Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nét đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương biểu hiện
Trang 1NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
Ở MỘT SỐ ĐÌNH LÀNG TIÊU BIỂU TẠI BÌNH DƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 2NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
Ở MỘT SỐ ĐÌNH LÀNG TIÊU BIỂU TẠI BÌNH DƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Văn Minh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án Tiến sĩ Nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu
biểu tại Bình Dương là công trình do tôi nghiên cứu, thực hiện Những vấn đề nghiên
cứu cùng những ý kiến tham khảo, tài liệu đều có chú thích nguồn đầy đủ Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung trong luận án
TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 7 năm 2022
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu Trang 01 Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
của đề tài Trang 09
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trang 09 1.2 Cơ sở lý luận và lý thuyết nghiên cứu Trang 24 1.3 Cơ sở thực tiễn Trang 37
Tiểu kết Trang 47
Chương 2: Những biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương Trang 48
2.1 Nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương biểu hiện thông qua
ngôn ngữ biểu tượng Trang 48 2.2 Nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương biểu hiện thông qua
ngôn ngữ điêu khắc Trang 62 2.3 Nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương biểu hiện thông qua
ngôn ngữ hội họa Trang 100 Tiểu kết Trang 102
Chương 3: Nhận định đặc trưng và định hướng bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương trang 104
3.1 Sự tương đồng và khác biệt của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương trong liên hệ so sánh với đình làng Việt tại Bắc Bộ và Nam Bộ Trang 104 3.2 Đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương Trang 126 3.3 Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng
tại Bình Dương trong bối cảnh hiện nay ……… Trang 133 Tiểu kết Trang 146
Kết luận Trang 147
Danh mục các công trình khoa học đã công bố Trang 151
Tài liệu tham khảo Trang 152 Phụ lục minh họa Trang 161
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
AUN - QA Bộ tiêu chuẩn tạo ra sự liên thông
và công nhận chất lượng đào tạo giữa các trường Đại học trong và ngoài AUN
02 One Commune One
MOET Chương trình kiểm định giáo dục
của Bộ giáo dục Việt Nam
08 Nghiên cứu sinh NCS Học viên tham gia vào quá trình
đào tạo tiến sĩ
09 Thành phố Hồ Chí
Minh
Tp.HCM Tên một thành phố tại Việt Nam
10 Thành phố Tp Một đơn vị hành chánh tại Việt
Nam
Trang 611 Trang tr Số trang được trình bày
trong công trình nghiên cứu
12 Ủy Ban Nhân Dân UBND Một đơn vị hành chánh
tại Việt Nam
Trang 7DANH MỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1: Danh sách đình làng tại tỉnh Bình Dương Trang 161 Phụ lục 2: Hình ảnh không gian, kiến trúc đình làng tại Nam Bộ
và đình làng tại Bình Dương Trang 175
Phụ lục 3: Hình ảnh nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
biểu hiện thông qua ngôn ngữ biểu tượng Trang 180
Phụ lục 4: Hình ảnh nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
biểu hiện thông qua ngôn ngữ điêu khắc và hội họa Trang 187
Phụ lục 5: Sự tương đồng và khác biệt của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình
Dương trong liên hệ so sánh với đình làng Việt tại Bắc Bộ và Nam Bộ Trang 226
Phụ lục 6: Một số đồ án vector trang trí tiêu biểu ở đình làng
tại Bình Dương Trang 262
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các dạng thức tín ngưỡng của người Việt tại Bình Dương cũng như Nam Bộ được hình thành trên cơ sở vốn có của làng xã Trung, Bắc được người dân Bắc Bộ di
cư mang theo vào vùng đất mới Nam Bộ Trong tâm thức của người dân khi đến định
cư ở vùng đất mới này, hình ảnh “cây đa, bến nước, con đò, mái đình” luôn gợi nhớ đến quê hương, xứ sở, cội nguồn Vì vậy, trong các loại hình kiến trúc cộng đồng của làng xã Việt nói chung, Bình Dương xưa nói riêng thì ngôi đình chiếm vị trí trung tâm, là nơi sinh hoạt, giao lưu văn hóa, lễ hội, là trụ sở chính của chính quyền làng
xã và là nơi tôn nghiêm, kính cẩn thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Những dạng thức, mô hình đó ít nhiều có sự biến đổi phù hợp với điều kiện sống của vùng đất mới khai khẩn đã góp phần tạo nên giá trị bản sắc riêng thể hiện đặc trưng vùng miền thông qua các yếu tố tạo hình
Vào thế kỷ XVI, bản sắc nghệ thuật bản địa ở các tỉnh Nam Bộ thể hiện thông qua đặc trưng ngôn ngữ tạo hình của những tác phẩm trang trí tại đình, chùa, miếu, lăng,… của địa phương khu vực đó với các yếu tố tạo hình trang trí riêng biệt Đặc biệt, đối với đình làng Việt thể hiện rất cụ thể thông qua nghệ thuật chạm khắc gỗ trên từng cấu kiện kiến trúc và đồ án trang trí tại đình làng Do đó, đình làng tại Bình Dương cũng không ngoại lệ, các yếu tố tạo hình trang trí có những đặc trưng riêng về nội dung biểu tượng, hình thức, ngôn ngữ thể hiện rõ nét và xứng đáng được trân quý
Hiện nay, Bình Dương có 125 ngôi đình, trong đó có ba ngôi đình được công
nhận là Di tích đình làng kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, mười ngôi đình được công nhận Di tích đình làng lịch sử - văn hóa cấp Tỉnh và một ngôi đình thuộc Di tích
đình làng lịch sử cách mạng cấp Tỉnh Quy mô xây dựng lớn nhỏ khác nhau nhưng
đa phần có hình thức trang trí, các yếu tố tạo hình tương đồng nhau nên vô hình trung
đã hình thành phong cách tạo hình địa phương đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Các nhà nghiên cứu Lịch sử, Văn hóa, Dân tộc học đã tìm tòi và nghiên cứu sâu
về mảng thiết chế văn hóa, tín ngưỡng và giá trị lịch sử của đình làng tại Bình Dương thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu khác nhau dưới dạng khảo cứu, ghi chép,
Trang 9xuất bản thành sách hay đề tài cấp Cơ sở, cấp Tỉnh Đồng thời qua phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu đình làng tại Bình Dương, cho thấy đình làng tại Bình Dương cần được bổ sung nghiên cứu sâu dưới góc nhìn Mỹ thuật học nhằm làm rõ yếu tố địa văn hóa, văn hóa vùng tác động như thế nào đến việc hình thành nghệ thuật trang trí
Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập hiện nay, việc giữ gìn và phát huy những giá trị đặc trưng truyền thống văn hóa của dân tộc, phát huy giá trị mỹ thuật trong đời sống là hết sức quan trọng và cần thiết Theo tinh thần Đại hội XI của Đảng về chăm
lo, phát triển văn hóa cần xây dựng và tăng cường hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa ở tất cả các cấp, rất cần xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chú trọng nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn [128] Một trong những thiết chế văn hóa vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị đặc trưng đó chính là những ngôi đình làng tại các thôn xã trên khắp đất nước ta Chính vì vậy mà UBND tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo các cấp, ban, ngành, sở, hội địa phương ra sức bảo vệ, lưu trữ và bảo tồn các thiết chế văn hóa đình, chùa, miếu… Đặc biệt, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Dương, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch khuyến khích, động viên anh em, nghệ sĩ tìm tòi nghiên cứu và sáng tác về lĩnh vực này để bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, đậm đà bản sắc của dân tộc nói chung, của địa phương Bình Dương nói riêng trong giai đoạn hội nhập hôm nay
Với những lý do trên, NCS chọn đề tài Nghệ thuật trang trí ở một số đình làng
tiêu biểu tại Bình Dương với mong muốn lắp vào khoảng trống còn thiếu về những
nhận định, phân tích, đánh giá làm sáng tỏ đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương; đồng thời bổ sung vào việc bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 102.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định cơ sở lý luận về nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương Nhận diện biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương
Xác định đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở để bảo tồn nguyên gốc các yếu tố tạo hình và
đề xuất các giải pháp phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng vận dụng trong kiến trúc hiện đại, một số thiết kế, trang trí ứng dụng ngày nay Phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống ở đình làng tại Bình Dương trong bối cảnh hội nhập hiện nay thông qua phát triển du lịch trải nghiệm các giá trị văn hóa lịch sử nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trong định hướng 5 năm giai đoạn 2020 - 2025 của Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ XVI
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nét đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ điêu khắc, ngôn ngữ hội họa với những yếu tố tạo hình về đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục, không gian trên các nguyên tắc trang trí cổ điển quen thuộc
Khách thể nghiên cứu: Hàm chứa đối tượng nghiên cứu là các đặc trưng nghệ thuật trang trí Vậy khách thể nghiên cứu là những đồ thờ, đồ án trang trí, hoành phi liễn đối, phù điêu chạm nổi, bức bình phong… ở đình làng tại Bình Dương
Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát cụ thể ở mười một ngôi đình làng tại Bình Dương như: Đình Phú Long, đình Tân An, đình Dĩ An, đình Vĩnh Phước, đình Bình Nhâm, đình Nhựt Thạnh, đình Tân Hội, đình Dinh ông Ngãi Thắng, đình An Sơn, đình Dầu Tiếng, đình Phú Cường (Bà Lụa)
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương thông qua quá trình khai phá, thành lập thôn xã ở vùng đất Bình Dương
từ cuối thế kỷ XVII cho đến ngày nay
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp nghiên cứu
Mỹ thuật để vận dụng trong phân tích những đặc trưng của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương thông qua những nguyên lý và yếu tố tạo hình trang trí từ góc nhìn của Mỹ thuật học
Phương pháp nghiên cứu kết hợp với hướng tiếp cận liên ngành Mỹ thuật học với Sử học, Văn hóa học, Dân tộc học và Dân tộc học văn hóa nghệ thuật, Xã hội học văn hóa nghệ thuật, Ký hiệu học văn hóa, Triết học, Mỹ học nhằm làm rõ hơn những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu ở nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau
Phương pháp nghiên cứu Điền dã được vận dụng để quan sát, ghi chép, chụp ảnh, khảo sát chi tiết các di tích đình làng để làm tư liệu phân tích, đánh giá và kiểm chứng trong quá trình nghiên cứu luận án
Phương pháp nghiên cứu So sánh đối chiếu: Trong quá trình nghiên cứu và so sánh, đối tượng so sánh được chọn dựa trên các tiêu chí như: Đồng đại, chất liệu, hình thức và ngôn ngữ tạo hình để tránh sự khập khiễng khi so sánh và kết quả nghiên cứu không mang tính võ đoán
Phương pháp nghiên cứu Thống kê: Thống kê hệ thống hóa biểu tượng hệ biểu tượng, các biểu hiện của nghệ thuật trang trí Từ đó, NCS lập bảng thống kê và so sánh các biểu hiện nghệ thuật trang trí để làm sáng tỏ điểm tương đồng và khác biệt của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương với đình làng Việt
Phương pháp nghiên cứu Điều tra, Phỏng vấn: Điều tra, Phỏng vấn Ban quý
tế, chuyên gia về đình làng và nghệ nhân chạm khắc để nắm rõ hơn về lịch sử và thể chế văn hóa tại đình làng…
Ngoài ra, NCS vận dụng thêm phương pháp nghiên cứu Tổng hợp, Phân tích
để hệ thống hóa các tài liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Văn hóa, lịch sử của vùng đất Bình Dương tác động như thế nào đến quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương?
Trang 12Câu 2: Những biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương được thể hiện như thế nào thông qua ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ điêu khắc và ngôn ngữ hội hoạ?
Câu 3: Nhận diện đặc trưng của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
là gì? Vai trò của chúng như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đình làng trong giai đoạn hội nhập hiện nay?
6 Giả thuyết nghiên cứu
NCS xây dựng các giả thuyết từ câu hỏi nghiên cứu trên theo phương pháp đối chiếu, so sánh và biện luận thông qua phân tích đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một
số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương như sau:
Giả thuyết 1: Đặc trưng văn hóa vùng đất Bình Dương có sự kế thừa, tiếp
biến văn hóa Bắc Bộ và giao thoa với văn hóa dân tộc Hoa góp phần hình thành đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
Đặc trưng văn hóa vùng đất Bình Dương là sản phẩm của quá trình giao tiếp giữa người dân Bình Dương xưa với các vùng khác Có thể nhận thấy đặc trưng ấy hình thành trong quá trình di cư từ Bắc vào Nam mà họ mang theo Đặc biệt, trong
xã hội cổ truyền của người nông dân có tâm lý hướng nội về cội nguồn dân tộc và cảm nhận về tính trội trong tính cách con người đã nảy sinh nét riêng của văn hóa vùng trong quá trình giao tiếp, đồng thời thể hiện ở các khía cạnh đời thường khá độc đáo và tiêu biểu như: Những ngôi làng dọc trục lộ, hình ảnh lũy tre làng, cây đa, bến nước, con đò… thể hiện qua nhiều lễ hộitruyền thống của các dân tộc Việt và Hoa trên đất Bình Dương mang tính chất phổ biến của lễ hội nông nghiệp và lễ hội làng nghề Điều này đã tác động mạnh mẽ đến nếp nghĩ, phản ánh tâm thức, tư duy sáng tạo dân gian của người dân Bình Dương xưa trong quá trình xây dựng và trang trí đình làng tại Bình Dương thông qua Lễ hội Kỳ Yên, kiến trúc đình làng, biểu tượng, các yếu tố và nguyên lý tạo hình…
Giả thuyết 2: Đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại
Bình Dương được biểu hiện rõ nét thông qua biểu tượng, hình thức và ngôn ngữ tạo hình
Trang 13Biểu tượng ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương mang tính dân tộc, khẳng định được bản sắc riêng của địa phương thể hiện qua phong cách trang trí giàu tính dân gian, tạo hình bố cục đối xứng và màu sắc tươi sáng Ở một số đình làng tiêu
biểu tại Bình Dương, biểu tượng thường bị chi phối và chịu sự tác động từ vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên và văn hóa vùng đã tạo được nét đặc trưng riêng cho nội dung
biểu tượng, giảm bớt biểu tượng Tứ linh thay vào đó là biểu tượng Hoa quả, Chim
muông
Biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương thông qua hình thức và ngôn ngữ tạo hình khác nhau như: Điêu khắc và hội họa Đặc trưng nghệ thuật trang trí biểu hiện ở các khía cạnh yếu tố và nguyên lý tạo hình như: phong cách chạm lộng mảng khối, nét chạm khúc chiết, bố cục cân đối, màu sắc tươi sáng nhưng trầm ấm và không gian ước lệ, đồng hiện trên mặt phẳng Đồng thời, có
sự sáng tạo và mạnh dạn vận dụng luật phối cảnh họa hình vào hội họa trang trí tại các công trình phụ, nhang án…
Giả thuyết 3: Đặc trưng nổi bật của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình
Dương mang giá trị truyền thống Việt, ẩn giấu nghệ thuật địa phương đặc sắc và tinh
tế Chúng có vai trò quan trọng và cấp thiết trong việc bảo tồn cũng như phát huy giá trị nghệ thuật trang trí truyền thống trong giai đoạn hội nhập hiện nay
Đình làng tại Bình Dương có màu sắc tươi sáng, trầm ấm Tạo hình phá vỡ bố cục cặp đôi trang trí truyền thống thay vào đó là tạo hình cân đối với những biểu
tượng đời thường, rất chân thật và đó là đặc trưng của địa phương như: Lựu, Na, Đào,
Nho, Sóc, Vịt, Chuột, Bầu, Bí, Hoa Hồng… Phong cách tạo hình bình dân, giản dị
đồng thời mang tính “ước lệ hóa” là điểm tương đồng với tạo hình dân gian của đình làng tại Bắc Bộ cần được phát huy, đóng vai trò quan trọng trong quá trình bảo tồn nguyên gốc Đồng thời, phát huy giá trị nghệ thuật đình làng vận dụng trong kiến trúc hiện đại, một số thiết kế, trang trí ứng dụng giai đoạn hội nhập ngày nay
Trang 147 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài luận án là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý luận và thực tiễn cụ thể trên mỗi đặc trưng của nghệ thuật trang trí truyền thống ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương Ý nghĩa khoa học của luận án là cơ sở dữ liệu về việc báo cáo, thống kê và phân tích nghệ thuật trang trí truyền thống bản địa thể hiện qua những biểu hiện đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình
Dương
Luận án cũng đóng góp vào nguồn tư liệu tham khảo, chuyên khảo cho ngành
mỹ thuật, cho công tác quản lý di tích của địa phương và đó là nguồn tài liệu cho quá trình biên soạn bài giảng, chuyên đề… về lịch sử mỹ thuật Việt Nam giai đoạn Mỹ thuật đình làng tại Bình Dương thế kỷ XVII, hoa văn vốn cổ và các học phần Đồ họa vector
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài làm sáng tỏ và nhấn mạnh giá trị nghệ thuật cổ xưa vẫn còn tồn tại ở một số đình tiêu biểu là điểm thu hút phát triển du lịch truyền thống và văn hóa nghệ thuật ở Bình Dương đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế giai đoạn hội nhập mở cửa hiện nay
Luận án cung cấp một số hình ảnh về biểu tượng truyền thống và đồ án hoa văn vẽ vector cùng một số thông tin nhận diện đặc trưng và giá trị nghệ thuật Đồng thời đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương trong giai đoạn hội nhập hiện nay thông qua vận dụng vào kiến trúc
và một số thiết kế hiện đại, đào tạo mỹ thuật gắn với trải nghiệm kết hợp điền dã và thực tế sản xuất chuyên môn
8 Cấu trúc luận án
Phần mở đầu (07 trang), kết luận (03 trang), danh mục các công trình khoa học
đã công bố liên quan đến đề tài luận án (01 trang), tài liệu tham khảo (09 trang), phụ lục minh họa (134 trang) và nội dung luận án gồm ba chương:
Trang 15Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của biểu tượng (39 trang)
Chương 2: Những biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương (56 trang)
Chương 3: Sự tương đồng, khác biệt, đặc trưng và phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương (43 trang)
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Mỹ thuật học, quan điểm
Mỹ học của M Cagan về cái đẹp và giá trị nghệ thuật là nét đẹp vĩnh hằng theo thời gian, phụ thuộc vào yếu tố nhân sinh quan của thời đại Thông qua việc tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước kết hợp sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Mỹ thuật học với Văn hóa học, Sử học, Dân tộc học, Thẩm
mỹ học và Xã hội học nghệ thuật để phân tích sự kế thừa, tiếp biến văn hóa trong quá trình cộng cư có giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên cơ sở phân kỳ mỹ thuật giai đoạn di dân Việt khai hoang, mở cõi và quần tụ cư nơi vùng đất mới
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống tư liệu tập hợp được, có liên quan đến đề tài luận án từ năm 1973 đến nay, luận án chia nhóm các công trình nghiên cứu như sau: Các công trình liên quan mỹ thuật truyền thống, Các công trình liên quan lịch sử - văn hóa đình làng Nam Bộ và Bình Dương
1.1.1 Các công trình liên quan mỹ thuật truyền thống
Nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu từ năm 2017 cho đến nay về lĩnh vực Văn hóa, Xã hội và Mỹ thuật trang trí đình làng, đặc biệt là đình làng tại Bắc Bộ Ông có cái nhìn tổng quan về biểu tượng truyền thống, giá trị biểu tượng trong trang trí đồ thờ, giá trị điêu khắc trang trí, giá trị phù điêu trang trí trên di sản Văn hóa… qua các công trình nghiên cứu như:
Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt (Vùng châu thổ sông Hồng)[14], Đồ thờ trong
di tích đình làng của người Việt [15], Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [16], Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa [17], Đình làng Việt (châu thổ Bắc Bộ) [18], Đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ [19]… Ông đã khái quát về sự hình
thành và phát triển của đình làng Việt theo phân kỳ lịch sử Từ thời Trần, đình là nhà nghỉ chân công cộng, đình phát triển hưng thịnh vào thế kỷ XVI thời Mạc tại Bắc Bộ Kiến trúc đình làng tại Bắc Bộ là kiến trúc gỗ, có những nét đặc trưng về màu sắc
Trang 17kiến trúc, kết cấu mái cong, thân đình thấp… Nhà nghiên cứu có khá nhiều nhận định,
phân tích về giá trị và ý nghĩa các hình tượng, biểu tượng truyền thống như: Tứ linh,
Tứ thời, Nhật nguyệt, Bát bửu… Những biểu tượng này biến đổi theo thời gian và
dòng chảy phát triển của đình làng, đồng thời là những công trình kiến trúc truyền
thống Biểu tượng truyền thống, biểu tượng Phát sáng… được nghệ nhân khắc họa,
thể hiện qua hình thức chạm khắc Mỗi hình thức chạm khắc gắn liền với tư duy sáng tạo dân gian và đặc trưng vùng miền nơi đó thông qua các yếu tố tạo hình và chất liệu trang trí Những công trình nghiên cứu của ông đã phân tích rất nhiều về hình thức
chạm khắc dạng bong kênh, phong cách tế kiểu với những biểu tượng Rồng, không
gian đồng hiện trên các cấu kiện trang trí đình làng, khám thờ, cửa võng… là đặc trưng phong cách chạm khắc trang trí đình làng tại Bắc Bộ Chuỗi các công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Trầm Lâm Biền là tài liệu rất quý giá, đáng tin cậy
mà tác giả có thể xem đó là những cơ sở lý luận nòng cốt để nghiên cứu đề tài luận
án này
Bộ tư liệu có giá trị mỹ thuật cao với hình ảnh Kiến trúc đình làng Việt qua tư
liệu bảo tồn di tích đình làng tập 1, 2 và 3 của nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Cương là
nguồn tài liệu hình ảnh chất lượng cao, sắc sảo về hình ảnh kiến trúc và biểu tượng của 39 ngôi đình làng có kiến trúc lâu đời tại Bắc Bộ Hình ảnh tư liệu qua công trình nghiên cứu miêu tả rõ nét hình thức chạm khắc tỉ mỉ, màu gỗ sáng tự nhiên, không
gian đồng hiện, ước lệ hóa với các biểu tượng Tứ linh Đó là những biểu hiện đặc
trưng nghệ thuật chạm khắc gỗ mà đình làng tại Bắc Bộ và đình làng tại Nam Bộ cũng như Bình Dương cần được đối chiếu và so sánh để làm rõ đặc trưng, đối tượng nghiên cứu của luận án
Biểu tượng cổ trong công trình giai đoạn Triều Nguyễn kết hợp với tư liệu
hình ảnh trong quyển Hoa văn cung đình Huế của nhà nghiên cứu Ưng Tiếu [96]
được vận dụng cho nghiên cứu biểu tượng trong nội dung của luận án Tác giả đã
phân tích sâu và chi tiết từng loại biểu tượng như: Tứ linh, Tứ thời, Tứ hựu, Phát
sáng… và ý nghĩa của chúng Khảo sát thực địa ở các đình làng tại Bình Dương,
những biểu tượng này thường xuyên hiện hữu ở các bao lam, đường viền chạm nổi
Trang 18trên các khám thờ, nhang án, đồ thờ… Kết hợp với các văn tự Hán Nôm được nhà nghiên cứu Ưng Tiếu [96] giới thiệu trên các chạm khắc thềm bậc cửa, khám thờ là biểu tượng của mỹ thuật thời Nguyễn, NCS đã so sánh và đối chiếu với các văn tự Hán Nôm trên các đồ thờ, hoành phi, liễn đối tại các đình Tân An, đình Dĩ An, đình Nhựt Thạnh… cho thấy nghệ nhân Bình Dương đã tiếp thu và thể hiện lại biểu tượng văn tự Hán Nôm với nhiều hình thức và chất liệu khác nhau như: Khắc gỗ, đắp nổi
bê tông và sơn son thếp vàng Điều này làm căn cứ để NCS phân tích và kết luận nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương có sự tiếp biến văn hóa trong tư duy sáng tạo dân gian thông qua biểu tượng ở các đình làng tại Bình Dương
Nhà nghiên cứu Huỳnh Lứa đã nhận định “nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt ở Nam Bộ không phong phú và đa dạng như nghệ thuật tạo hình dân gian
ở miền Bắc, nơi có vốn bề dày lịch sử phát triển qua hàng chục thế kỷ Tuy nhiên, nó cũng có những đặc điểm đặc sắc riêng đáng chú ý” [70, tr.313] Từ đó, nhà nghiên cứu có những phân tích sâu sắc về nghệ thuật chạm khắc gỗ của người Việt ở Nam
Bộ với nhiều thể loại khác nhau như: Tượng tròn, chạm lộng và phù điêu Tượng tròn thường tạc các tượng cầm thú, chim muông, ít chú ý chạm khắc nhân tượng Chạm lộng là thể loại đặc sắc nhất trong nghệ thuật chạm khắc gỗ của nghệ nhân Nam Bộ Chạm lộng thường sử dụng trong quá trình tạo tác các bao lam, rìa nhang án, nhang án… Tác phẩm thường tập trung vào biểu tượng truyền thống của nghệ thuật dân gian, tôn giáo, cung đình Mặc dù với biểu tượng truyền thống, nghệ nhân đã thể hiện đường nét con bướm, con chim, hoa quả với nhiều khác biệt so với biểu tượng cùng loại ở những vùng miền khác Nhà nghiên cứu đã trình bày cụ thể hai khái niệm về nghệ thuật chạm lộng phong cách tế kiểu và phong cách mảng khối Với phong cách
tế kiểu, người nghệ nhân phải có tay nghề tinh xảo, bởi tác phẩm được chạm, đục bằng những nét rất thanh mảnh, nhiều đoạn, nhiều nét chỉ nhỏ như que tăm, que nhang Những nét thanh, nhỏ lại được chạm chồng lên nhau thành nhiều lớp, nhiều chùm đan xen nhau Với phong cách mảng khối, biểu tượng sự vật được thể hiện bằng những nét chạm vạm vỡ, chắc khỏe Đó là những mảng lớn, thoạt nhìn có vẻ thô sơ Người ta thường chạm rất ít lớp, hoặc chỉ chạm một lớp, tất cả các chi tiết đều được
Trang 19phô bày trên một mặt phẳng với nét đục tự do, phóng khoáng, bố cục tạo nhiều khoảng trống và không gian tác phẩm thường rộng lớn, bao la
Phù điêu (chạm nổi) buổi đầu không phát triển mạnh bằng chạm lộng Đến đầu thế kỷ XX, chạm trổ được phát triển mạnh mẽ hơn Nét chạm cũng sáng tạo và điêu luyện hơn Nét đặc sắc của thời kỳ này là nhiều nghệ nhân đã sử dụng một cách thành thạo luật phối cảnh của mỹ thuật hiện đại phương Tây đưa vào trong tác phẩm chạm khắc với biểu tượng những thắng cảnh của đất nước Mặc dù hình thức chạm nổi biểu tượng phong cảnh đất nước, thiên nhiên bằng chất liệu gỗ có vận dụng luật phối cảnh trong tạo hình sáng tác mà nghệ nhân Nam Bộ đã làm được nhưng với hình thức này, nghệ nhân đã sử dụng hình thức đắp nổi, chất liệu bê tông sơn màu vào trang trí các tác phẩm tại đình làng tại Bình Dương Về vấn đề nghệ thuật tạo hình dân gian đã được nhà nghiên cứu đưa ra những kết luận khoa học then chốt giúp luận
án có cơ sở nghiên cứu, phân tích và chứng minh nhận định về những đặc trưng của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương, là một phần mục đích nghiên cứu của
đề tài luận án Đó là quan điểm: “Biểu hiện rõ nhất… là xu hướng phá vỡ các biểu tượng cặp đôi cổ điển và đưa vào tác phẩm các hình nét hồn hậu của chim muông, cây trái địa phương, làm thỏa mãn tâm cảm của người dân vùng đất mới” [70, tr.321]
Công trình Địa chí Bình Dương tập 04 [122] do UBND tỉnh Bình Dương phát
hành năm 2010, là công trình nghiên cứu lớn của tỉnh có hàm lượng khoa học cao, vừa mang tính tuyên truyền văn hóa và tài liệu nghiên cứu, giáo dục Công trình cung cấp thông tin về loại hình cư trú, nếp ở, đặc trưng văn hóa của người dân Bình Dương xưa, phân loại cấu trúc nhà cổ Nam Bộ… Từ trang 240 đến 243, chương 6, nhà nghiên cứu Trương Phi Đức có bàn luận về Mỹ thuật trang trí truyền thống tại đình làng Tác giả phân tích chức năng hành chính và văn hóa của đình, hướng xây dựng đình “tả thanh long, hữu bạch hổ”, kiểu thức tạo hình của thời Hậu Lê và triều Nguyễn nên thường có mặt bằng hình chữ nhật dạng chữ Nhất hoặc chữ Đinh, giới thiệu các khu vực chính trong đình được thờ tự quy định chặt chẽ gồm các đối tượng thờ tự Tiền đình thường có bức bình phong biểu tượng chúa sơn lâm, trên bàn thờ thường có chữ Thần được lộng trong khung gỗ và đôi Hạc đứng trên mai Rùa, nhang án được chạm
Trang 20trổ và sơn son thếp vàng, các hoành phi liễn đối… Tác giả miêu tả sơ lược các đối
tượng trang trí như: Lưỡng long tranh châu, Bát Tiên, Cá hóa long, Chim Phụng
ngậm cuốn thư… chất liệu sành tráng men, gỗ, đúc đồng, bê tông với các hình thức
chạm trổ, sơn son thếp vàng, vẽ màu Vì vậy, tài liệu là cơ sở luận sâu sát, là tiền đề
để NCS có thể tiếp tục nghiên cứu sâu và làm rõ biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một
số đình làng tại Bình Dương
Hội thảo đề tài khoa học cấp cơ sở Đình Thần Bình Dương - giá trị lịch sử và
văn hóa, do nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Quốc làm chủ nhiệm đã được Sở Văn hóa
Thể thao và Du lịch nghiệm thu vào cuối năm 2018 Kỷ yếu hội thảo có một số bài viết đề cập đến trang trí mỹ thuật và nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương (trang 104 và trang 117) Các tác giả phân tích nghệ thuật trang trí đình Phú Long có
chín bao lam chạm khắc gỗ với các hoa văn như: Lan, Mai, Cúc, Trĩ, Dơi… và các
hoành phi liễn đối được cẩn ốc xà cừ hoặc sơn son thếp vàng, có bàn luận về màu sắc
và ánh sáng thể hiện sự lộng lẫy Nhà nghiên cứu liệt kê, giới thiệu các biểu tượng ở các vị trí thờ tự, ý nghĩa của biểu tượng và nguyên nhân hình thành sáng tạo đó Trang trí bên ngoài đình làng gồm có các hạng mục nào, phần mái đình làng có nhấn mạnh nhiều điểm tương đồng với đình làng tại Nam Bộ và trang trí trên nóc mái các biểu
tượng Lưỡng Long, Chim Phượng, Cúc hóa Long cách điệu… Trên nóc mái đình Phú
Long, đình Bình Nhâm, đình Bà Lụa có ảnh hưởng kiến trúc của người Hoa khá rõ
vì trên nóc mái có tổ hợp tượng gốm nhưng nhà nghiên cứu chưa làm rõ những tổ hợp tượng gốm đó là gì, đồ án khảm gốm trên nóc mái chánh điện với những biểu tượng tiếp thu văn hóa Trung Hoa ra sao chưa được nêu rõ… Tuy nhiên, đây cũng là một nhận định khoa học khá logic vì rõ ràng vị trí địa lý mà ba ngôi đình này đang tại vị là quê hương của người Việt gốc Hoa đã và đang sinh sống đồng thời có thế mạnh về gốm, điển hình là gốm Lái Thiêu Nhiều tài liệu về lịch sử vùng đất Bình Dương xưa và các làng nghề truyền thống tại Bình Dương đã giới thiệu nhiều về nghề
gốm Lái Thiêu, như quyển Làng nghề Bình Dương của nhà nghiên cứu Nguyễn Hiếu Học (chủ biên) [55] và quyển Gốm Lái Thiêu của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng
[99] cũng đã đề cập đến nghề gốm Lái Thiêu, phân tích biểu tượng và đặc trưng tạo
Trang 21hình gốm Lái Thiêu có màu men ngọc trùng khớp với màu men của tổ hợp tượng trang trí tại các đình và các đề tài cách điệu biểu tượng trong tích truyện của dân tộc Hoa
1.1.1.1 Nghệ thuật chạm khắc cổ dân gian
Quyển Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam của Viện nghệ thuật [115] là công
trình chuyên khảo về nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam theo phân kỳ lịch sử Tài liệu phân tích nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam vào những năm 30 - 40 của thế kỷ
XVII về biểu tượng Tứ linh, hình thức chạm khắc nổi trên chất liệu gỗ, tạo hình không
gian đồng hiện đặc biệt nhấn mạnh chạm khắc đình làng tại Bắc Bộ Nhà nghiên cứu
đã nhận định các công trình mỹ thuật chủ yếu ở giai đoạn này vẫn do lớp quý tộc tổ chức xây dựng, nhưng những nét thẩm mỹ của dân gian đã hướng mỹ thuật đi dần vào con đường mới, bớt trang nghiêm và cầu kỳ, bớt sa vào chi tiết và vẻ quý phái, tăng cường chim thú và đưa người lao động vào vị trí trung tâm của mỹ thuật Tạo hình giai đoạn này mang tính dân gian, ước lệ hóa Công trình được NCS quan tâm
vì cuối thế kỷ XVII là giai đoạn hình thành và phát triển của đình làng tại Bình Dương,
là cứ liệu quan trọng để NCS phân tích và đối chiếu đình làng tại Bình Dương và đình làng tại Nam Bộ với đình làng tại Bắc Bộ
Từ năm 1975, nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung [29] đã viết công trình nghiên cứu về điêu khắc dân gian Việt Nam thế kỷ XVI - XVII - XVIII rất có giá trị với những miêu tả về biểu tượng trong điêu khắc dân gian Việt Nam Đó là hướng gợi
mở để NCS có thể nghiên cứu về biểu tượng dị biệt mà đình làng tại Bắc Bộ khác với đình làng tại Bình Dương Nhà nghiên cứu cho rằng thế kỷ XVI - XVII - XVIII, nghệ thuật chạm khắc đình làng lên ngôi, cuộc sống đời thường thâm nhập vào trong nghệ thuật thoát khỏi những chuẩn mực ước lệ về nội dung cũng như về hình thức Các biểu tượng ước lệ hóa và tiếp biến có thay đổi phù hợp với điều kiện sống, vị trí địa
lý, nhân sinh quan, thiết chế văn hóa vùng miền Những biểu tượng chạm khắc dân
gian về cảnh sinh hoạt như: Điệu múa, Vở tuồng, Hình ảnh nam nữ, Đấu vật… chỉ thể hiện trên trang trí đình làng tại Bắc Bộ Luận điểm về biểu tượng Cảnh sinh hoạt
thường ngày đã được minh chứng cụ thể qua nhiều tư liệu nghiên cứu mới gần đây
Trang 22nhất của nhiều tác giả đã nghiên cứu về đình làng tại Bắc Bộ và khảo sát thực tế đình làng tại Bắc Bộ, Nam Bộ và Bình Dương
Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu khác như: Điêu khắc cổ điển Việt Nam
của nhà nghiên cứu Nguyễn Quân [85] cung cấp thông tin mỹ thuật ở làng thế kỷ XVII - XVIII đã nổi tiếng tiêu biểu cho cả nước Sự tản mát của làng, sự khiêm tốn
ở quy mô bên ngoài làm cho điêu khắc đình làng tồn tại mạnh mẽ mà âm thầm suốt
mấy trăm năm Tác giả nhận định về biểu hiện nghệ thuật có thể xét theo ba chiều khác nhau Kết hợp với thông tin, hình ảnh tư liệu trong công trình Bản rập họa tiết
cổ Việt Nam của Viện Mỹ thuật [114] cung cấp tư liệu hình ảnh tiến trình phát triển
họa tiết mỹ thuật cổ Việt Nam theo phân kỳ lịch sử Công trình có viết “Mỗi thời đại
có thể có những motif riêng với ý nghĩa riêng Nhưng việc dùng chung một vài hệ
thống biểu tượng như Tứ linh, Bát bửu, Bát hoa… vẫn là phổ quát Chỉ có cấu trúc
của nó, dấu ấn tình cảm là đổi thay qua thời gian” [115, tr.185] Chính nhận định này làm cho nội dung nghiên cứu luận án chắc chắn hơn trong vấn đề nghệ thuật trang trí truyền thống ở đình làng tại Bình Dương có kế thừa, sự tiếp biến nghệ thuật trang trí đình làng tại Bắc Bộ
1.1.1.2 Kiến trúc truyền thống
Nhà nghiên cứu Phạm Anh Dũng [34] nói về giá trị thẩm mỹ của từng thời đại
và chịu ảnh hưởng của vị trí địa lý, nhân sinh quan và vùng miền… nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ cho rằng: “Cần phải nhận rõ những tính chất đặc thù của nền mỹ thuật ấy, để từ đó có những cách tiếp cận thích hợp nhất và đo bằng những chuẩn thẩm mỹ phù hợp nhất” [104, tr.5]
Nhà nghiên cứu Vũ Tam Lang đã viết trong quyển Kiến trúc cổ Việt Nam [68]
như sau: Những đặc trưng cơ bản của kiến trúc truyền thống Việt Nam: Kiến trúc có tính dân tộc và tính địa phương phong phú hình thành bản sắc riêng, phong cách kiến trúc giản dị, vị trí kết hợp chặt chẽ với cảnh quan, bố cục cân xứng hài hòa, màu sắc
trang trí đẹp mắt, giàu tính dân gian… Điều này có thể lập luận khoa học khi phân
tích nghệ thuật trang trí truyền thống là phân tích các yếu tố tạo hình của đồ án trang
trí đa phần trên các cấu kiện kiến trúc cổ, mỹ thuật và kiến trúc có tương hỗ nhau
Trang 23Nhà nghiên cứu đã viết: Kiến trúc Việt Nam thời Nguyễn là giai đoạn hình thành và phát triển kiến trúc đình làng, các đình làng được xây dựng thêm “chuôi vò” làm hậu cung Những tiền tế, tả hữu được làm thêm vào các ngôi đình để phù hợp với việc tế
lễ lúc đương thời Cũng thời này, kiến trúc đình làng khá phát triển ở Huế, kết cấu chồng rường được bổ sung cho “giả thủ” ở đầu rường, các cột nhỏ tạo không gian gần gũi, ấm cúng… Đoạn phân tích kiến trúc thời Nguyễn và đình làng giai đoạn này trong công trình nghiên cứu góp phần bổ sung tư liệu khoa học về phần khái quát đình làng tại Bình Dương là phần cơ sở lí luận của luận án
1.1.1.3 Nghệ thuật học
Quyển Hình thái học của nghệ thuật của M CaGan (Phan Ngọc dịch) [71] là
một tác phẩm lớn, công trình chuyên khảo về cơ cấu toàn bộ thế giới nghệ thuật, nội tại của thế giới nghệ thuật trên cơ sở kế thừa và phát huy những quan điểm của nhà
mỹ học trước đó M.CaGan đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về lịch sử và lý luận về
cơ cấu bên trong của thế giới nghệ thuật Nhà nghiên cứu chú ý đến phát hiện tất cả những cấp độ căn bản của sự phân chia hoạt động sáng tạo nghệ thuật Hình thái học nghệ thuật có nhiệm vụ làm sáng tỏ những mối liên hệ phối hợp và phụ thuộc giữa các nhóm nghệ thuật của các loại hình và các ngành nghệ thuật Trong các xu hướng phân tích hình thái học nghệ thuật, xu hướng thứ hai phân chia nghệ thuật thành “cao”
và “thấp”, có thể ví dụ so sánh giữa hình thái “nghệ thuật thuần túy” với nghệ thuật ứng dụng, nghệ thuật trang trí là “hình thức nghệ thuật - thủ công” Sự phân chia theo một chuẩn mực có tính “ước lệ”, bởi vì nó không được thừa nhận ở mọi thời đại và trong mọi nền văn hóa Sự phân chia các nghệ thuật là sản phẩm của sự phát triển lịch
sử Đó là những luận điểm mà NCS vận dụng để phân tích và khẳng định giá trị nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương mang tính chất lịch sử và
là nghệ thuật trang trí truyền thống của người Việt
Quyển Nghệ thuật học của Đỗ Văn Khang [64] là công trình nghiên cứu một
cách khoa học, khám phá các quy luật cơ bản của sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật,
tự nó phân biệt với khoa học lịch sử nghệ thuật Nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại dưới dạng tác phẩm cụ thể Tác phẩm nghệ thuật lại phải tồn tại dưới dạng loại hình như:
Trang 24Kịch, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh, múa và riêng về hội họa có tranh lịch sử, tranh phong cảnh, tranh chân dung, tranh biếm họa… Trong công trình chỉ ra nguồn gốc của nghệ thuật, các thành tựu cơ bản của nghệ thuật phương Tây, phương Đông và nhiều phương pháp sáng tạo trong lịch sử nghệ thuật Luận án đặc biệt quan tâm tới phương pháp sáng tác huyền thoại và dân gian Bởi nguyên tắc điển
hình hóa nghệ thuật của phương pháp sáng tác huyền thoại - dân gian giúp họa sĩ thể
hiện mặt nào đó đã bộc lộ rõ, nghệ sĩ đã nắm được thì họ dùng hình thức tả thật nhưng mặt nào đó chưa nắm được thì họ xuyên qua một loạt các hiện tượng pha nhiều huyền hoặc để dệt nên biểu tượng có thể cảm quan được Đôi khi gặp một hiện thực còn đầy
bí ẩn, họ tạm thời gạt yêu cầu mô tả trực tiếp sang một bên, dùng hư cấu gắn với sức mạnh có tính người cho các lực lượng siêu nhiêu, các vị Thần với bàn tay quyền lực Công trình giúp NCS có một cái nhìn tổng quan về nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật và biểu tượng nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ, có chức năng xây dựng và lưu truyền dấu ấn lịch sử
1.1.1.4 Mỹ học và triết học
Mỹ học quyển 1, 2 của Hêghen [48], [49] Phan Ngọc dịch nhận xét nghệ thuật
là tiêu điểm của văn hóa thẩm mỹ, “đối tượng của mỹ học là lĩnh vực nghệ thuật, hay đúng hơn nữa, lĩnh vực sáng tác nghệ thuật” [48, tr.5] Với tinh thần hoạt động tích cực, tự do sáng tạo thì ý niệm nghệ thuật là lý tưởng, là tinh thần, là tư tưởng, là chiêm ngưỡng nội tâm, là những sức mạnh phổ biến, là hoạt động con người, thậm chí là Thần linh Ngoài ra, Hêghen phân tích tính vĩnh cửu của nghệ thuật, tính độc đáo và cấu trúc về thế giới nghệ thuật như sự dung hợp hữu cơ với sự phân tích lịch sử Heghen cho rằng: Đặc trưng của ngành nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc là bố cục nghệ thuật tạo hình, cái đẹp của biểu tượng là nghệ thuật của lý tưởng cổ điển Đặc trưng của hội họa là hư cấu nghệ thuật, bố cục đặc trưng… Từ đó, cho thấy diện mạo nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương là nghệ thuật tạo hình, là bố cục đặc trưng Bản chất của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương là cái đẹp, cái đẹp
ở đây là biểu tượng vĩnh cửu, là nội dung biểu tượng dân gian và đại chúng, yếu tố tạo hình phong cách cổ điển đối xứng Điểm nổi bật của nghệ thuật trang trí đình làng
Trang 25tại Bình Dương là sản phẩm của giao lưu văn hóa nghệ thuật các vùng miền, tích tụ theo tiến trình lịch sử
Quyển Mỹ học của Diderot [36] có viết: “Nghệ thuật và cái đẹp đan xen vào
nhau, tồn tại vĩnh hằng theo thời gian Trong công trình luận về cái đẹp, trình bày các
ý kiến khác nhau của các tác giả viết cụ thể về cái đẹp Thánh Augustin “theo ông sự tương quan chính xác giữa các bộ phận với nhau của một tổng thể, làm cho tổng thể
ấy hợp thành đơn nhất, đấy chính là tính chất đặc trưng của vẻ đẹp” [36, tr 64] Mỗi
đồ án trang trí có sự sắp xếp các yếu tố tạo hình như hình khối, màu sắc, đường nét, không gian… tổng hòa thành một bố cục cân đối, hài hòa sẽ tạo nên nét đẹp đặc trưng của đồ án trang trí đó nhưng đôi khi cái đẹp đặc trưng mang cảm tính vì sự tổng hòa chỉ là định tính không có thước đo định lượng
Về sự hài hòa, bản chất của cái đẹp theo quan điểm Mác - Lênin trong tính biện chứng và lịch sử xã hội của tác giả Đỗ Văn Khang [63]: “Hài hòa là yếu tố tập trung quan trọng nhất tạo nên cái đẹp mà tất cả các nhà mỹ học trong lịch sử từ xưa đến nay đều thừa nhận Nên ở đây, cần đi sâu vào quy luật hài hòa để xác định phẩm chất cái đẹp” [63, tr.96] Ước lệ là một hình thái thông tin đặc biệt của cái đẹp trong nghệ thuật Nhờ ước lệ, nghệ sĩ có thể nhấn mạnh mặt này hay mặt kia hoặc ngược lại, có thể thay thế hoặc sắp xếp các hình khối, mảng nét, màu sắc để tạo cho tác phẩm nổi bật hơn, thú vị hơn, do đó tính mỹ cảm sâu sắc hơn [63, tr.107] Trong tất cả các tác phẩm nghệ thuật tạo hình dân tộc đều mang một dáng dấp ít nhiều biểu tượng cách điệu hóa thông qua nhận định của tác giả Mịch Quang [84] Đồng quan điểm
đó, cố họa sĩ Nguyễn Đức Nùng cho rằng: “Tranh dân gian ta, tả thật thì không tả thật
đã đành, mà cách điệu hóa cũng như không phải cách điệu hóa Hình như nó vừa gợi vừa tả đúng hơn” [84, tr.273] Điều này được vận dụng vào luận án góp phần làm sáng tỏ biểu tượng, yếu tố tạo hình của các đồ án trang trí ở đình làng tại Bình Dương
1.1.2 Các công trình liên quan lịch sử - văn hóa đình làng Nam Bộ và Bình Dương
Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đã dày công nghiên cứu, viết nên công trình
Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam với 452 trang gồm bốn phần Nhà
Trang 26nghiên cứu lập luận và trình bày về sắc thái địa phương của văn hóa ở Việt Nam từ những cảm nhận và ý niệm ban đầu Thời đại nào cũng vậy, con người đều có nhu cầu tìm về cội nguồn dân tộc và văn hóa của mình, cũng như những tương đồng và khác biệt của dân tộc mình với dân tộc khác, giữa vùng này và vùng khác thông qua những biểu hiện vùng thể loại văn hóa Trong xã hội cổ truyền người nông dân xưa thường mang tâm lý hướng nội là đặc trưng, họ có những cảm nhận về tính trội trong tính cách con người về giao tiếp xã hội, giao lưu văn hóa và mọi khía cạnh của cuộc sống Điều này phản ánh tâm thức, tư duy dân gian và tính trội, tính trọng tình là nét đặc trưng văn hóa gắn liền với những làng, những địa phương Nhà nghiên cứu phát biểu thêm về sự phân biệt giữa vùng văn hóa và tộc người, bản chất của vùng văn hóa, sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa Quy luật hình thành và biến đổi của vùng văn hóa trong tiến trình lịch sử, vai trò và tác động qua lại giữa trung tâm và ngoại vi Khái niệm vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử Do đó, đặc trưng chung của vùng văn hóa thể hiện trong sinh hoạt vật chất và tinh thần thông qua các vùng thể loại văn hóa, chịu sự tác động nhiều nhân tố từ môi trường tự nhiên và các hoạt động sản xuất Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh nhận định
“cấp độ mà phạm vi vùng văn hóa càng nhỏ thì sự trùng hợp giữa vùng văn hóa và vùng thể loại càng nhiều” [93, tr.104] Lý thuyết về văn hóa vùng của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh được vận dụng vào luận án làm công cụ để xác định văn hóa vùng Bình Dương Từ đó là cơ sở lý luận để xác định văn hóa vùng Bình Dương có sự tương đồng với văn hóa vùng Nam Bộ và Bắc Bộ thông qua các tác phẩm trang trí dân gian tạo nét đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương có sự kế thừa truyền thống Việt và giao lưu, tiếp biến với cộng đồng các tộc người sinh sống tại Bình Dương
Với một đất nước có cộng đồng nhiều dân tộc sinh sống như Việt Nam, việc giao tiếp văn hóa dân tộc giữa người Việt cùng các tộc người khác đã trở thành nếp thường xuyên và ngày càng mở rộng hơn trong quá trình cộng cư, đó là quan điểm
dẫn luận mà nhà nghiên cứu Huỳnh Quốc Thắng đã trình bày trong quyển Lễ hội dân
Trang 27gian ở Nam Bộ [92] Đặc biệt, trên vùng đất Nam Bộ mới khai phá, có nhiều đặc điểm
riêng về địa lý, lịch sử và đa dân tộc so với các vùng khác của đất nước, với những khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc đặc thù nổi bật nhân tố thuộc vốn truyền thống được bảo lưu và kế thừa mang dấu ấn đặc trưng chung của nền văn hóa dân tộc Dân
cư Nam Bộ luôn biến động mạnh chủ yếu theo hướng cơ học trong đó người Việt chiếm số đông, kế đến là người Khmer và người Hoa, người Chăm, người S’tiêng, người Chơ rơ, người M’nông Vì vậy mà trong lễ hội dân gian của người Việt ở Nam
Bộ khá sinh động của các cộng đồng cư dân, dân tộc, lịch sử hình thành, đặc điểm văn hóa, đời sống… có nhiều nét riêng biệt nhưng đồng thời cũng có nhiều điểm gặp nhau trong quá trình giao lưu góp phần xây dựng vùng văn hóa, biểu hiện văn minh
- văn hóa của những truyền thống có đặc trưng vùng Tại Bình Dương, bộ phận người Hoa đông đảo với tư cách là người khách lưu trú, tha hương tìm nơi đất lành chim đậu Với tâm trạng nhớ cố hương trong thời gian đầu nên họ cố công xây dựng chùa
Bà Thiên Hậu, chùa Ông Bổn… và duy trì các lễ hội dân tộc Hoa Tác giả nhấn mạnh
“yếu tố định hướng văn hóa Trung Quốc trong vốn văn hóa truyền thống Việt Nam hàng ngàn năm trước đó bây giờ có thể thêm điều kiện “cách tân” bằng mối quan hệ trực tiếp giữa người Việt ở Nam Bộ với bộ phận người Hoa hiện đại trong điều kiện, hoàn cảnh mới” Điều này làm căn cứ để NCS có cơ sở đưa ra giả thuyết và tìm câu giải đáp về sự tiếp biến nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương có bóng dáng của mỹ thuật dân tộc Hoa
Bên cạnh đó, chuỗi các công trình nghiên cứu của nhà văn Sơn Nam về Đình
Miếu và Lễ hội dân gian miền Nam [73], Lịch sử khẩn hoang Miền Nam [74], Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, thuần phong mỹ tục miền Nam [75]… Các công trình
đã khái quát về lịch sử khai phá miền Nam, vùng đất Nam Bộ mới là nơi “đất lành chim đậu”, trở thành nơi tụ cư của bao thế hệ người Việt trong suốt mấy trăm năm từ nửa đầu thế kỷ XVII đến giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX Kết hợp với hàm lượng khoa
học của các công trình Dấu xưa đất Thủ [54], Bình Dương miền đất anh hùng [56],
Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử [51], Làng nghề Bình Dương [55]…
tạo điều kiện cho NCS có cái nhìn tổng quan về địa lý, môi trường cảnh quan, lịch sử
Trang 28vùng đất Bình Dương xưa có sự giao thoa tiếp biến trên đường hành hương, cộng cư
đã hình thành văn hóa cộng đồng, làng xã miền Bắc du nhập vào miền Nam và định hình sắc thái độc đáo của địa phương Văn hóa vùng, văn hóa tộc người của người
dân đất Thủ hình thành từ đây Khi nhắc đến Thủ Dầu Một là chúng ta liên tưởng đến
biểu tượng cánh hoa dầu, chiếc xe ngựa và những ngôi đình làng như đình Tân An,
đình Bà Lụa, đình Phú Long, đình Dĩ An Đây là những dữ liệu để NCS tiến hành
nghiên cứu lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam Bộ và lịch sử hình thành vùng đất Bình Dương trong chương 1 của luận án
1.1.3 Sử học
1.1.3.1 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ và Bình Dương
Tập hợp các công trình về lịch sử khai phá miền Nam như: Lịch sử Việt Nam
cổ trung đại của Huỳnh Công Bá [4], Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam
[74], Một hướng tiếp cận nghiên cứu lịch sử Nam Bộ của Ngô Minh Oanh [80], Lịch
sử khai phá vùng đất Nam Bộ của Huỳnh Lứa [70]
Đặc biệt, công trình Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ của Huỳnh Lứa [70]
là một công trình nghiên cứu lớn về tiến trình khai phá Miền Nam qua các thời kỳ lịch sử trong gần ba thế kỷ qua, được các nhà nghiên cứu, sinh viên và học giả quan tâm Môi trường tự nhiên vùng đất Nam Bộ, đình làng lễ hội miền Nam và đặc thù cá tính người Miền Nam được hun đúc, hình thành từ việc người dân nơi đây tương tác với điều kiện tự nhiên, môi trường và cảnh quan trong quá trình khai hoang, mở cõi Trong công cuộc khai phá và khẩn hoang các thế kỷ XVII, XVIII có sự xuất hiện những lớp cư dân mới, trước hết phải kể đến là người Việt vì họ là thành phần chiếm
đa số, thành phần chủ yếu chính là người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ
1.1.3.2 Lịch sử hình thành đình làng tại Nam Bộ
Công trình Đình Việt Nam của nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn [90] được xem là
công trình nghiên cứu tổng quát về hệ thống đình làng Việt Nam, đặc biệt là các ngôi đình cổ được Bộ Văn hóa xếp hạng Nhà nghiên cứu viết từ sự kiện cơ bản đến nguồn gốc phát triển ngôi đình, kiến trúc, điêu khắc, lễ hội và tín ngưỡng dân gian “Đình là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam Nơi đây ba chức năng được
Trang 29thực hiện: Hành chính, tôn giáo và văn hóa” [90, tr15] Nhà nghiên cứu đưa ra nhiều
lý thuyết định nghĩa và khái niệm về đình, đình xuất hiện giai đoạn nào của niên đại lịch sử đều có minh chứng cụ thể Đặc biệt, tác giả đã sơ bộ phân tích và đánh giá sự khác biệt cơ bản giữa đình ba miền Bắc, Trung và Nam dựa vào phong cách, lối sống
và yếu tố lịch sử Bằng phương pháp lịch đại, tác giả đã tuần tự nêu ra các loại hình kiến trúc cơ bản của đình trải dài theo dòng thời gian xuất hiện của từng dạng cấu trúc tổng thể Tác giả nhận định đình làng tại Nam Bộ có kiểu thức nhà vuông là một dạng kiến thức truyền thống Nam Bộ và nhà Võ ca là một trong những dạng kiến trúc đặc biệt chỉ tồn tại ở đình làng tại Nam Bộ
Như quyển Đình làng tại Nam Bộ tín ngưỡng và nghi lễ của Huỳnh Ngọc
Trảng [98] cung cấp kiến thức về lịch sử khẩn hoang, lập ấp và dựng đình làng tại Nam Bộ, nghi thức cúng tế đình làng tại Nam Bộ, lễ Kỳ Yên, đối tượng thờ cúng và
Thành hoàng… Công trình này có cùng nhận định của Hà Văn Tấn trong quyển Đình
Việt Nam [90] về kiến trúc đình làng tại Nam Bộ là kiến trúc nhà vuông, có tứ trụ lớn
và kiến trúc mở Việc đối chiếu một số tên gọi các chi tiết của kiến trúc đình ở đồng bằng Bắc Bộ, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh được nhà nghiên cứu Hồ Văn Tường phân tích và so sánh, sau đó trình bày kết quả theo ba cột trong bảng phân tích phụ
lục 2, trang 274, Đình ở Thành phố Hồ Chí Minh [110] Nhà nghiên cứu có đối sánh
tên gọi cấu kiện, các hạng mục, đối tượng trang trí trong đình làng theo từng khu vực vùng miền
Công trình Đình làng tại Nam Bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng - Trương
Ngọc Tường [100] Tác giả viết sâu về gốc tích, tổ chức, nghi lễ và tín ngưỡng của đình làng ít đề cập về hình thức cũng như kiến trúc đình làng Tác giả đặt câu hỏi “cái đình là cái chi chi?” để có thể bàn luận về lịch sử hình thành của cái đình mà nhiều ý
kiến cho rằng nguồn gốc đình làng có từ bao giờ, từ thời Trần là đình tạm, là nhà nghỉ chân… Câu hỏi Thành hoàng - Thần là ai? Tác giả theo phân kỳ lịch sử, giải thích với
nhiều góc độ về Thần Tác giả phân tích đình làng và thiết chế văn hóa tín ngưỡng
làng, đình làng có nhiều tên gọi khác nhau theo vùng miền như: Ở Vĩnh Long đình
làng gọi là linh miếu, Thủ Dầu Một gọi là Linh từ, Biên Hòa gọi là cổ miếu…
Trang 301.1.3.3 Lịch sử hình thành đình làng tại Bình Dương
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hiếu Học là người có nhiều đóng góp cho phát triển văn học nghệ thuật tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hội nhập, đổi mới từ năm 1986 đến nay Tác giả đã có công trình nghiên cứu chuyên sâu về các ngôi đình làng tại
Bình Dương như Dấu xưa đất Thủ [54] Công trình nghiên cứu cung cấp kiến thức,
thông tin về đình Bà Lụa tại Thủ Dầu Một xưa, ngôi đình làng có “kiến trúc đẹp nhất nhì Nam Kỳ” Đình Tương Bình Hiệp tại Bình Dương, ngôi đình thờ danh nhân Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ Đình Bến Thế, một di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của tỉnh Bình Dương Đây là một trong những ngôi đình làng có thắng cảnh tiêu biểu và mang giá trị nghệ thuật đặc trưng của đình làng tại Bình Dương
Quyển Những ngôi đình làng tiêu biểu ở Bình Dương [53] của tác giả là công trình
nghiên cứu tổng quát, cung cấp tài liệu khoa học cơ bản về ngôi đình làng xưa của
Việt Nam và đình làng tại Nam Bộ Tác giả viết cụ thể về đình làng tại Bình Dương
từ khái quát vị trí địa lý tại Bình Dương, các dạng thức tín ngưỡng của người Việt tại Bình Dương, thiết chế văn hóa làng xã, khai hoang lập ấp tại Bình Dương Công trình phân tích bao quát về nhiều khía cạnh khi nghiên cứu đình làng như: Văn hóa Hán Nôm ở các đình làng tại Bình Dương trên hoành phi liễn đối chạm khắc gỗ hoặc trên sắc phong tại ngôi đình làng Cách thiết trí và các vị Thần được thờ trong đình làng tại Bình Dương Việc trùng tu tái thiết và phục chế, thống kê những ngôi đình được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc và cách mạng, các hoạt động về lễ hội đình thần tại Bình Dương… Bên cạnh việc dịch nghĩa các văn tự Hán Nôm để có thể lồng ghép vào phân tích biểu hiện của ngôn ngữ chạm khắc trên các hoành phi liễn
đối được trang trí ở đình làng tại Bình Dương thông qua công trình nghiên cứu Tìm
hiểu liễn đối Hán - Nôm trong các Đình, Chùa, Miếu của Huỳnh Ngọc Đáng [38],
dày 1046 trang, cung cấp thêm thông tin về lịch sử, vị trí địa lý của 37 ngôi đình làng tại Bình Dương
Nhìn chung, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về đình làng ở Việt Nam nhưng rất ít công trình nghiên cứu về đình làng tại Bình Dương dưới góc nhìn
Mỹ thuật học Các nghiên cứu đình làng tại Bình Dương thường nghiên cứu về văn
Trang 31hóa, thiết chế văn hóa, đối tượng thờ cúng ở đình làng tại Bình Dương hoặc nghiên cứu kiến trúc và mỹ thuật ở mức độ bàn luận sơ khảo, thống kê đặc trưng của nhóm biểu tượng trong nghệ thuật trang trí Hiện tại, chưa có công trình phân tích sâu, bàn luận về hình thức và ngôn ngữ biểu hiện, các yếu tố và nguyên lý tạo hình ra sao ở các đình làng tại Bình Dương
Qua tập hợp các tư liệu trên, NCS có cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành và phát triển đình làng tại Nam Bộ và Bình Dương NCS kế thừa các nhận định
về thiết chế văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đình làng tại Nam Bộ Những công trình nghiên cứu đó là cơ sở luận khoa học để NCS phân tích tiếp luận án về nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
1.2 Cơ sở lý luận và lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý luận
Khái niệm “Nghệ thuật”: Với vấn đề nghiên cứu là Nghệ thuật trang trí ở một
cụ thể và hiểu rõ vai trò của nghệ thuật trong các tác phẩm hội họa, điêu khắc và là kết quả của các vấn đề cần nghiên cứu Chúng ta có thể hiểu nghệ thuật là một hoạt động nhận thức của con người bằng phương tiện hình tượng Các biểu tượng nghệ thuật được sáng tạo theo các loại hình thể nhất định và cụ thể với đối tượng phản ánh riêng, phương thức phản ánh riêng, có tác động đến thị giác của những công chúng nhất định Vậy nghệ thuật trong hội họa, điêu khắc là những biểu hiện phản ánh cuộc sống thông qua nội dung tác phẩm nổi bật bởi các yếu tố tạo hình về đường nét, hình khối, màu sắc và hình thức biểu hiện cùng chất liệu đã khơi gợi cho người xem cảm thụ sáng tạo ấy bằng sự lan tỏa, giải quyết nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của tất cả tầng lớp nhân dân Đặc biệt sự lan tỏa ấy một cách tự nhiên đi vào tâm hồn của tầng lớp bình dân sẽ khơi gợi sáng tạo không ngừng với vô vàng các tác phẩm chạm khắc
và điêu khắc tại các đình làng Việt còn lưu giữ đến ngày nay
Khái niệm “Trang trí”: Là “Nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất
và tinh thần của con người Nhờ những yếu tố trang trí, các vật dụng vừa có giá trị thẩm mỹ vừa nâng cao được giá trị sử dụng, vì vậy trang trí nằm trong nghệ thuật ứng
Trang 32dụng” [76, tr.132] Các yếu tố tạo hình trong trang trí sản phẩm càng sáng tạo, càng mới thì sản phẩm ấy được xem là tác phẩm nghệ thuật mang giá trị thẩm mỹ cao, là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng
Khái niệm “Nghệ thuật trang trí”: Nghệ thuật trang trí là một lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình, sản phẩm của chúng mang tính thẩm mỹ, tính biểu tượng đáp ứng các nhu cầu ăn, mặc, ở, lao động, học tập, nghỉ ngơi, giải trí… Nghệ thuật trang trí gắn
bó chặt chẽ với đời sống nhân dân từng dân tộc nên nó cũng phải mang đầy đủ những
đặc điểm văn hóa, địa lý có tính dân tộc và phù hợp với thời đại Nghệ thuật trang trí
có thể chia thành hai loại như: Nghệ thuật trang trí hoành tráng trên kiến trúc như những bức phù điêu, bức tượng, bức tranh kính, bức tranh khảm… được trang trí trên kiến trúc, những đồ vật sinh hoạt, đồ thờ được trang trí tại các đình làng Từ đó cho thấy, đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương với chủ thể là các tượng tròn, phù điêu chạm khắc và đắp nổi, các bức khảm gốm, các đồ thờ tại đình… Những chủ thể nghiên cứu này có những biểu hiện đặc trưng nhất về biểu tượng, yêu tố và quy tắc tạo hình làm rõ bản sắc của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương
Khái niệm “Thẩm mỹ”: Được nhìn dưới góc độ nghệ thuật, “đối tượng của mỹ học là lĩnh vực nghệ thuật, hay đúng hơn nữa, lĩnh vực sáng tác nghệ thuật”, “mỹ học chỉ nghiên cứu cái đẹp ở trong nghệ thuật mà thôi” [48, tr.5] Nghệ thuật và cái đẹp đan xen vào nhau, tồn tại vĩnh hằng theo thời gian “Cái thật, cái tốt, cái đẹp rất khăng khít với nhau” của Diderot [36, tr.6] Theo Lê Duẩn [59, tr.8] “Cái đẹp là yêu cầu cuộc sống, cái đẹp tạo ra ý chí và tình thương một cách bền vững và sâu sắc” Vì vậy,
suốt bao thế kỷ, người ta vẫn nói về cái đẹp và tranh luận về nghệ thuật đó là cái gì
và vì sao lại tuyệt vời đến thế Sự khéo léo, sự suy nghĩ, trí tưởng tượng, cảm xúc và
sự sáng tạo của con người được thể hiện qua các bước để làm ra các sản phẩm Với quan niệm, định nghĩa nghệ thuật thường phản ánh những tiêu chuẩn thẩm mỹ trong văn học, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc, sân khấu… và một số môn khoa học
xã hội “Trong mỹ thuật, nghệ thuật là sự sáng tạo của con người thông qua cảm xúc nghệ thuật, sự quan sát tinh tế và đôi bàn tay khéo léo Nghệ thuật phản ánh các tiêu
Trang 33chuẩn đẹp, khéo và sáng tạo, đặc biệt nghệ thuật thường khai thác sự đối lập giữa các yếu tố để sáng tạo” [41, tr.111] Nghiên cứu một tác phẩm mỹ thuật dưới những đặc trưng, đường nét, hình khối, màu sắc sẽ cho người xem cảm nhận vẻ đẹp khéo léo, cũng như sự hài hòa trong thẩm mỹ [113, tr.697]
Khái niệm “Mỹ thuật”: Là “nghệ thuật của cái đẹp” (“mỹ” theo tiếng Hán - Việt nghĩa là “đẹp”) Đây là từ dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật tạo hình chủ yếu
là hội họa, đồ họa, điêu khắc hay nghệ thuật thực dụng như mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc [95, tr.10] Những mỹ cảm về mỹ thuật được người xem tự quy ước với nhau theo cảm nhận về đường nét, hình khối, màu sắc từ tác phẩm nghệ thuật Người nghệ
sĩ sáng tác sử dụng những đặc trưng ấy để biểu lộ thế giới thực tại gián tiếp qua một thể loại nghệ thuật, một chất liệu tạo hình cụ thể nào đó theo một phong cách riêng của mỗi người cho là đẹp
Tạo hình không gian ba chiều hoặc hai chiều với nhiều chất liệu khác nhau được gọi là điêu khắc - chạm khắc cũng như biểu hiện nội dung nhân tính, điêu khắc cần phải tìm những biểu tượng có thể biểu hiện hoàn toàn bằng thể xác và ngoại hiện
Nó phải gạt bỏ cái đặc thù, loại trừ yếu tố ngẫu nhiên, tình cờ ở trong điệu bộ, hình dáng để đi đến cái cá tính cốt tử Nó thoát ly khỏi tượng trưng vì hình thức ở đây phù hợp với nội dung, nhưng “nó vẫn chưa biết đến cái nội cảm bên trong mà vẫn thản nhiên đối với những gì ở bên ngoài Chính vì vậy nó chiếm địa vị trung tâm trong nghệ thuật cổ điển” [48, tr.28]
Khái niệm “Hội họa”: Là nghệ thuật dùng đường nét, màu sắc để biểu đạt tình cảm, tư tưởng lên trên mặt phẳng hình thành nên tác phẩm hội họa Hội họa là “nghệ
thuật dùng màu sắc, hình mảng, đường nét để diễn đạt cảm xúc của người vẽ trước con người, thiên nhiên và xã hội Hội họa là một ngành của nghệ thuật tạo hình Con người thời tiền sử đã biết ghi lại những hình ảnh lao động, săn bắn, vui chơi của mình lên vách đá Đồng thời với sự phát triển của xã hội loài người, nghệ thuật hội họa cũng phát triển dần lên Ban đầu tranh vẽ dùng để thể hiện các đấng Thần linh, các ý tưởng tôn giáo, thần thoại và các hiện tượng trong thiên nhiên” [76, tr.77]
Trang 34Nội dung của hội họa là tính đặc thù của nội cảm chủ thể Hội họa cố định hóa được cái giây phút tập trung nhất với những chi tiết cụ thể nhất qua đó người ta thấy được các dấu vết của quá khứ cũng như bóng dáng của tương lai Người nghệ sĩ thường biểu hiện lý tưởng cá nhân đó là cái đặc thù, bóng chớp, ngẫu nhiên khiến nó tiến gần đến chân dung của các bậc thầy vĩ đại
Khái niệm “Ngôn ngữ”: Là “hệ thống biểu đạt thông tin bằng ký hiệu, tín hiệu,
nghệ thuật… Ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ toán học, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ các loài hoa Ngôn ngữ là phong cách, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ mang tính chất riêng Ngôn ngữ trẻ em Ngôn ngữ ngoại giao” [113, tr.764]
Trong sáng tạo nghệ thuật, ngôn ngữ biểu đạt là hình khối, màu sắc, đường nét, chất liệu thông qua cái nhìn thị giác hay còn gọi là ngôn ngữ của thị giác Những
ngôn ngữ hình ảnh đó xếp đi, đảo lại, thêm bớt, gọt giũa… là ngôn ngữ của bố cục
Ngôn ngữ hội họa biểu đạt được chất tạo hình trong tác phẩm Vì vậy, chúng ta cần xem xét nhiều gốc độ tiếp cận khác nhau về tạo hình để có một đánh giá nhất định về giá trị nghệ thuật của một tác phẩm nghệ thuật
Khái niệm “Tạo hình”: Là sự sáng tạo mọi biểu tượng nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, tạo hình là sự sáng tác, sự khắc họa những đặc trưng về hình thể trong điêu khắc, hội họa, các ngành mỹ thuật ứng dụng và kiến trúc Tạo hình trong điêu khắc dùng chất liệu để tạo nên hình khối trong không gian ba chiều Tạo hình trong hội họa theo bút pháp tả thật, là sự triển khai trên không gian hai chiều những hình ảnh mang đặc tính của không gian ba chiều… Qua thực tiễn lâu dài, loài người đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm phong phú, nhiều nguyên lý cơ bản về tạo hình, giải phẫu nghệ thuật, luật xa gần, nguyên lý bố cục và một số lý thuyết mới như nguyên lý thị giác, nguyên lý cấu trúc đã góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng kiến thức cơ sở về tạo hình [76, tr.129]
Khái niệm “Chạm khắc”: Vạch trũng xuống những đường nét, hình thể, chữ hoặc văn tự từ một bề mặt cứng như gỗ, kim loại, đá… gọi là chạm khắc Bằng dụng
cụ nhọn sắc hoặc bằng phương pháp ăn mòn hóa học Ví dụ: Họa sĩ dùng dao khắc lên những tấm gỗ làm thành ván in (tấm gỗ đã được họa sĩ khắc, đục các hình ảnh mà
Trang 35mình muốn thể hiện trong tranh, ngược chiều với tranh thật) để in tranh, nhà điêu khắc dùng đục, rìu để chạm khắc trên những mặt gỗ hay những phiến đá [76, tr.31]
Khái niệm “Chạm nổi”: Chạm nổi là tác phẩm nghệ thuật tạo hình có đủ chức
năng nghệ thuật làm cho người xem cảm thụ được bằng biểu tượng điêu khắc được diễn tả trên nền, không gian diễn tả chiều sâu của chạm nổi thường được thu hẹp lại
so với không gian chiều sâu thực tế Một phần do kĩ thuật tạo hình và sự tác động của ánh sáng mà biểu tượng thu hẹp của chạm nổi được trình bày trong không gian và chiều sâu thực tế Có thể nhận định các hình thể, biểu tượng được đắp nổi lên hoặc
do kết hợp cả đắp nổi và chạm khắc lõm xuống trên mặt phẳng gọi là nghệ thuật chạm nổi Khác với chạm khắc là các hình thể được hiện lên do khắc hoặc đục lõm xuống
từ mặt phẳng Người ta căn cứ vào độ cao nổi khối của hình thể để phân biệt đó là
“chạm nổi cao” hay “chạm nổi thấp” Ở một số nơi trên thế giới, từ chạm nổi, phù điêu, chạm khắc thường được dùng chung một nghĩa, nhưng trong chuyên ngành điêu khắc Việt Nam, người ta phân biệt sự khác nhau giữa chạm khắc và chạm nổi như trên [76, tr.31]
Khái niệm “Đình”: “Là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam
Nơi đây ba chức năng được thực hiện: Hành chính, tôn giáo và văn hóa Về chức năng hành chính, đình là chỗ họp bàn các “việc làng”, để xử kiện, phạt vạ… theo những quy ước của làng Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ Thần của làng thường
là một vị, nhưng cũng có khi nhiều vị, được gọi là “Thành hoàng” làng Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo, hay hát cửa đình – một hình thức đã phát triển trong các thế kỷ trước, nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi… Thực
ra, các chức năng trên không bao giờ được tách bạch, mà đan xen hòa quyện với nhau
Có thể coi đình là một tòa thị chính, một nhà thờ và một nhà văn hóa cộng lại của làng xã Việt Nam Ngôi đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình của văn hóa làng Việt Nam” [90, tr.15] “Ở thời Trần, có tồn tại loại đình như trạm nghỉ chân trên các con đường Có người cho rằng thời Trần mới có đình – trạm nghỉ chân, chứ chưa có đình – nhà công cộng của làng như ở các thời
Trang 36sau… yêu cầu của cộng đồng làng là có ngôi nhà chung thì hẳn đã tồn tại từ lâu rồi” [90, tr.18]
Đình Việt Nam đã hình thành và tồn tại rất sớm từ thời Trần, là nhà nghỉ chân công cộng và là nơi thờ Phật Hiện nay, những ngôi đình xưa nhất còn biết đến thuộc niên đại thời Mạc thế kỷ XVI Qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, đình làng
có chức năng là nơi hành chính, tôn giáo và văn hóa Đình là nơi họp bàn các việc làng, nơi thờ Thành hoàng làng, nơi biểu diễn kịch hát, các lễ hội… có thể nói ngôi đình là biểu tượng cho cộng đồng làng Việt, cho một địa phương làng xã nơi đó Chính vì vậy mà mỗi làng xã đều có một ngôi đình được nghệ nhân nơi đó xây dựng
và trang trí thể hiện văn hóa, tín ngưỡng của làng và thẩm mỹ của người dân địa phương
Quá trình hình thành đình làng tại Nam Bộ cũng như đình làng tại Bình Dương
từ thế kỷ XVII do di dân người Việt từ Bắc Bộ vượt biển cư ngụ tại đồng bằng sông Cửu Long Lúc bấy giờ đất trống, rừng hoang rất nhiều, cuộc sống đánh bắt và săn bắn gặp nhiều khó khăn, nương tựa vào Thần linh và cầu an mỗi ngày trở thành thiết yếu cho cuộc sống nơi rừng sâu núi thẳm Người dân di cư đã xây dựng miếu thờ Thần và những vị tổ khai hoang, với tâm trạng hướng về cội nguồn và quê cha đất tổ
Vì vậy, ngoài sân đình, sau nghi môn và trên trục thần đạo, hầu hết đình làng tại Nam
Bộ cũng như đình làng tại Bình Dương đều có bức bình phong “Thần Hổ” trấn giữ hay chim đại bàng chống tà ma nơi rừng sâu núi thẳm và bàn thờ hai bên tả hữu là thờ Thần nông, các vị Thần, anh hùng liệt sĩ
Đình làng tại Nam Bộ nói chung và đình làng tại Bình Dương nói riêng đều
có kiểu thức tạo hình của thời Hậu Lê và thời Nguyễn với những chuẩn mực như: Mặt bằng có dạng hình chữ nhật, được cấu trúc thường theo dạng tự chữ Nhất hay chữ Đinh, có hai khu vực chính đại đình và hậu đình, có bốn cột cái còn gọi là tứ trụ hay tứ trượng rất to lớn và làm bằng gỗ quý, chạm khắc công phu dùng để đỡ lấy bộ mái đình to lớn lợp ngói, trên nóc mái đình trang trí những biểu tượng bằng chất liệu
sành tráng men với các biểu tượng như: Lưỡng long tranh châu, Cá hóa long, Hổ
phù, Nhật nguyệt, Tứ linh, Bát tiên, Hoa quả, Tứ thời, Tứ hựu, Ngư tiều canh mục,
Trang 37Phúc Lộc Thọ, Tùng Lộc Phúc, Hoa điểu… Ở tiền đình thường có bình phong tượng
chúa sơn lâm và một số đình làng có vẽ biểu tượng Rồng uốn khúc trấn giữ trong tư
thế rất uy nghi, dũng mãnh được thể hiện bằng cách ghép nhiều mảnh gốm nhiều màu, đắp nổi bê tông hay được vẽ bằng sơn nhiều màu trực tiếp trên tường Đặc biệt phần trang trí ở đại đình được quy định rất chặt chẽ như trên bàn thờ chính thờ chữ Thần được lộng trong khung gỗ hoặc viết trên tường với nét chữ chân phương, đĩnh đạc, nghiêm trang Đôi Chim Hạc đứng trên mai Rùa cao lớn bên nhang án với chất liệu gỗ, đúc đồng hay bê tông tô màu thể hiện nghệ thuật chạm khắc giai đoạn lúc
bấy giờ Các bao lam được chạm khắc hay ghép gốm các biểu tượng như: Bát Tiên,
Long hải đông cung, Tứ thời, Bát bửu, Tứ linh… Nhiều liễn đối, hoành phi được
chạm khắc rất sắc sảo và được sơn son thếp vàng…
Từ những cứ liệu lịch sử về quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam
Bộ và Bình Dương xưa, về đình làng tại Nam Bộ và Bình Dương, từ những nhận định đặc trưng về văn hóa vùng, văn hóa tộc người và các lý thuyết về Nghệ thuật học, Mỹ học, từ đó luận án được trình bày kết hợp lý thuyết Mỹ thuật học để đưa ra giả thuyết nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương là một trong các loại hình nghệ thuật truyền thống, nó phản ánh chủ yếu những khía cạnh nhất định của cuộc sống, với tính chất và nhiều loại hình tượng, phương thức quy tắc nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người và những quy luật xây dựng biểu tượng nghệ
thuật
NCS căn cứ vào các nhận định, phân tích của các nhà nghiên cứu đi trước để
có thể định hướng cho quá trình nghiên cứu như sau: Phân tích ngôn ngữ tạo hình ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương là phân tích nghệ thuật tạo hình các tượng tròn, tác phẩm chạm khắc, tác phẩm phù điêu, đồ thờ và tác phẩm hội họa được trang trí trên các công trình kiến trúc gỗ truyền thống Việt Làm rõ nhận định tính chất vàng
son chốn cung đình thay vào đó là màu sắc dân dã cùng với biểu tượng Thiên nhiên
Nhận dạng nghệ thuật cho đánh giá và phân tích kĩ thuật chạm khắc gỗ, hình thức và ngôn ngữ thể hiện với những đặc trưng nào Chứng minh bố cục tác phẩm đã phá vỡ
Trang 38bố cục biểu tượng truyền thống cặp đôi đăng đối thay vào đó là biểu tượng Chim
muông, Hoa lá, Cây trái địa phương
1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.2.1 Lý thuyết Nghệ thuật học và Mỹ thuật học
Phan Ngọc đã từng dịch theo M CaGan, đưa ra một cái nhìn tổng quan về lịch
sử và lý luận, cơ cấu bên trong của thế giới nghệ thuật [71] Tác giả chú ý đến phát hiện tất cả những cấp độ căn bản của sự phân chia hoạt động sáng tạo nghệ thuật, làm sáng tỏ những mối liên hệ phối hợp và phụ thuộc giữa các cấp độ, mối tương quan của các phân lớp, các nhóm nghệ thuật của các loại hình, loại thể Mối tương quan là một hệ thống thống nhất và phức tạp của những hình thức nghệ thuật đã hình thành một cách tự phát trong quá trình phát triển của văn hóa nghệ thuật thế giới làm thành một hệ thống tồn tại khách quan mà tính linh động về mặt lịch sử của nó không gạt
bỏ, trái lại bộc lộ những tính quy luật cấu trúc làm cơ sở cho nó Trong các xu hướng phân tích hình thái học nghệ thuật có xu hướng phân chia nghệ thuật thành “cao” và
“thấp”, so sánh giữa hình thái “nghệ thuật thuần túy”, với nghệ thuật ứng dụng, nghệ thuật trang trí Sự phân chia theo một chuẩn mực có tính ước lệ, bởi vì nó không được thừa nhận ở mọi thời đại, và trong mọi nền văn hóa “Sự phân chia các nghệ thuật là sản phẩm của sự phát triển lịch sử” [71, tr.203] Vì vậy, nội dung luận án đã được vận dụng các luận điểm này để phân tích và nhận định đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương nhằm xác định vị thế riêng trong nghệ thuật chạm khắc trang trí truyền thống Việt bởi sự phân chia các tầng lớp cao thấp trong nghệ thuật chỉ mang tính ước lệ, nghệ thuật thể hiện ở chỗ thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người
Tính “ước lệ” trong nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương thông qua
nguyên tắc điển hình hóa nghệ thuật của phương pháp sáng tác huyền thoại - dân gian
đã được nghệ nhân bộc lộ rõ ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong cùng một tác phẩm chạm khắc hay hội họa, nghệ nhân diễn tả biểu tượng nắm được thông qua hình thức
tả thật mang tính chất trang trí nhưng mặt nào đó chưa nắm được thì họ dùng hình thức cách điệu hóa mang tính chất thậm xuân với nhiều huyền hoặc, dân gian để dệt
Trang 39nên biểu tượng đầy bí ẩn Họ dùng hư cấu gắn với sức mạnh có tính người cho các lực lượng siêu nhiêu, các vị Thần có nhiều uy thế và quyền lực
Biểu tượng nghệ thuật “là kết quả của quá trình tư duy, nghiên cứu, thực hành sáng tạo của nghệ sĩ nói chung và lĩnh vực mỹ thuật, kiến trúc, sân khấu, âm nhạc, văn học, thi ca và nó đạt được hiệu quả thẩm mỹ, nêu được nét riêng của từng chủ thể sáng tạo và nó có khả năng thông đạt ý tưởng Nghĩa là nó bao gồm nghệ thuật thị giác, nghệ thuật thính giác và nghệ thuật tổng hợp” [72, tr.64]
đã có được cái hình thức tương ứng với khái niệm của mình làm thành lý tưởng” [48, tr.6] Với tinh thần hoạt động tích cực, tự do sáng tạo thì ý niệm nghệ thuật là lý tưởng, là tinh thần, là tư tưởng, là chiêm ngưỡng nội tâm, là những sức mạnh phổ biến, là hoạt động con người, thậm chí là thần linh
Tính độc đáo và giá trị mỹ học Hêghen là lần đầu tiên có sự phân tích cấu trúc
về thế giới nghệ thuật là sự dung hợp và sự dung hợp hữu cơ với sự phân tích lịch sử
Hêghen [49] còn nhấn mạnh phân tích rất rõ và cụ thể các đặc trưng của ngành nghệ thuật Bố cục nghệ thuật tạo hình kiến trúc và điêu khắc, cái đẹp của biểu tượng điêu khắc, điêu khắc - nghệ thuật của lý tưởng cổ điển, đặc trưng của hội họa: Hư cấu nghệ thuật, bố cục đặc trưng… Luận điểm Hêghen về tính vĩnh cửu và sự dung hợp là bản chất nghệ thuật, đó là căn cứ để nhận diện giá trị trường tồn của nghệ thuật trang trí
từ tạo hình bên ngoài đến tính chất nội tại bên trong
Nghệ thuật và cái đẹp đan xen vào nhau, tồn tại vĩnh hằng theo thời gian Tác giả luận về cái đẹp, trình bày các ý kiến khác nhau nhưng tác giả viết kĩ nhất về cái
đẹp: Thánh Augustintheo ông sự tương quan chính xác giữa các bộ phận với nhau
Trang 40của một tổng thể, làm cho tổng thể ấy hợp thành đơn nhất, đấy chính là tính chất đặc trưng của vẻ đẹp” [36, tr 64]
Theo quan điểm mỹ học Mác - Lênin là cơ sở khoa học để phân loại các nghệ thuật, cái đẹp từ góc nhìn bản thể (khách thể), cái đẹp trong quy luật hài hòa: “Hài hòa là yếu tố tập trung quan trọng nhất tạo nên cái đẹp mà tất cả các nhà mỹ học trong lịch sử từ xưa đến nay đều thừa nhận Nên ở đây, cần đi sâu vào quy luật hài hòa để
xác định phẩm chất cái đẹp” [63, tr.96] Luận điểm cái đẹp trong nghệ thuật khác với
cái đẹp khách quan tồn tại ngoài cuộc sống, cái đẹp trong nghệ thuật là một sản phẩm đặc biệt do nghệ sĩ sáng tạo ra Nhưng cái đẹp trong cuộc sống và cái đẹp trong nghệ thuật không hề đối lập nhau Mối quan hệ cơ bản của nó là quan hệ giữa cái được phản ánh (cái đẹp ngoài cuộc sống) và cái phản ánh (tức nghệ thuật) Cái đẹp trong nghệ thuật là cái thống nhất biện chứng giữa nội dung đẹp và hình thức đẹp
Tính điển hình của cái đẹp trong nghệ thuật còn gắn với tính cá thể hóa sinh động của biểu tượng đẹp cụ thể, bởi vì điển hình hóa trong nghệ thuật bao gồm hai mặt: Khái quát hóa và cụ thể hóa “Ước lệ là một hình thái thông tin đặc biệt của cái đẹp trong nghệ thuật Nhờ ước lệ, nghệ sĩ có thể nhấn mạnh mặt này mặt kia, thu gọn khía cạnh này hoặc khía cạnh nọ, thay thế hoặc lắp ghép bộ phận này vào bộ phận khác làm cho cái đẹp ngoài cuộc sống nổi bật hơn, dễ thấy, thú vị hơn, do đó tính mỹ
cảm sâu sắc hơn” [63, tr.107] Vận dụng luận điểm biện chứng và lịch sử xã hội theo quan điểm Mác - Lênin: Cái đẹp trong một chỉnh thể hài hòa, cái đẹp khách quan
trong cuộc sống và cái đẹp phản ánh trong nghệ thuật có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời, cái đẹp trong nghệ thuật đạt lý tưởng thẩm mỹ mang tính nhân văn cao thông qua tính chân thực của cuộc sống Với luận điểm trên giúp NCS phân tích sâu
về cái đẹp qua hình thái thông tin ước lệ làm nổi bật giá trị nghệ thuật của biểu tượng
ở đình làng tại Bình Dương mang tính dân tộc cao, là một bức tranh liên tưởng đến toàn cảnh nền nông nghiệp lúa nước
1.2.2.3 Lý thuyết Vùng văn hóa, tiếp biến văn hoá và Sử học
Khảo sát các làng tại Bình Dương xưa đều thấy các hiện tượng “làng mạc được phân bố theo dạng kéo dài, lấy “kinh mương” hay “lộ” giao thông làm trục Dân cư