, sửa lỗi, bảo vệ cái đúng cái tốt Với môi trường học tập không áp lực, không nặng nề điểm số, khuyến khích trẻ nói lên chính kiến của mình thông qua các dạng học tập nhóm, hội thảo, tranh biện…sẽ dần hình thành tính cách chia sẻ, cởi mở cho trẻ ngay từ nhỏ
- Trách nhiệm: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với gia đình;
Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống Chỉ khi một người có trách nhiệm với những gì mình làm thì đó mới là khi họ trưởng thành và biết cống hiến sức mình cho một xã hội tốt đẹp hơn
2 Nắm rõ quy trình thực hiện mô hình “lớp học đảo ngược” và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp với quy trình lớp học đảo ngược
2.1 Bước 1 trước giờ học trên lớp
Để HS có những định hướng tìm hiểu bài học, ngay từ ở nhà, giáo viên cần hướng dẫn các em đọc trước văn bản, soạn bài và trả lời theo các câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa Khi đọc bài, HS cần đọc suy nghĩ; đọc có hệ thống và đọc ghi nhớ (có ghi chép)
Trang 14Bên cạnh đó GV tạo 1 video bài giảng hoặc GV hướng dẫn HS khai thác các bài giảng trên mạng và yêu cầu HS tìm hiểu trước nội dung bài học Cách thực hiện này
sẽ giúp học sinh chủ động tìm hiểu và chiếm lĩnh kiến thức Học sinh biết cách phát hiện và giải quyết vần đề, biết cách thu thập và xử lý thông tin, biết cách hoàn thiện sản phẩm khoa học ban đầu Để làm được điều này theo mô hình lớp học đảo ngược
GV cần có trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và kĩ năng sử
10 dụng ICT trong giảng dạy Tất cả năng lực của GV được thể hiện qua việc xây dựng video bài giảng một cách khoa học, phù hợp với đối tượng người học
Lưu ý: Giữa nội dung video bài giảng cho HS xem trước ở nhà với nội dung thảo
luận trên lớp phải đảm bảo kết cấu hài hòa và hợp lí Cập nhật những nội dung mới, những tình huống mới trong thực tế để đưa vào bài giảng Việc học tập bị đảo ngược
là nhằm hướng vào người học, thay vì GV điều khiển HS, giờ đây HS chủ
động nghiên cứu các đoạn video bài giảng để hình thành những ý kiến riêng, các câu hỏi xung quanh nội dung và trước khi đến lớp đã có những hiểu biết xung quanh khái niệm liên quan Muốn vậy, HS cần có kỹ năng: Kĩ năng sử dụng ICT, kĩ năng tìm kiếm kiến thức trên mạng, kĩ năng tự học và cá nhân hóa việc học tập của bản thân
Các đường link cung cấp cho HS tìm hiểu trước giờ học chủ đề truyện
ngắn: Bài giảng Hai đứa trẻ: Iog4 Bài giảng về Chữ người tử tù:
https://www.youtube.com/watch?v=_BnPWZ-https://www.youtube.com/watch?v=35nBLWS_rNw
Bài giảng Chí Phèo:
https://www.youtube.com/watch?v=kiu3t9I5omQ Phim làng Vũ Đại
ngày ấy:
https://www.youtube.com/watch?v=TGRF5NMI_Zc
2.2 Bước 2 trong giờ học trên lớp
Dựa vào nội dung học sinh đã tìm hiểu trước, GV giao nhiệm vụ hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận trong giờ học GV chủ yếu hướng dẫn HS tìm hiểu các kiến thức trong bài học, tìm ra những cách tiếp cận bài học tối ưu nhất Với mô hình lớp học đảo ngược HS thực hành ứng dụng các khái niệm chính cùng với phản hồi từ
GV và các HS khác Bằng cách làm này, HS được phát triển các kĩ năng cần thiết,
đó là: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng ứng dụng công nghệ Công việc trên lớp của GV và HS: GV hướng dẫn HS đào sâu kiến thức, HS thực hiện các hoạt động nhóm phù hợp cũng như dành nhiều thời gian hơn trong việc luyện tập và tư duy
a) Ở hoạt động khởi động, GV tạo tình huống có vấn đề để kích thích nhu cầu
khám phá, tính tích cực ở học sinh
Minh chứng:
Khi dạy truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, Gv trình chiếu video Trích
Phim Chị Dậu (1981) Sau khi HS xem xong, Gv nêu câu hỏi: Đoạn trích gợi em nhớ
về tác phẩm văn học nào đã được học ở lớp dưới? Qua đoạn video, em cảm nhận
Trang 15được điều gì về đời sống của người dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám? Từ việc HS trả lời câu hỏi, GV dẫn vào bài mới
11
Khi dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, GV trình chiếu một đoạn
video về nghệ thuật chơi chữ (nghệ thuật thư pháp) của các nhà nho xưa và một số
hình ảnh về bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên Và đặt câu hỏi: Qua những hình ảnh
trên gợi cho em liên tưởng đến môn nghệ thuật nào? HS nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học, tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ GV nhận xét và dẫn vào bài: Khi viết về Nguyễn Tuân, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh
đã viết: “Nguyễn Tuân là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực thẩm mĩ” Phong cách
của Nguyễn Tuân là phong cách tài hoa trong việc săn tìm cái đẹp; uyên bác trong việc sử dụng từ ngữ và kiến thức văn hóa, phong cách của một cây bút vừa cổ điển
vừa hiện đại Điều này đã thể hiện rất rõ trong “Chữ người tử tù” trích “Vang bóng
một thời”
Khi dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, GV cho HS xem video đoạn trích phim Làng Vũ Đại ngày ấy Sau khi xem đoạn trích phim GV yêu cầu học sinh
trả lời câu hỏi: Em hãy kể tên các nhân vật gắn liền với các tác phẩm viết về đề tài
nông dân mà các em đã được học ở THCS? Học sinh tập trung suy nghĩ và trả lời
câu hỏi GV dẫn vào bài mới: Mặc dù có những sáng tác đăng báo từ 1936 nhưng phải đến năm 1941, khi Chí Phèo ra đời Nam Cao mới thực có vị trí trên văn đàn
Trước Nam Cao nhiều nhà văn đã thành công khi viết về đề tài nông dân như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và cũng có nhiều tác phẩm hấp dẫn viết
về đề tài lưu manh hóa như Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, đây thực sự là thử thách lớn
với những cây bút đến sau, trong đó có Nam Cao Bằng ý thức “khơi những nguồn
chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” và bằng tài năng nghệ thuật độc đáo của
mình, Nam Cao đã vượt qua thử thách và khiến cho Chí Phèo trở thành kiệt tác trong
văn xuôi hiện đại Việt Nam
b) Ở hoạt động hình thành kiến thức, khi hướng dẫn HS tìm hiểu các phạm vi kiến
thức, trên cơ sở các nội dung đã được tìm hiểu trong các video trước giờ học, GV cần tập trung thực hiện theo trình tự sau:
b1 Thứ nhất GV đặt các câu hỏi một cách đa dạng nhằm tạo hứng thú, sự bất
ngờ cho học sinh tham gia trong quá trình tìm hiểu kiến thức đồng thời GV nghiên cứu và sử dung đa dạng câu hỏi cho nhiều đối tượng học sinh để tạo ra trạng thái động cơ học tập, các câu hỏi bao gồm các dạng:
- Câu hỏi phân tích, nhận xét, đánh giá
Loại câu hỏi này giúp học sinh biết phân tích, đánh giá và khái quát những vấn đề
quy tụ vào những đặc trưng về hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng của tác phẩm
Ví dụ: Khi dạy văn bản Chí Phèo của Nam Cao, giáo viên hỏi: Tại sao Nam Cao
đã không mở đầu tác phẩm của mình bằng sự kiện Chí Phèo ra đời ở cái lò gạch cũ
mà mở đầu bằng hình ảnh Chí Phèo uống rượu say vừa đi vừa chửi? Hãy phân tích tiếng chửi đó?
- Câu hỏi yêu cầu có sự so sánh đối chiếu
Trang 1612 Qua việc so sánh đối chiếu, HS có thể nhận ra những nét độc đáo, những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm Các loại câu hỏi đưa ra có thể là để so sánh các hình ảnh chi tiết trong tác phẩm hoặc với các tác phẩm khác:
Ví dụ: Khi dạy bài Chí Phèo của Nam Cao, GV hỏi: Em hãy so sánh hình tượng
nhân vật Chí Phèo với hình tượng nhân vật Chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố (Ngữ văn 9 tập 2), từ đó chỉ ra những phát hiện độc đáo của Nam Cao khi miêu tả hình tượng của người nông dân trước cách mạng?
- Câu hỏi ứng dụng và liên hệ
Loại câu hỏi này giúp học sinh chuyển từ nhận thức về tác phẩm ở bên ngoài vào
bên trong Học sinh phải tự liên hệ với thực tế và bản thân để tìm ra hướng giải quyết thích hợp theo sự cảm thụ của mình Các loại câu hỏi này có thể là:
Ví dụ: Em hãy tưởng tượng và vẽ bức tranh tái hiện cảnh đợi tàu của hai chị em
Liên trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam ?
- Câu hỏi hiểu biết về nội dung và hình thức tác phẩm Có hai mức độ trong hệ
thống câu hỏi này là:
+ Kể lại được văn bản (đòi hỏi học sinh phải nhớ được cốt truyện) Ví dụ:
Em hãy tóm tắt truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân?
+ Phân tích lí giải được những sự kiện, sự việc, biến cố trong cuộc đời nhân vật (Học sinh phải tìm ra mối tương quan của sự kiện, sự việc, biến cố trong cuộc đời các nhân vật HS phải đối chiếu, so sánh, quy nạp, phân tích, giải thích )
Ví dụ: Tại sao sau nhiều lần đổi tên, Nam Cao vẫn giữ lại cái tên Chí Phèo cho
truyện ngắn của mình?
GV hướng dẫn HS hiểu ý nghĩa của các tên gọi: Tác phẩm Chí Phèo viết năm 1941,
lấy cảm hứng từ những cảnh và con người thật mà Nam Cao được chứng kiến, được
nghe kể về làng quê mình Khi mới ra đời, tác phẩm có tên là Cái lò gạch cũ Nhan
đề này có lẽ bắt nguồn từ hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện ở phần đầu truyện (gắn
với sự ra đời của Chí Phèo) và ở phần cuối tác phẩm (gắn liền với Thị Nở - khi biết tin Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự sát, thị đã “nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn…rồi nhìn nhanh xuống bụng” và “thoáng thấy hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ
không, xa nhà cửa và vắng người qua lại”) Cái lò gạch cũ là biểu tượng về sự xuất
hiện tất yếu của “hiện tượng Chí Phèo”, thể hiện sự quẩn quanh, bế tắc trong cuộc đời, số phận người nông dân bị tha hóa trước Cách mạng Nhan đề này phù hợp với nội dung của tác phẩm nhưng thiên về cái nhìn hiện thực ảm đạm, bi quan của nhà văn về cuộc sống và tiền đồ của người nông dân, đồng thời có thể khiến độc giả hiểu rằng quá trình tha hóa mới là mạch vận động chính của tác phẩm chứ không phải là quá trình hồi sinh của Chí Phèo Trên thực tế, Nam Cao đã dành tất cả tâm huyết và bút lực của mình để miêu tả chặng đường thức tỉnh, hoàn lương của Chí Phèo, qua
đó thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc
13
b2 Thứ hai kết hợp hài hòa và sử dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp,
kỹ thuật dạy học mới
Trang 17Việc phối hợp, sử dụng linh hoạt đa dạng các phương pháp và kỹ thuật dạy học
trong toàn bộ quá trình dạy học là phương pháp quan trọng để phát huy tính tích cực
và nâng cao chất lượng dạy học Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của truyện ngắn hiện đại mà chúng tôi áp dụng những phương pháp, kỹ thuật dạy học như sau:
Khi dạy các truyện ngắn hiện đại lớp 11, tác giả sáng kiến đề xuất và thực hiện các phương pháp, hình thức và kỹ thuật dạy học sau:
* Phương pháp Thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là PPDH trong đó "HS được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung"
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung
Trong quá trình giảng dạy, để tiết học diễn ra có hiệu quả khi áp dụng phương pháp thảo luận nhóm, giáo viên cần có sự phân chia khoa học các bước trong khi thảo luận nhóm
Các bước khi thảo luận nhóm
Bước 1: Chia nhóm: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm khoảng
từ 4-6 người
Bước 2: Giao nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết cho từng nhóm
Bước 3: Giám sát hoạt động của từng nhóm
Bước 4: Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các nhóm khác có thể phản biện
Bước 5: Tổng kết đánh giá
Giáo viên nhận xét bài thuyết trình của từng nhóm sau khi các nhóm trình bày xong và đã có ý kiến phản biện của các nhóm khác Cuối cùng giáo viên chốt lại các
ý kiến, đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ sau khi thảo luận
Phân loại phương pháp thảo luận
-Thảo luận có hướng dẫn: Toàn lớp hay nhóm nhỏ cùng đề tài thảo luận hoặc khác đề tài thảo luận, nhằm đưa ra nhiều ý kiến kết quả khác nhau từ đó thống nhất chung lại
14 Báo cáo xê-mi-na có thảo luận: Sau khi báo cáo chuyên đề, người nghe sẽ đóng góp ý kiến hoặc nêu thắc mắc, một hoặc nhiều người sẽ trao đổi ý kiến với người nghe, dẫn đến kết luận
Minh hoạ:
Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm để dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của
Trang 18-Nhóm thứ nhất, tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Thạch Lam
- Nhóm thứ hai, GV yêu cầu HS thảo luận đối thoại về Bức tranh phố huyện buổi chiều tàn
- Nhóm thứ ba, GV yêu cầu HS thảo luận, đối thoại về Bức tranh phố huyện lúc vào đêm
- Nhóm thứ tư, GV tiếp tục yêu cầu HS thảo luận, đối thoại Bức tranh bố huyện khi đoàn tàu đi qua
Sau khi hoàn thành xong, đại diện từng nhóm trình bày ý kiến, kết quả, các nhóm khác lắng nghe để nhận xét, đánh giá Biện pháp này không chỉ giúp HS thoải mái thảo luận, trao đổi với nhau mà còn trao đổi, đối thoại với cả GV để làm rõ các vấn đề chưa hiểu Từ đó phát huy được tính tích cực, sự mạnh dạn và khả năng sáng tạo cũng như những cảm nhận sâu sắc của các em đối tác phẩm của Thạch Lam Như vậy, có thể nói, nhờ áp dụng biện pháp thảo luận GV sẽ tạo cho giờ dạy học tác phẩm
Hai đứa trẻ (Thạch Lam) thêm sôi động, hấp dẫn hơn Từ đó giúp HS giải quyết vấn
đề một cách thấu đáo, đồng thời hiểu sâu sắc hơn những giá trị đặc sắc trong sáng tác của Thạch Lam
Như vậy, có thể nói, nhờ áp dụng biện pháp thảo luận GV sẽ tạo cho giờ dạy
học tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) thêm sôi động, hấp dẫn hơn Từ đó giúp HS
giải quyết vấn đề một cách thấu đáo, đồng thời hiểu sâu sắc hơn những giá trị đặc sắc trong sáng tác của Thạch Lam
Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm để dạy học tác phẩm Chí Phèo của
Nam Cao
15
Với tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao GV có thể chia lớp thành 5
nhóm và giao nhiệm vụ theo từng nội dung bài học, học sinh cần tiếp nhận nhiệm vụ
cụ thể, rõ ràng từng nội dung như sau:
Nhóm 1: Tìm hiểu khái quát về tác giả, nhan đề tác phẩm, tóm tắt tác
phẩm Nhóm 2: Tìm hiểu hình ảnh làng Vũ Đại
Nhóm 3: Nhân vật Bá Kiến
Nhóm 4: Hình tượng nhân vật Chí Phèo
Trang 19Nhóm 5: Nhân vật Thị Nở
Nhóm 6: Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện
Khi giao nhiệm vụ cho HS để đọc hiểu chi tiết truyện ngắn Chí Phèo (Nam
Cao), GV nêu vấn đề trong từng nội dung như sau:
Nội dung 1: Tìm hiểu khái quát về tác giả, nhan đề tác phẩm, tóm tắt tác
phẩm
GV yêu cầu HS nhóm 1 thảo luận cặp đôi và trình bày
Nội dung 2: Hình ảnh làng Vũ Đại
Câu hỏi 1: Hình ảnh làng Vũ Đại được miêu tả như thế nào trong tác phẩm? Trong làng tồn tại những mẫu thuẫn gì?
Câu hỏi 2: Theo em làng quê Việt Nam ngày nay có giống với làng Vũ Đại trong truyện ngắn Chí Phèo không? Từ đó em thấy mình có trách nhiệm gì để đóng góp, xây dựng quê hương đất nước
Nội dung 3: Nhân vật Bá Kiến
GV chia lớp thành 2 nhóm, tổ chức trò chơi Ô chữ bí mật, cho HS lần lượt
trả lời các câu hỏi sau:
Hàng thứ 1: Từ ngữ chỉ sự độc ác và hung bạo → TÀN BẠO
Hàng thứ 2: Từ ngữ chỉ sự khéo léo để lừa đảo → XẢO QUYỆT
Hàng thứ 3: Kiểu nhà nước nào là kiểu nhà nước thứ hai trong lịch sử xã hội loài người? → PHONG KIẾN
Hàng thứ 4: Điền từ còn thiếu trong câu thơ sau:
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong … giết người không dao
→ NHAM HIỂM Hàng ngang 5: Từ ngữ chỉ sự gian manh, lừa lọc → ĐỂU CÁNG
Hàng ngang 6: Từ ngữ chỉ cách hành động theo chiều hướng chuyển thiệt hại của người khác thành lợi ích của mình → THỦ ĐOẠN
16
→ Từ ngữ ở ô chữ hàng dọc là: BÁ KIẾN
Từ việc tổ chức trò chơi Ô chữ bí mật, giáo viên hướng dẫn học sinh tự rút
ra những ý kiến then chốt về bản chất con người Bá Kiến
Nội dung 4: Nhân vật Chí Phèo
Vấn đề 1: Trước khi vào tù, Chí Phèo là một người như thế
nào? Vấn đề 2: Qúa trình tha hóa:
GV yêu HS đọc văn bản kết hợp với phần chuẩn bị phiếu học tập ở nhà trả lời theo một số câu hỏi gợi ý để tìm hiểu khái quát về quá trình tha hóa của Chí Phèo như sau:
+ Giai đoạn 1: Từ người nông dân lương thiện bị tha hóa thành thằng lưu
Trang 20manh
+ Giai đoạn 2: Từ thằng lưu manh trở thành con quỷ dữ
Vấn đề 3: Quá trình hồi sinh
GV chia nhóm 3 thành 04 nhóm nhỏ, mỗi nhóm nhận 1 nhiệm vụ
Nhóm nhỏ 1: Tìm những chi tiết nói về sự tỉnh rượu của Chí
Phèo Nhóm nhỏ 2: Tìm những chi tiết nói về sự tỉnh ngộ của Chí
- Nhận xét về hành động nấu bát cháo hành cho Chí Phèo
- Sau 5 ngày sống với Chí Phèo, Thị có suy nghĩ ntn về Chí, đã có hành động gì? Vì sao Thị cự tuyệt tình yêu với Chí?
Nội dung 6: Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện
GV yêu cầu HS thảo luận trong nhóm, trình bày trên giấy A0 và báo cáo trước lớp
Như vậy, dạy học theo phương pháp hợp tác trong quá trình học sinh đọc hiểu tác phẩm có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi học sinh nhằm chuẩn bị cho các em thích ứng và hội nhập tốt đối với xã hội đang phát triển và thay đổi liên tục Việc dạy học hợp tác sẽ tạo cho học sinh sự hưng phấn, hứng thú; kỹ năng hợp tác, trao đổi thông tin… khi lĩnh hội kiến thức trong giờ học làm cho việc học tập sẽ sôi nổi, hào hứng và dễ dàng hơn
* Phương pháp đóng vai: là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình
bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương
17 pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng
từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các
em quan sát được từ vai của mình Trong môn ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một số nội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện
đã học; chuyển thể một văn bản văn học thành một kịch bản sân khấu, xử lý một tình huống giao tiếp giả định, trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau…
Các hình thức đóng vai gồm: Đóng vai theo nhân vật (Đóng vai tái hiện; Đóng vai suy luận; Đóng vai người kể chuyện) Chuyển thể một văn bản, đoạn văn bản thành một kịch bản sân khấu (sân khấu hóa) Xử lý một tình huống giao tiếp giả định Trong phạm vi sáng kiến này, tác giả sáng kiến sử dụng phương pháp đóng vai tái hiện khi dạy các truyện ngắn hiện đại lớp 11
Đây là hình thức cho học sinh đóng vai các nhân vật trong từng tác phẩm, thay
vì cho các em đọc tác phẩm, GV có thể phân vai cho học sinh thời gian chuẩn bị sau
Trang 21đó tái hiện lại nhân vật trong tác phẩm Dưới hình thức đóng vai theo nhân vật, học sinh có thể kết hợp thêm các lời thoại (bám sát theo văn bản); kết hợp với ngôn ngữ hình thể, ngôn ngữ, cách thức thể hiện…để trình bày về ngoại hình, tích cách, ngôn ngữ, hoàn cảnh,…của nhân vật
Ví dụ khi dạy truyện ngắn Chí phèo của Nam Cao, GV có thể chia nhóm, giao
nhiệm vụ cho các nhóm tương ứng với từng giai đoạn trong cuộc đời của Chí Phèo
Nhóm 1: Trước khi Chí Phèo đi ở tù
Với nội dung này, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã cho học sinh đóng vai theo ngôi kể
Minh họa: Học sinh đóng vai vào nhân vật Chí Phèo, kể về cuộc đời của mình từ khi sinh ra đến khi bị Bá Kiến vu oan và đẩy vào tù Sau khi học sinh thực hiện, GV chốt lại kiến thức về lai lịch, số phận và cuộc đời của Chí trước khi ở tù
Nhóm 2: Sau khi Chí Phèo ra tù, đặc biệt chú ý vào tiếng chửi của Chí Phèo, các lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến
Ở nội dung này, học sinh lựa chọn đoạn trích sau để đóng vai theo hình thức sân khấu hóa, từ đó nêu bật lên sự tha hóa của Chí Phèo
Cảnh lựa chọn để đóng vai là cảnh Chí Phèo say rượu, vừa đi vừa chửi Rồi đến nhà Bá Kiến ăn vạ
Minh họa:
- Chí Phèo: Mả cha chúng mày! Chúng mày nghĩ chúng mày là ai mà khinh bỏ cái thằng này Chúng mày nghĩ chúng mày là ai mà nói tao không cha không mẹ Mẹ kiếp chúng mày! Không biết cái đứa chết mẹ nào đẻ ra tao! Thà mày đừng đẻ tao ra
để tao khỏi khổ như này Con mẹ nó! Mả cha chúng mày…
18
- Dân làng 1 (bên lề đường): Ê mày, thằng Chí Phèo đang chửi ai
ấy? - Dân làng 2: Ai biết? Chắc trừ tao với mày ra
- Dân làng 1: Ờ Kệ nó
- Chí Phèo: Bá Kiến! Thằng bá Kiến đâu! Ra đây tao hỏi chuyện Mày không dám
ra đây à? Mày sợ ông à?
- Bà cả: Bà hai, bà ra xem cái thằng Chí Phèo ấy làm cái gì mà ồn ào
vậy - Bà 2: Hứ! Tôi chẳng thèm Bà ba ra xem đi
- Bà 3: Sao mấy bà không ra xem Đùn tôi ra lỡ nó băm tôi thì sao? (Liếc nhìn bà 4)
- Bà tư: Nhìn cái gì? Ai chứ cái thằng Chí Phèo là đừng mong tôi ra nhá Cứ mặc thây cha nó đi
(Chí Phèo với 3 con chó)
- Dân làng 1 (đồng tình): Mày xem, phen này cha con thằng bá Kiến đố còn dám
vác mặt đi đâu nữa! Mồ mả tổ tiên đến lộn lên mất
- Chí Phèo: Thằng bá Kiến đâu? Ra đây ông hỏi chuyện! Mày không dám ra à? Trốn chui trốn nhủi trong cái nhà đó hả? Mày không ra tao phá nhà mày!
Trang 22- Dân làng 2 (hiền lành, gật gù): Phúc đời nhà nó, chắc ông lí không có nhà Chứ
mà gặp thằng lí Cường chắc nó…
- Lí Cường (bất ngờ xuất hiện): Mày muốn lôi thôi cái gì (tát + đánh Chí Phèo) hả
cái thằng không cha không mẹ này Mày muốn lôi thôi gì nữa?
- Chí Phèo đập vỏ chai vào cột cổng, nằm lăn ra đất, nhặt miểng cào vào mặt
- Chí Phèo (ăn vạ): Ối làng nước ôi! Ra xem thằng lí Cường nó làm gì đây này! Ối
giời ôi! Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi rồi! Làng nước ôi!…
- Lí Cường (cười nhạt, khinh bỉ): Tưởng gì! Hóa ra nằm ăn vạ!
Nhóm 3: Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo với thị Nở, đặc biệt chú ý vào chi tiết bát
cháo hành Từ phạm vi kịch bản đã thực hiện, GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu và chốt lại kiến thức về mối tình Chí Phèo – Thị Nở và sự thức tỉnh của Chí Phèo
Như vậy, một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp
tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Vì vậy, GV cần lựa chọn nội dung bài học và sử dụng phương pháp, hình thức,
kỹ thuật dạy học phù hợp với nội dung phạm vi kiến thức
2.3 Bước 3 sau giờ học trên lớp
Kết thúc giờ học trên lớp, nếu những nội dung trao đổi trên lớp chưa hoàn
thiện, GV sẽ hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc của HS qua mạng
19
HS kiểm tra lại kiến thức đã học trong giờ học và tự tìm hiểu mở rộng thêm
HS có thể viết nhật kí hoặc blog, có thể cập nhật những gì đã học được hoặc cần phải tập trung tiếp theo HS cũng có thể sử dụng blog hoặc nhật kí của mình để làm một lưu ý bất kì
Sau bước 3, GV chuyển sang bước 1 để tạo video bài giảng mới hoặc bổ sung video bài giảng cũ sao cho phù hợp với trình độ tiếp thu bài giảng của HS hiện tại
HS cũng chuyển về bước 1 để nghiên cứu video bài giảng mới của GV
Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
+ HS làm việc theo cặp để vẽ sơ đồ tư duy
+ GV quan sát, nhắc nhở HS về quy tắc trình bày của sơ đồ tư duy (nét đậm
Trang 23Khi dạy xong văn bản Chí Phèo của Nam Cao, giáo viên cho HS tự thao tác lập
bản đồ tư duy trên phần mềm cava hoặc giấy A0 để củng cố hệ thống hóa kiến thức cũng như kĩ năng sử dụng công nghệ công tin:
- Tìm hiểu, thu thập hình ảnh tác giả Nam Cao, các nhân vật -
Video về các tình huống đời thực khi vào bài để tạo ấn tượng -
Cho xem đoạn Video phim “Làng Vũ đại ngày ấy”
Ví dụ: hình ảnh về Chí Phèo, Thị Nở
Như vậy, có thể thấy với việc tổ chức dạy học bằng kĩ thuật sơ đồ tư duy, HS
có cơ hội để thể hiện được năng lực nhận biết được chủ đề của tác phẩm và Nhận biết được một số yếu tố của truyện ngắn: cốt truyện, nhân vật, bối cảnh của truyện ngắn… thông qua việc tạo lập sơ đồ tư duy để tóm tắt những vấn đề nổi bật của tác phẩm văn học thể hiện qua các truyện ngắn
3 Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin một cách chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong tìm kiếm, khai thác nguồn học liệu trong dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
Đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay, việc bồi dưỡng giáo viên cũng đang được Bộ GD&ĐT, các cấp các ngành giáo dục quan tâm hàng đầu Việc
20
áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập là khâu đột phá của chuyển đổi số trong giáo dục Nếu như trước đây, tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên được in trên giấy gây khó khăn cho việc nghiên cứu theo thời gian, thì ngày nay các tài liệu, học liệu bồi dưỡng cho GV được số hóa và lưu trữ trên các không gian mạng Các tài liệu này được GV sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi Các lớp bồi dưỡng, tập huấn giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông cốt cán được tổ chức theo phương thức trực tuyến kết hợp với trực tiếp thông qua lớp học ảo
Dưới tác động của dịch bệnh covid-19 trong hai năm nay, việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy và học đã có những chuyển biến to lớn Bộ GD&ĐT cũng
có nhiều văn bản, hướng dẫn để áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ trong dạy và học Đặc biệt GV cả nước được tập huấn qua các modun bồi dưỡng thường xuyên Trong quá trình giảng dạy, GV đã ứng dụng các phần mềm trong dạy học, kiểm tra đánh giá khi học sinh phải chuyển hình thức học trực tiếp sang học trực tuyến, đây vừa là thách thức cũng là điều kiện tiên quyết để GV bồi dưỡng kỹ năng
sử dụng CNTT, từ đây việc sử dụng CNTT trong dạy học của GV đã có những tiến triển rõ rệt Nhiều GV sử dụng CNTT chưa thành thạo nay buộc phải nghiên cứu để thực hiện trong quá trình dạy học trực tuyến, vì vậy kỹ năng sử dụng CNTT của GV cũng được nâng cao
Trong thời đại phát triển CNTT; trong giai đoạn môi trường kĩ thuật số ngày càng phổ biến, giáo viên cần nỗ lực để khai thác thế mạnh kĩ thuật số nhằm phát triển năng lực số và kĩ năng chuyển đổi số cho học sinh, giúp các em có thể sống, học tập, làm việc và thành công trong cuộc sống sau này Muốn vậy, GV cần: có đủ năng lực
để tích hợp CNTT trong dạy học để đảm bảo công bằng và chất lượng hiệu quả của quá trình giáo dục; cần có khả năng khai thác CNTT để phát triển các kĩ năng chuyển đổi như: Tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, giao tiếp và hợp tác…
Trang 24Việc sử dụng CNTT, phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học có tác dụng giúp học sinh phát huy năng lực sở trường của bản thân để đáp ứng với thời đại Học sinh được trực tiếp tương tác với các công nghệ thông tin Các hình ảnh video, sơ
đồ tư duy trực tiếp tác động vào giác quan của học sinh tạo cảm xúc từ đó hình thành hứng thú và hỗ trợ tạo động cơ học tập Phương tiện trực quan giúp học sinh nắm bài dễ hơn giờ học sinh động hơn, tránh căng thẳng mệt mỏi
Đối với đề tài này công nghệ thông tin đã hỗ trợ:
a) Hỗ trợ giáo viên trong thiết kế đề tài: xây dựng nội dung và hình thức sản phẩm; xây dựng bộ câu hỏi định hướng; xây dựng đối tượng dạy học như chia nhóm
và lập sổ theo dõi dự án; xây dựng công cụ đánh giá; xây dựng hợp đồng ; xây dựng nguồn tài liệu tham khảo; xây dựng kế hoạch dạy học; giáo án dạy học (bản in và bản trình chiếu)…Ở công việc này chúng tôi sử dụng máy tính và mạng internet, phần mềm Microsoft Word, phần mềm vẽ bản đồ tư duy, phần mềm Powerpoint, phần mềm canva, xây dựng lớp học ảo
21 b) Là phương tiện để học sinh thực hiện sản phẩm đề tài: nhóm học sinh sử dụng máy tính nối mạng để tìm kiếm, thu thập thông tin (tất cả các nhóm); xem video bài giảng để làm sản phẩm nhóm
e) Công nghệ thông tin là phương tiện để hỗ trợ hợp tác nhóm Giáo viên tạo ra
“môi trường số” trang Wiki, trang facebook để giáo viên và các thành viên trong các nhóm có thể trao đổi thông tin thu thập; theo dõi và đánh giá sự hợp tác, đóng góp của các cá nhân đối với công việc chung; giáo viên giải đáp những thắc mắc khó khăn của các nhóm trong quá trình thực hiện dự án
g) Hỗ trợ giáo viên và học sinh tổ chức báo cáo và trưng bày sản phẩm đề tài Một buổi báo cáo đánh giá đề tài thành công không thể thiếu máy tính, máy chiếu, máy ảnh và máy quay ghi lại hình ảnh, phần mềm làm video để lưu lại sản phẩm của học sinh, đăng tải lên trang facebook của nhà trường, nguồn YouTube Việc làm này nhằm khẳng định chất lượng và thành công của đề tài; khơi dậy phong trào học tập
và sáng tạo trong nhà trường; khẳng định vị thế, uy tín cả nhà trường trong phụ huynh và học sinh
4 Kế hoạch dạy học thực nghiệm
CHỦ ĐỀ TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ( KHDH : Hai đứa trẻ
của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân xem phụ lục 1)
CHÍ PHÈO (TÁC PHẨM) : 3 tiết Phần 1: Kế hoạch dạy học bản in
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Kiến thức
- Hiểu được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm qua việc phân tích các nhân vật, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo
- Thấy được một số nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm
2 Bảng mô tả năng lực, phẩm chất cần phát triển cho HS
Trang 25STT MỤC TIÊU MÃ
HÓA NĂNG LỰC ĐẶC THÙ : Đọc – nói – nghe –viết
Cao
Đ1
sự kiện, nhân vật và mối quan hệ của chúng trong tác phẩm
Đ2
22 văn bản gửi gắm
5 Nhận biết và phân tích được một số yếu tố nghệ thuật
tiêu biểu của thể loại truyện ngắn
Đ5
thuộc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Chí Phèo
N1
NĂNG LỰC CHUNG: GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
thành nhiệm vụ nhóm được GV phân công
Hợp tác khi trao đổi, thảo luận về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ
GT-HT
đề; biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề
GQVĐ
PHẨM CHẤT CHỦ YẾU: NHÂN ÁI
xã hội xưa Từ đó, có ý thức trân trọng cuộc sống mình đang
có
NA
Trang 26B THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1 Thiết bị dạy học: Máy chiếu/Tivi, giấy A0, A4,…
2 Học liệu: SGK, hình ảnh, clip về tác giả và tác phẩm; Phiếu học tập,…
C TIẾN TRÌNH DẠY - HỌC Hoạt
động học (Thời gian)
Mục tiêu (STT của YCCĐ)
Nội dung dạy học trọng tâm PP/KTDH chủ đạo
Phương án đánh giá
HĐ 1:
Khởi động (10phút)
hoạt kiến thức trải nghiệm nền của
HS có liên quan đến tác giả, tác phẩm Chí Phèo
- Nêu và giải quyết vấn đề
- Đàm thoại, gợi
mở
Đánh giá qua câu trả lời của cá nhân cảm nhận chung của bản thân;
Do GV đánh giá
HĐ 2:
Khám phá kiến thức (60 phút)
Đ2,Đ3, Đ4 ,Đ5, N1,
GT HT,G
QV Đ
I Đọc hiểu khái quát
1 Nhan đề
2 Đề tài
3 Tóm tắt
Đàm thoại gợi mở;
Dạy học hợp tác (Thảo luận nhóm, thảo
Đánh giá qua sản phẩm sơ đồ tư duy với công cụ
là rubric; qua hỏi đáp; qua trình bày
3 Nhân vật Thị Nở
4 Hình tượng nhân vật Bá Kiến III.Tổng kết: Rút ra những thành công đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm
đôi);
Thuyết trình; Trực
thuật sơ đồ
tư duy
do GV và HS đánh giá
Đánh giá qua quan sát thái độ của HS khi thảo luận do GV đánh giá
Trang 27HĐ 3:
Luyện tập (10 phút)
Đ3,Đ4, Đ5 ,GQ
VĐ
Thực hành bài tập luyện kiến thức, kĩ năng
Vấn đáp, dạy học nêu vấn đề, thực hành
Kỹ thuật:
động não
Đánh giá qua hỏi đáp; qua trình bày
do GV và HS đánh giá
Đánh giá qua quan sát thái độ của HS khi thảo luận do GV đánh giá
HĐ 4:
Vận dụng (5 phút)
Đ3, Đ4, Đ5, V1, GQVĐ
Liên hệ thực tế đời sống để làm rõ thêm thông điệp tác giả gửi gắm trong tác phẩm
Đàm thoại gợi mở;
Thuyết trình; Trực quan
Đánh giá qua sản
qua trình bày do
GV và HS đánh giá
Đánh giá qua quan sát thái độ của HS khi thảo luận do GV đánh giá
HĐ 5:
Mở rộng (5 phút)
Đ5, GQVĐ
Tìm tòi, mở rộng kiến thức
Thuyết trình; kĩ thuật sơ đồ
tư duy
Đánh giá qua sản phẩm theo yêu cầu đã giao
GV và HS đánh giá
Trang 28Hoạt động 1: KHỞI ĐỘNG
a Mục tiêu: Đ1, GQVĐ
b Nội dung: HĐ cá nhân
c Sản phẩm: Câu trả lời của HS
d Tổ chức thực hiện
- GV chuyển giao nhiệm vụ: HS nghe 1 đoạn bài hát Chí Phèo ( Bùi
Công Nam) Sau khi nghe bài hát, HS nêu cảm nhận bước đầu về nhân vật Chí Phèo? Link bài hát:
https://www.youtube.com/watch?v=Z8av3gSa6YQ - HS thực hiện nhiệm vụ: lắng nghe bài hát và cảm nhận
- HS báo cáo kết quả: nêu cảm nhận của bản thân
– Gv dẫn dắt về tình thương con và nỗi khổ của người nông dân; dẫn ý kiến
của Nguyễn Tuân: “Kể từ khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trang sách
của Nam Cao người ta mới thấu hiểu một cách đầy đủ về nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ”
Tại sao vậy? Mời học sinh cùng tìm hiểu tác phẩm Chí Phèo
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN Dự kiến sản phẩm
- Bước1: Phát phiếu thăm dò sở thích
khả năng nhóm (Xem phụ lục 2) GV
phát trước 3 ngày để HS nghiên cứu và điền
- HS điền vào phiếu
- Bước 2: Giáo viên khởi động đề tài bằng việc cho học sinh xem video clip
về phim Làng Vũ Đại ngày ấy; cùng học sinh thảo luận để xác định nội dung và hình thức sản phẩm đề tài Giáo viên định hướng thảo luận tìm hiểu đúng
trọng tâm chủ đề (xem phụ lục3)
- Nghe giáo viên giới thiệu chủ đề;
đề xuất ý kiến, thảo luận xác định nội dung, hình thức sản phẩm đề tài
- Bước 3: GV công bố kết quả sắp xếp nhóm theo sở thích và khả năng
- Bước 4: GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm, hướng dẫn lập kế hoạch nhóm
(xem phụ lục 4 Sổ theo dõi dự án)
- Bước 5: GV phát phiếu học tập định
- Các nhóm bàn bạc thống nhất bầu nhóm trưởng, thư kí
- Các nhóm nhận nhiệm vụ
25
Trang 29hướng (xem phụ lục 5) và gợi ý cho học
sinh một số nguồn tài liệu có thể tham khảo giúp hoàn thành nhiệm vụ
- Góp phần hình thành các kĩ năng: kĩ năng thu thập, xử lí các thông tin, tư liệu;
kĩ năng phỏng vấn, điều tra thực tế; kĩ năng phân tích, đánh giá; kĩ năng giải quyết tình huống thực tiễn; kĩ năng viết báo cáo và trình bày vấn đề…
Hoạt động 3: KẾT THÚC ĐỀ TÀI (Báo cáo - đánh giá)
1.Mục tiêu:
a Mục tiêu: Đ2, Đ3, Đ4, Đ5, N1, GQVĐ
b Nội dung: HĐ cá nhân, hoạt động nhóm
c Sản phẩm của học sinh: Câu trả lời cá nhân, sản phẩm hoạt động nhóm
của HS.Tiến hành báo cáo đúng thời gian quy định
- Học sinh báo cáo được kết quả làm việc của các nhóm: giới thiệu nhóm và trình bày sản phẩm học tập dưới các hình thức thuyết trình, hoạt cảnh, tổ chức thảo luận, …
- Biết tự đánh giá cá nhân, đánh giá nhóm
- Hình thành được kĩ năng: thuyết trình, lắng nghe, thảo luận, nêu vấn đề, thương thuyết, đánh giá…
- Góp phần rèn luyện các kĩ năng bộ môn và các kĩ năng chuyên biệt - Bồi dưỡng tình yêu và ý thức trách nhiệm với những người xung
quanh 2 Thời gian: 3 tiết
3 Nhiệm vụ của học sinh
- Báo cáo các nội dung chủ đề theo sự phân công
Trang 3026
- Tham gia trò chơi, thảo luận và đặt câu hỏi các nhóm khác, khái quát được nội dung, vấn đề học tập
- Tự đánh giá và tham gia đánh giá kết quả dự án của các nhóm
khác 4 Nhiệm vụ của giáo viên
- Dẫn dắt vấn đề, tổ chức học sinh tham gia hoạt động báo cáo, đánh giá - Quan sát, đánh giá các sản phẩm của học sinh
- Hỗ trợ, cố vấn học sinh trao đổi, nhận xét đánh giá hoạt động học
tập 5 Tiến trình báo cáo - đánh giá sản phẩm
HOẠT ĐỘNG CỦA GV&HS Dự kiến sản phẩm Hoạt động I: Tìm hiểu chung
* Giáo viên phát phiếu cho học sinh và các giáo viên tham dự:
phiếu ghi nhận thông tin, phiếu đánh giá cá nhân, phiếu đánh giá kết quả nhóm (xem phụ lục 7)
* Các nhóm cử đại diện báo cáo các nội dung đề tài theo sự phân công
Nội dung 1: : Tìm hiểu nhan đề, đề tài
- Nhóm báo cáo: Nhóm 1
(Xem sản phẩm học tập của nhóm 1 ở phụ lục 8)
- Học sinh các nhóm khác theo dõi hoạt cảnh và hoàn thành phiếu ghi nhận thông tin
2 Đề tài: Người nông dân trước
CMT8 3 Tóm tắt
Hoạt động 2: Đọc - hiểu chi tiết văn bản Thao tác 1: Tìm hiểu hình ảnh Làng Vũ Đại
Trang 31Nội dung 2: Đọc – hiểu chi tiết
II ĐỌC – HIỂU CHI TIẾT
phụ lục 8)
- Học sinh các nhóm khác theo dõi bài thuyết trình
- Sau khi nhóm 2 báo cáo, các nhóm khác trao đổi, thảo luận làm
rõ hơn nội dung chủ
đề
- GV nhận xét đánh giá sơ bộ và chuyển sang nội dung 2.2 của
đề tài
* Làng Vũ Đại: là bức tranh thu nhỏ của làng Đại Hoàng, quê hương Nam Cao, điển hình cho nông thôn Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám với những mâu thuẫn điển hình: + Nông dân >< địa chủ
~ Đám đông vô danh (sợ sệt, nhu nhược, ghét lôi thôi)
- Mâu thuẫn giai cấp gay gắt, âm thầm mà quyết liệt, không khí tăm tối, ngột ngạt
-> hình ảnh thu nhỏ của nông thôn VN trước CM
Thao tác 2: TÌM HIỂU HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT CHÍ PHÈO
Trang 32CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH:
- GV chuyển giao nhiệm vụ:
* Nhiệm vụ 1: GV tổ chức cho học sinh đọc sáng tạo văn bản qua việc đóng kịch: Chí Phèo đến nhà Bá Kiến sau khi đi tù về
* Nhiệm vụ 2: Dựa vào phần chuẩn bị bài ở nhà, HS thảo luận nhóm theo các câu hỏi sau:
? Cách vào truyện của Nam Cao có gì độc đáo?
? Cuộc đời CP chia làm mấy chặng? Đó là những chặng nào?
+ Em hãy phác hoạ chân dung nhân vật Chí trước và sau khi ở tù về? + Những gì diễn ra trong tâm hồn Chí sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở? Tại sao Chí Phèo lại có sự thay đổi như vậy?
+ Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi bị Thị Nở từ chối? Vì sao Chí Phèo lại có hành động như vậy?
+ Hãy nêu ý nghĩa những câu nói của Chí phèo trước khi giết Bá Kiến và
lí giải tại sao CP lại tự sát?
28
- HS thực hiện nhiệm vụ
- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
- Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ
Cụ thể qua từng phần như sau:
Trang 332.2.HÌNH
TƯỢNG NHÂN VẬT CHÍ PHÈO
3, ở phụ lục 8)
- Học sinh các nhóm khác theo dõi và hoàn thành phiếu ghi nhận thông tin
- Sau khi nhóm 3 báo cáo, các nhóm khác và giáo viên trao đổi, thảo luận, làm rõ hơn nội dung chủ đề
- GV nhận xét, đánh giá sơ bộ và chuyển sang nội dung 2.2 (b) của dự
án
Chân dung CP trước và sau khi
đi tù về
Các nhóm khác lắng nghe, nhận
2.HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT CHÍ PHÈO 2.1 Sự xuất hiện độc đáo của nhân vật
vừa chửi - tiếng chửi cùng song hành trong cuộc đời
Chí tiếng chửi báo hiệu một Chí Phèo lưu manh, cô độc
CP chửi CP nhận được
Chửi trời Trời có của riêng nhà nào Chửi đời Đời là tất cả nhưng chẳng là ai Chửi cả làng VĐ Cả làng
VĐ tự nhủ chắc nó trừ mình ra Chửi cha đứa nào
Nhưng cũng không ai ra điều không chửi nhau với
§ CP chửi tất cả, rối loạn, tự đặt mình vào thế đối lập với mọi người Cái mà Chí nhận được chỉ là sự im lặng của mọi người
- Ý nghĩa tiếng chửi:
+ Tiếng chửi là phản ứng của Chí đối với cuộc đời, bộc lộ tâm trạng bất mãn cao độ khi bị làng xóm, xã hội gạt bỏ
+ Bộc lộ sự bất lực, tuyệt vọng
- Nghệ thuật: Vừa kể, vừa tả, vừa biểu hiện tâm lí
rất đặc sắc; ngôn ngữ nhân vật hòa nhập ngôn ngữ tác giả
+ Không cha, không mẹ, bị bỏ rơi ở lò gạch
+ Được người làng chuyền tay nhau nuôi
+ Năm 20 tuổi đi làm canh điền cho nhà Bá Kiến
29
Trang 34xét GV chốt kiến thức
Anh Chí
Người nông dân lương thiện
(Lưu manh hóa)
Thằng lưu manh: Chí
Phèo (Tha
hóa)
Con quỷ dữ
Nhóm 2 trình bày kết quả thảo luận:
Diễn biến tâm trạng CP sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở
Các nhóm khác lắng nghe, nhận xét GV chốt kiến thức
- Tính cách, phẩm chất + Là anh canh điền “hiền lành như đất”, làm việc quần quật
+ Mơ ước bình dị: “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải…”
+ Bị bà ba gọi lên bóp chân: “chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”
=> Chí Phèo là người nông dân lương thiện, chăm chỉ có
ước mơ bình dị, dù trong hoàn cảnh nào vẫn giữ được lương tâm trong sáng
c Chí Phèo sau khi đi tù (quá tr nh lưu manh hóa) - Nhân hình
+ Đầu trọc lốc + Răng cạo trắng hớn + Mặt đen mà rất cơng cơng + Hai con mắt gườm gườm trông gớm chết + Ngực phanh chạm trổ rồng phượng + Mặc quần nái đen, áo tây vàng
-> Thay đổi hoàn toàn về ngoại hình - Chân dung hoàn thiện của một kẻ giang hồ
Trang 35Nhóm 3 trình bày kết quả thảo luận:
Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi bị Thị Nở từ chối
Các nhóm khác lắng nghe, nhận xét GV chốt kiến thức
chim hót, tiếng cười nói, tiếng gõ mái chèo
Nó khơi dậy niềm khao khát, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo - Về nghệ thuật:
+ Là chi tiết rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật
+ Góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao: tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người
=> Chí Phèo đã hoàn toàn thức tỉnh, cái nhìn đầy chiều sâu nhân đạo của nhà văn
d Bi kịch bị cự tuyệt của Chí Phèo
- Nguyên nhân: do bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo → định kiến của xã hội
- Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:
+ Lúc đầu: Chí ngạc nhiên + hiểu rõ sự thật thì ngẩn ra - sửng sốt - không nói lên lời + uống rượu - càng uống càng tỉnh - đau khổ, tuyệt vọng
- khóc rưng rức - xách dao ra đi - vừa đi vừa chửi
31
Trang 36Nhóm 4 trình bày kết quả thảo luận:
Ý nghĩa nhữn câu nói của CP trước khi chết? Lý giải việc CP tự sát
Các nhóm khác lắng nghe, nhận xét GV chốt kiến thức
lương thiện nữa
- Giết Bá Kiến : sự phản kháng lại kẻ đã đẩy mình vào con đường bi thảm:
+ Nhận ra và thấm thía tội ác của kẻ đã cướp đi nhân hình và nhân tính của mình
+ Hiểu ra nguồn gốc nỗi đau của mình, nguyên nhân bị đẩy vào con đường tha hóa
- Tự sát : Chí Phèo đã thức tỉnh hoàn toàn + Không thể trở về đường cũ
+ Không có con đường trở về với cuộc sống lương thiện
→ Chí Phèo chết để giúp mình thoát khỏi kiếp quỷ dữ
=> CP điển hình cho số phận bi thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám
Thao tác 3: TÌM HIỂU HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT THỊ NỞ
Nhóm 5 trình bày kết
Thị Nở ( ngoại hình, tính cách…)
Các nhóm khác lắng nghe, nhận xét
- GV nhận xét, đánh giá sơ bộ và chuyển sang nội dung 2.3 của đề tài
3 Hình tƣợng nhân vật Thị Nở
- Ngoại hình + Ngẩn ngơ + Xấu ma chê quỷ hờn + Đã vậy, Thị còn nghèo và nhà có mả hủi
⇒ Thị khó có được hạnh phúc bởi một con người mang trên mình toàn những điều bất lợi
- Là con người với phẩm chất tốt đẹp, giàu tình người: - Thị Nở còn là người có khát khao hạnh phúc gia đình - Là nhân vật góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm: bi kịch cuộc đời Chí Phèo
⇒ Thị Nở là nhân vật thúc đẩy sự phát triển của câu chuyện, đồng thời cho người ta cảm nhận sâu sắc hơn
bi kịch của nhân vật chính: Chí Phèo
Tóm lại:
Trang 3732
- Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao trao tấm lòng trân trọng vào con người, đồng thời cũng phơi bày thực tế tàn bạo, khắc nghiệt của xã hội đẩy người nông dân vào bi kịch
Thao tác 4: TÌM HIỂU HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT BÁ KIẾN
trao đổi, thảo luận, làm
rõ hơn nội dung chủ
đề
- GV nhận xét, đánh giá
sơ bộ và chuyển sang
nội dung 2.3 của đề tài
- Một tên địa chủ xảo quyệt, gian hùng
→Lừa lọc, giả dối, xảo quyệt
- Cách kiếm tiền: Đểu cáng, tàn bạo: làm giàu trên mồ hôi, xương máu của người nghèo
* Dâm ô, đê tiện
Tóm lại:
Bá Kiến là một nhân vật điển hình, là đại diện tiêu biểu cho giai cấp cười hào, địa chủ đương thời
Hoạt động 3: HƯỚNG DẪN HS TỔNG KẾT
Trang 38- GV yêu cầu HS khái quát lại những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- HS suy nghĩ trả lời - HS báo cáo kết quả - GV chuẩn kiến thức
III/ TỔNG KẾT
1 Nội dung: Tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa
phong kiến, phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng như họ đã bị biến thành quỷ dữ
* Giá trị nhân đạo: cảm thương sâu sắc trước
cảnh người nông dân cố cùng bị lăng nhục; niềm tin vào bản chất lương thiện của con người
3 Nghệ thuật
- Xây dựng những nhân vật điển hình; nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo
- Kết cấu truyện mới mẻ
- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại gần gũi tự nhiên
HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
a Mục tiêu: Giúp học sinh nắm chắc bài học, bộc lộ quan điểm cá nhân về hiện
tượng Chí Phèo
b Nội dung: Hoạt động nhóm
c Sản phẩm: Câu trả lời, sản phẩm hoạt động nhóm của HS
d Tổ chức thực hiện và dự kiến sản phẩm của HĐ
Hoạt động của GV& HS Dự kiến sản phẩm
Trang 39- GV chuyển giao nhiệm vụ:
? Thay lời Nam Cao trả lời câu hỏi: Ai đẻ ra Chí Phèo?
? Tạo nên một Chí Phèo, con quỷ dữ của làng Vũ Đại, ai là người phải chịu trách nhiệm?
*GV quan sát học sinh trong quá trình hoạt động nhóm
– Học sinh làm việc theo nhóm – Đại diện nhóm trình bày
– Các nhóm khác nhận xét, bổ sung
*GV nhận xét, chốt kiến thức, gợi
mở để học sinh tiếp tục cảm nhận tác phẩm
*Ai đẻ ra Chí Phèo? : không phải
người mẹ khốn khổ, không phải dân làng mà chính là xã hội thực dân nửa phong kiến bất công
* Trách nhiệm:
– Người mẹ sinh ra Chí: người mẹ nào phải bỏ con cũng đều khốn khổ, bất hạnh nhưng người mẹ cũng phải chịu trách nhiệm một phần …
– Chính Chí Phèo: phải chịu trách nhiệm về cuộc đời mình và những tội ác mà mình gây ra…
– Xã hội thực dân nửa phong kiến:
Nguyên nhân chính đẩy Chí Phèo vào bi kịch…
HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG a.Mục tiêu: Đ4, Đ5, V1
b Nội dung hoạt động: Hoạt động cá nhân
c Sản phẩm: Bài văn của HS
d Tổ chức thực hiện và dự kiến sản phẩm của HĐ
34
Hoạt động của GV và HS Dự kiến sản phẩm
Trang 40* CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH:
- GV giao nhiệm vụ: HS chọn 1 trong 2 bài tập:
BT1:Hãy phân tích tác
phẩm Chí Phèo để thấy Nam Cao đã khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có?
BT2:Phát hiện vấn đề lạm
dụng rượu bia và hậu quả của vấn đề này ở địa phương; đề xuất giải pháp khắc phục
- HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ (có thể vào tiết sau)
- Nhận xét và chuẩn kiến thức
- Nội dung: Bản chất câu hỏi: Nêu những
sáng tạo của Nam Cao trong truyện ngắn “Chí Phèo”:
* Sáng tạo của Nam Cao trong "Chí
Phèo”: 1 Về nội dung:
a Giá trị hiện thực mới mẻ: Nam Cao khơi tìm tận đáy nỗi đau tột cùng của con người Con người ấy bị thực dân bóp nghẹt, định kiến cô lập và kết quả là sự bế tắc
b Giá trị nhân đạo độc đáo:Nam Cao miệt mài lật xới tận cùng để gạn lấy “giọt thiên lương” nhỏ nhoi, khuất lấp nhưng trong trẻo, thanh khiết nơi tâm hồn tưởng như đã hoàn toàn méo mó của Chí
2 Về nghệ thuật:
sắc
∙ BT2: Viết dưới dạng 1 đoạn văn nghị
luận xã hội về một hiện tượng đời sống
HOẠT ĐỘNG TÌM TÒI, MỞ RỘNG
a Mục tiêu: GQVĐ b.Nội dung hoạt động: Hoạt động cá nhân
c Các bước dạy học:
Hoạt động của GV Dự kiến sản phẩm:
* CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH: - GV giao nhiệm vụ:
+ Vẽ sơ đồ tư duy bài học + Sưu tầm thêm một số tác phẩm của Nam Cao trước cách mạng