1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tổng quan về luật gia đình Cộng hòa liên bang Đức " pdf

15 836 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hậu quả pháp lí chung của hôn nhân được quy định từ Điều 1353 đến Điều 1362 - Tiêu biểu nhất là khoản 1 Điều 1353 quy định hai người sau khi kết hôn có nghĩa vụ chung sống là vợ ch

Trang 1

Thu Lan Boehm *

rong hệ thống pháp luật của CHLB Đức,

luật gia đình là bộ phận chuyên ngành

của luật dân sự Luật gia đình điều chỉnh các

quan hệ pháp luật giữa các cá nhân có liên

quan với nhau qua hôn nhân, qua quan hệ gia

đình và qua quan hệ huyết thống Ngoài ra

luật gia đình cũng điều chỉnh các quan hệ

pháp luật thay thế quan hệ huyết thống có liên

quan đến chức năng đại diện theo pháp luật

như giám hộ, hỗ trợ pháp luật và bảo trợ

Bài viết này giới thiệu tổng quát hệ

thống luật gia đình hiện hành ở CHLB Đức

được quy định ở quyển IV của Bộ luật dân

sự(1) (BLDS) của CHLB Đức

1 Nguồn của luật gia đình CHLB Đức

1 Hiến pháp nước CHLB Đức(2) ghi nhận

sự bảo hộ đặc biệt của nhà nước đối với hôn

nhân và gia đình tại Điều 6

2 Công ước châu Âu về nhân quyền(3)

nhấn mạnh mục đích bảo vệ người dân trước

các sự can thiệp của chính quyền, đặc biệt là

sự tôn trọng và đảm bảo cuộc sống gia đình,

đòi hỏi các biện pháp của nhà nước để cha

mẹ và con được chung sống

3 Công ước quốc tế về quyền trẻ em(4)

nhấn mạnh quyền được bảo vệ, quyền được

sống, được chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng

thành, phát triển mạnh khoẻ và hạnh phúc,

trong tình thương yêu của cha mẹ, gia đình

và cộng đồng

4 BLDS Đức quy định về hôn nhân, quan

hệ họ hàng, về giám hộ, hỗ trợ pháp luật, bảo trợ (quyển IV) quy định về thừa kế (quyển V), quy định về hôn nhân và quan hệ họ hàng

có yếu tố nước ngoài (Luật thi hành BLDS)

5 Luật về bạn đời(5) quy định về quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính

6 Luật về cấp dưỡng tạm ứng(6) quy định

về sự hỗ trợ của nhà nước trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em không có khả năng hay trốn tránh thực hiện nghĩa vụ

7 Luật tố tụng dân sự(7) quy định các thủ tục tố tụng cho các vụ kiện về gia đình nếu Luật về thủ tục tố tụng trong các vấn đề gia đình và trong các vấn đề tự nguyện không có những quy định khác

8 Luật về thủ tục tố tụng trong các vấn

đề gia đình và trong các vấn đề tự nguyện(8)

quy định những thủ tục tố tụng đặc biệt

2 Lịch sử phát triển của luật gia đình CHLB Đức từ năm 1900 đến nay

Theo BLDS (năm 1900) thì người chồng

là người đứng đầu và đại diện pháp lí cho

cả gia đình Họ của người chồng là họ của

cả gia đình, người chồng quyết định nơi ở của gia đình, đặt tên cho các con, quyết định nghề nghiệp của các con và có nghĩa

vụ cấp dưỡng, đảm bảo cho vợ con cuộc

T

* Luật sư tại Toà án tối cao tiểu bang Rostock, tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern

Trang 2

sống đầy đủ về vật chất Người vợ có

quyền và nghĩa vụ thực hiện các công việc

nội trợ trong gia đình và nuôi dạy con, chỉ

được đi làm nếu người chồng cho phép và

không trễ nải việc nhà Đó là khuôn mẫu

gia đình theo luật La Mã cổ

Năm 1918, dưới thời chính quyền Cộng

hoà Weimar, phụ nữ được quyền bầu cử và

ứng cử Năm 1919, Hiến pháp Weimar quy

định về nguyên tắc, phụ nữ và nam giới có

quyền lợi và nghĩa vụ như nhau Tuy nhiên,

phải đến năm 1949 quyền bình đẳng nam nữ

hoàn toàn trên mọi lĩnh vực mới được đưa

vào Hiến pháp (Điều 3 Hiến pháp CHLB

Đức) và đến năm 1953, tất cả các quy định

pháp luật của Đức trái với nguyên tắc bình

đẳng nam nữ đều bị mất hiệu lực Những văn

bản pháp lí này cùng với Luật bảo vệ các bà

mẹ năm 1953 và Luật bình đẳng giới năm

1958 đã làm thay đổi hoàn toàn vị trí của

người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội,

đưa đến những thay đổi cơ bản trong Luật gia

đình Từ năm 1998, vị trí pháp lí của con

ngoài giá thú về mức cấp dưỡng và về thừa kế

được đặt ngang với con trong giá thú và từ

năm 2001, Luật về bạn đời công nhận đăng kí

bạn đời giữa những người đồng giới tính

Luật gia đình của CHLB Đức thay đổi

theo sự phát triển của xã hội, có lúc đáp ứng

nhanh những quan điểm mới, có lúc lại rất

chậm nhưng nội dung của luật gia đình của

CHLB Đức luôn là sự phản chiếu thái độ của

xã hội đối với các giá trị tinh thần và vật chất

liên quan đến gia đình

3 Nội dung của luật gia đình CHLB Đức

Các quy định về luật gia đình được tập

trung chủ yếu trong Quyển IV của BLDS và

được chia thành ba chương:

- Hôn nhân dân sự;

- Họ hàng;

- Giám hộ, chăm sóc pháp luật và hỗ trợ Như vậy, cấu trúc của Bộ luật đã thể hiện

rõ những mối quan hệ xã hội nào là đối tượng của luật gia đình trong BLDS Các quan hệ giữa các bạn đời cùng giới tính được quy định riêng trong Luật về bạn đời Điều này là có chủ ý, vì qua đó thấy rõ quan hệ bạn đời có đăng kí không phải là hôn nhân

và vì thế không được đặt dưới sự bảo hộ của Hiến pháp CHLB Đức (khoản 1 Điều 6 Hiến

pháp CHLB Đức ghi rõ: “ Nhà nước bảo

hộ hôn nhân và gia đình” Các chủ thể chính

của luật gia đình là gia đình theo nghĩa hẹp (gồm trẻ em và cha mẹ chúng), các cơ quan liên quan như toà án gia đình, sở bảo vệ người chưa thành niên và các cơ quan đỡ đầu người chưa thành niên

3.1 Hôn nhân dân sự

Chương hôn nhân dân sự có các mục sau:

- Đính hôn;

- Kết hôn;

- Huỷ kết hôn;

- Kết hôn sau khi có người chồng hay

người vợ bị tuyên bố là chết;

- Các hậu quả pháp lí chung của hôn nhân;

- Quyền về tài sản hôn nhân;

- Li hôn;

- Các nghĩa vụ thuộc về nhà thờ

Bố cục của Chương này rất đặc trưng cho bố cục chung của BLDS nói riêng và của tất cả các quy định pháp luật của CHLB Đức nói chung: Đầu tiên là các quy định về xác lập các loại quan hệ pháp luật, tiếp theo

là quy định về các hậu quả pháp lí của nó, sau đó là quy định về cách chấm dứt quan hệ

Trang 3

này và cuối cùng là quy định về hậu quả

pháp lí của việc chấm dứt

Hôn nhân dân sự được quy định từ Điều

1297 đến Điều 1588 BLDS BLDS không

định nghĩa hôn nhân nhưng theo văn hoá

phương Tây thì hôn nhân là sự chung sống

giữa một người nam giới và một người phụ

nữ được nhà nước công nhận Hôn nhân dân

sự gồm đính hôn và kết hôn Hôn nhân theo

luật gia đình CHLB Đức tuân theo nguyên

tắc gắn bó suốt đời (Điều 1353 BLDS),

nguyên tắc một vợ một chồng (Điều 1306)

nguyên tắc đồng thuận (Điều 1310, Điều

1311 BLDS) và nguyên tắc chung sống toàn

diện (số 2 khoản 1 Điều 1353 BLDS)

3.1.1 Đính hôn (được quy định từ Điều

1297 đến Điều 1302)

Đính hôn là dạng thoả thuận giữa hai bên

nam nữ là sẽ kết hôn trong tương lai song sự

thoả thuận này không có hiệu lực pháp lí,

không bên nào có thể qua tranh tụng bắt

buộc bên kia phải thực hiện thoả thuận Tức

là sau khi đính hôn mà một bên không muốn

kết hôn nữa thì bên kia không thể ra toà án

kiện bắt bên kia phải thực hiện thoả thuận

này Nếu một bên do tin vào sự kết hôn trong

tương lai mà có những chi tiêu cho việc đính

hôn hay những chi tiêu hợp lí khác cho cuộc

sống chung trong tương lai mà bên kia

không muốn kết hôn nữa thì họ có quyền đòi

bên không muốn kết hôn đền bù những phí

tổn này Ngoài ra, hai người đã đính hôn với

nhau được pháp luật coi là người thân thích

của nhau và họ có quyền từ chối khai báo về

nhau trước toà án và cơ quan điều tra (Điều

383 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 52 Bộ

luật tố tụng hình sự) Chung sống với nhau

như vợ chồng không có giá thú không được coi là đính hôn

3.1.2 Kết hôn (được quy định từ Điều

1303 đến Điều 1312) Kết hôn là sự tự nguyện xác lập quan hệ

vợ chồng giữa hai người nam và nữ theo quy định của pháp luật và được nhà nước cho phép dưới hình thức pháp lí đăng kí kết hôn Tuổi kết hôn của cả nam và nữ là 18 tuổi Người tròn 16 tuổi mà chưa đủ 18 tuổi chỉ có thể kết hôn nếu toà án gia đình chấp nhận đơn xin miễn đòi hỏi đủ tuổi và người chồng hoặc vợ tương lai đã đủ 18 tuổi, sự đồng ý của cha mẹ hay người giám hộ là không cần thiết

Việc kết hôn bị cấm đối với những người đang có vợ hoặc có chồng và với người bị mất năng lực dân sự Việc kết hôn cũng bị cấm giữa những người cùng dòng máu trực

hệ, giữa anh chị em ruột, giữa cha mẹ nuôi

và con nuôi, kể cả khi quan hệ cha mẹ nuôi

và con nuôi đã chấm dứt

Việc kết hôn chỉ có hiệu lực pháp lí khi thủ tục đăng kí được thực hiện tại phòng đăng

kí kết hôn theo quy định của pháp luật Đặc biệt quan trọng là hai người muốn kết hôn phải tự nói ra nguyện vọng muốn kết hôn với nhau trước mặt nhau và trong sự hiện diện của người công chức có thẩm quyền làm thủ

tục đăng kí (Điều 1310 đến Điều 1312)

3.1.3 Huỷ việc kết hôn (được quy định

từ Điều 1313 đến Điều 1318) Nếu việc kết hôn trái với các quy định của pháp luật, cụ thể là trái với các điều từ Điều 1303 đến Điều 1312 hoặc do những sự kiện khác như người vợ hoặc chồng trong lúc kết hôn bị lừa dối hay bị đe dọa (khoản

Trang 4

2 Điều 1314) thì toà án có quyền huỷ việc

kết hôn theo yêu cầu của người bị lừa dối

hay bị đe dọa, của cơ quan có thẩm quyền

hay của người thứ ba có liên quan (người vợ

hay người chồng trong trường hợp chồng

hay vợ của họ kết hôn) Trong khi việc yêu

cầu huỷ kết hôn do trái với các điều từ Điều

1303 đến Điều 1312 không bị giới hạn về

thời gian thì thời hạn cho việc yêu cầu huỷ

kết hôn theo Điều 1314 khoản 2, số 4 là ba

năm khi người vợ hoặc chồng bị đe dọa, thời

hạn của các trường hợp khác trong khoản

này là một năm Điều này là cần thiết để

nhanh chóng thiết lập sự rõ ràng cho tính

hợp pháp của việc kết hôn (Điều 1357

BLDS) Hậu quả pháp lí của huỷ kết hôn trái

pháp luật là hai người đã kết hôn không phải

là vợ chồng và không có trách nhiệm hay

quyền hạn xuất phát từ hôn nhân đối với

nhau Trong một số trường hợp do luật định

(đặc biệt khi một người bị đe dọa hay bị lừa

dối) thì những quy định về chia tài sản hay

cấp dưỡng của li hôn được vận dụng có lợi

cho người bị đe dọa hay bị lừa dối

3.1.4 Kết hôn sau khi có chồng hay vợ bị

tuyên bố là chết (được quy định tại Điều

1319 và Điều 1320): quy định về việc huỷ

hay giữ việc kết hôn của một người có vợ

hay chồng bị tuyên bố là chết với người khác

mà người bị tuyên bố là chết vẫn còn sống

3.1.5 Các hậu quả pháp lí chung của

hôn nhân (được quy định từ Điều 1353 đến

Điều 1362)

- Tiêu biểu nhất là khoản 1 Điều 1353

quy định hai người sau khi kết hôn có nghĩa

vụ chung sống là vợ chồng với nhau trong

một nhà: “trong một nhà” là quyền và nghĩa

vụ; nếu không có lí do xác đáng, vợ chồng không được ở riêng tại hai nhà khác nhau và trong trường hợp đó, họ có quyền đến nhà nhau bất cứ lúc nào.(9) “Chung sống là vợ chồng” là quyền có quan hệ sinh lí với nhau giữa người vợ và người chồng Từ nhiều năm nay quyền này không còn là đối tượng của các phiên toà gia đình nữa và nếu có quyết định như vậy thì quyết định đó chỉ có

ý nghĩa tượng trưng vì nó không có hiệu lực trong việc bắt buộc thi hành án.(10) Quyền này bị nhiều học giả coi là vi hiến vì trái với quyền tự quyết về tình dục là một nhân quyền được Hiến pháp bảo vệ (11) Mặt khác, quyền này là đặc thù của quan hệ hôn nhân Việc tranh luận về quyền này chỉ còn mang tính chất hàn lâm từ khi Điều 177 Bộ luật hình sự Đức được sửa đổi và việc cưỡng ép chịu đựng tình dục trong hôn nhân qua bạo lực hay đe dọa cũng là tội cưỡng dâm và hiếp dâm.(12) Trong điều kiện lí tưởng, sự mâu thuẫn giữa các quyền không tồn tại vì

vợ chồng còn có nghĩa vụ tôn trọng nhân phẩm và chính kiến của nhau, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, chung thuỷ với nhau

- Vợ chồng chọn một họ chung cho cả gia đình Họ đó có thể là họ khai sinh hay họ do hôn nhân lần trước mà có của người chồng hay của người vợ Người có họ khai sinh không được chọn làm họ chung thì có thể để

họ khai sinh của mình vào trước hay sau họ chung Nếu không chọn họ chung thì vợ và chồng vẫn giữ nguyên họ của mình và các con chung khi sinh ra chỉ được mang họ của

bố hoặc mẹ Đây là thay đổi có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện quyền bình đẳng nam nữ vì theo văn hoá phương Tây từ xưa

Trang 5

đến nay, người nữ khi kết hôn phải bỏ họ

khai sinh của mình để mang họ của chồng

- Cả vợ và chồng đều có nghĩa vụ đóng

góp vào việc cấp dưỡng đảm bảo mức sống

của gia đình Mức sống của mỗi gia đình phụ

thuộc vào tình trạng thu nhập và tài sản của

hai vợ chồng và là tiêu chuẩn để tính mức

cấp dưỡng Vợ chồng cùng nhau quyết định

về nơi ở, về sự phân công lao động trong gia

đình Cả hai đều có quyền đi làm Nếu người

chồng hay vợ không đi làm mà ở nhà lo nội

trợ và nuôi dạy con thì lao động này của họ

có giá trị ngang với việc đóng góp bằng tiền

của người đi làm Ngay cả khi sống li thân,

nếu người vợ hay chồng không đủ khả năng

tiếp tục giữ cho mình mức sống tương đương

như mức sống của gia đình thì người kia phải

có nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 1361 BLDS)

3.1.6 Tài sản hôn nhân của vợ chồng

(được quy định từ Điều 1363 đến Điều 1563)

Luật gia đình Đức phân biệt các quy

định về tài sản hôn nhân do luật định và các

quy định thoả thuận qua hợp đồng hôn nhân

(hôn khế) Nguyên tắc tự do thoả thuận qua

hợp đồng cũng được áp dụng cho tài sản hôn

nhân nên vợ chồng có thể tự thoả thuận các

quan hệ về tài sản của họ trong hợp đồng

hôn nhân hay thoả thuận theo luật định

Nếu không có hợp đồng hôn nhân thì

quan hệ tài sản trong hôn nhân sẽ tuân theo

các quy định của chế độ tài sản cộng đồng

gia tăng (Điều 1361 BLDS) Ở chế độ này,

tài sản của vợ hay chồng, kể cả tài sản có

được sau khi kết hôn, vẫn là tài sản riêng của

người ấy, mỗi người tự quản lí và chịu trách

nhiệm về tài sản của mình và chỉ cần ý kiến

đồng thuận của người kia khi muốn chuyển

nhượng toàn bộ tài sản của mình hay đồ vật thuộc về đồ đạc trong nhà (các điều từ Điều

1363 đến Điều 1369 BLDS) Tài sản gia tăng của vợ chồng chỉ được chia khi cộng đồng gia tăng chấm dứt Nếu chế độ cộng đồng gia tăng bị chấm dứt vì người vợ hay chồng chết thì sự chia tài sản gia tăng được thực hiện qua việc phần thừa kế của người sống được tăng thêm ¼ Nếu chế độ cộng đồng gia tăng bị chấm dứt qua li hôn thì người nào

có phần tài sản gia tăng cao hơn sẽ phải chia đôi phần nhiều hơn với người kia, để cho phần gia tăng tài sản của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân bằng nhau Tài sản gia tăng là sự chênh lệch về giá trị (tức là phần gia tăng) của tài sản tính từ ngày kết hôn đến ngày đơn xin li hôn được toà án gia đình thụ

lí Những tài sản mà người vợ hay người chồng nhận được từ cha mẹ hay họ hàng của mỗi người như của hồi môn, thừa kế, quà tặng riêng trong thời gian hôn nhân không

bị coi là phần gia tăng của tài sản khi li hôn Qua hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có thể thoả thuận không theo chế độ tài sản cộng đồng gia tăng mà chọn chế độ tài sản sở hữu tài sản tách riêng hoặc chế độ tài sản sở hữu tài sản chung

Ở chế độ tài sản sở hữu tài sản tách riêng (Điều 1414 BLDS) tài sản của vợ chồng, kể

cả tài sản mà vợ chồng có được sau khi kết hôn qua lao động, là tài sản riêng của người

ấy Mỗi người tự quản lí và chịu trách nhiệm

về tài sản của mình, có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt độc lập không cần có ý kiến của người kia Nếu người vợ hay người chồng lâm vào tình trạng phá sản thì chỉ có tài sản của người này trở thành khối tài sản

để thanh toán nợ

Trang 6

Ở chế độ tài sản sở hữu tài sản chung (các

điều từ Điều 1415 đến Điều 1518 BLDS), tất

cả tài sản của hai vợ chồng có từ trước ngày

kết hôn và tài sản vợ chồng có được trong

thời gian hôn nhân qua lao động, thừa kế trở

thành tài sản chung của vợ chồng mà không

cần nghi thức pháp lí nào Cả hai vợ chồng có

quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt như

nhau đối với tài sản chung, nếu người vợ hay

người chồng bị phá sản thì toàn bộ tài sản

chung sẽ bị đưa vào khối tài sản để thanh

toán nợ Chế độ tài sản sở hữu tài sản chung

chấm dứt qua li hôn hoặc qua cái chết của

người vợ hay chồng hoặc qua đơn xin chấm

dứt chế độ tài sản Lúc đó tài sản sẽ chia đôi

giữa vợ chồng sau khi thanh toán hết những

nghĩa vụ chi trả Trong trường hợp người vợ

hay chồng chết thì tài sản sẽ chia đôi giữa

người còn sống và các con sau khi thanh

toán hết những nghĩa vụ chi trả

3.1.7 Li hôn

Li hôn (được quy định từ Điều 1564 đến

Điều 1587 BLDS) là sự kết thúc quan hệ hôn

nhân qua bản án của toà án Khi nào bản án

li hôn chưa có hiệu lực pháp luật thì hôn

nhân vẫn còn tồn tại Hôn nhân chỉ được kết

thúc khi hôn nhân đã tan vỡ, tức là vợ chồng

không còn gắn bó với nhau nữa và khả năng

đạt được mục đích của hôn nhân trong tương

lai là không còn, hay ít nhất là một người đã

hoàn toàn không còn tình cảm vợ chồng với

người kia nữa và hai vợ chồng đã sống li

thân ít nhất là một năm

Đủ hai điều kiện này, toà án sẽ xử cho li

hôn khi cả vợ, chồng hoặc một trong hai

người yêu cầu li hôn và người kia đồng ý

Nếu thời gian gian li thân kéo dài đã ba

năm thì toà án vẫn xử li hôn, ngay cả khi một bên vợ hay chồng không đồng ý li hôn Nếu thời gian li thân chưa đến một năm thì toà án chỉ cho li hôn khi có những lí do đặc biệt làm cho sự tồn tại của hôn nhân là không thể chấp nhận được đối với một bên

vợ hay chồng, ví dụ nếu một bên vợ hay chồng có hành động làm ảnh hưởng nặng nề đến nhân phẩm, sức khoẻ của người kia Ngược lại, toà án không xử li hôn ngay khi có đủ hai điều kiện trên, nếu sự tồn tại của hôn nhân là thật sự cần thiết hay việc li hôn là quá sức chịu đựng đối với con chung của vợ chồng còn ở tuổi chưa thành niên hay đối với bên vợ hay chồng không thuận tình li hôn (hôn nhân lâu năm, một bên bị bệnh nặng hay bị bệnh về tâm lí, có nguy cơ tự tử ) Toà án gia đình xác định tiền hưu trí của hai vợ chồng có được thông qua bảo hiểm hưu trí trong thời gian hôn nhân Người có tiền hưu trí cao hơn sẽ phải chia phần chênh lệch cho vợ hay chồng, nhằm đảm bảo số tiền hưu trí có được trong thời gian hôn nhân của hai người bằng nhau

3.1.8 Các nghĩa vụ thuộc về nhà thờ: Các

quy định của BLDS chỉ có hiệu lực đối với hôn nhân dân sự Nghĩa vụ và quyền của các tín đồ tôn giáo vẫn tuân theo các quy định của nội bộ nhà thờ hay tổ chức tôn giáo của họ

3.2 Họ hàng dân sự

Chương họ hàng dân sự có các mục sau:

- Các quy định chung;

- Nguồn gốc xuất thân;

- Cấp dưỡng;

- Các quan hệ pháp lí chung giữa cha mẹ

và con;

- Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ;

Trang 7

- Giúp đỡ của sở bảo vệ người chưa

thành niên;

- Nhận con nuôi

3.2.1 Quan hệ họ hàng (được quy định

từ Điều 1589 đến Điều 1590 (BLDS) phân

biệt họ hàng qua huyết thống và họ hàng

được thiết lập qua hôn nhân Họ hàng được

thiết lập qua hôn nhân không bị xoá bỏ, ngay

cả khi cuộc hôn nhân tạo ra quan hệ họ hàng

này không còn tồn tại nữa Song quan hệ họ

hàng này chỉ phát sinh một lần khi hôn nhân

còn tồn tại, ví dụ người chồng sau khi li hôn

vẫn là bố dượng của con riêng của vợ có

trước khi kết hôn nhưng nếu sau khi li hôn

mà người vợ có thêm con với người khác thì

người chồng đã li hôn không phải là bố

dượng của đứa trẻ mới sinh Vợ chồng

không phải là họ hàng của nhau

3.2.2 Nguồn gốc xuất thân: Quan hệ

mẹ-con và cha-mẹ-con là mối quan hệ huyết thống

theo quy luật sinh học Theo quy luật này,

đứa trẻ được thụ thai từ trứng của một người

phụ nữ và tinh trùng của một người đàn ông

Những người này là cha mẹ của một đứa trẻ

Từ trước tới nay, vấn đề khó của pháp

luật là xác định chính xác cha của đứa trẻ

Với sự phát triển của khoa học, việc xác định

chính xác cha của đứa trẻ không còn nan giải

nữa Vấn đề được tranh cãi hiện nay là xác

định chính xác về pháp lí, ai là người mẹ của

đứa trẻ Qua khả năng thực hiện sự thụ tinh

ngoài cơ thể (thụ tinh nhân tạo trong ống

nghiệm), đứa trẻ có thể được thụ thai từ

trứng của người phụ nữ nhưng lại do người

phụ nữ khác sinh ra (hiện tượng đẻ thuê) Tất

cả các hành vi liên quan đến đẻ thuê đều bị

cấm ở Đức.(13) Luật gia đình Đức xác định rõ

trong Điều 1591 BLDS người mẹ của đứa trẻ

là người phụ nữ sinh ra nó Như vậy, mọi quan hệ pháp luật giữa mẹ-con (về cấp dưỡng, thừa kế ) chỉ phát sinh giữa đứa trẻ

và người sinh ra nó và họ hàng của người này Song quan hệ với người phụ nữ có trứng thụ thai lại là cơ sở để xác định những quan

hệ pháp luật có tác động của gen như các quy định cấm kết hôn do cùng dòng máu (Điều

1307 BLDS) hay giao hợp giữa những người

họ hàng (Điều 173 Bộ luật hình sự Đức) Khác với quan hệ mẹ-con, trong việc xác định quan hệ cha-con không chỉ có yếu tố sinh học mà cần có thêm yếu tố pháp lí Luật gia đình Đức xác định quan hệ cha-con theo những yếu tố sau: a) Cha của đứa trẻ là chồng của người phụ nữ vào thời điểm người này sinh con; hoặc b) Là người khai công nhận quan hệ cha-con với đứa trẻ; hay c) Là người được xác định là cha của đứa trẻ qua quyết định của toà án gia đình Quan hệ cha-con được xác định theo hai trường hợp a) và b) có thể được huỷ bỏ theo yêu cầu trước toà

án gia đình

Những người có quyền yêu cầu huỷ bỏ quan hệ cha con là người được nhận là cha theo trường hợp a) và b), người đã thề tuyên thệ là đã quan hệ với người mẹ trong thời kì thụ thai pháp định, người mẹ, người con và các cơ quan liên quan (ví dụ sở bảo vệ người chưa thành niên) Thời hạn cho việc yêu cầu huỷ bỏ quan hệ cha-con là hai năm nhưng đối với từng chủ thể khác nhau thì thời hạn bắt đầu từ những thời điểm khác nhau Ví dụ nếu những người đại diện cho đứa trẻ để lỡ thời hạn quy định cho họ thì khi đứa trẻ 18 tuổi nó có quyền yêu cầu xoá bỏ quan hệ cha

Trang 8

con Trong trường hợp này, thời hạn cũng là

hai năm nhưng không bắt đầu trước thời

điểm thành niên của đứa trẻ và không bắt

đầu trước thời điểm đứa trẻ được biết những

tình tiết để cho rằng người được nhận làm

cha không phải là cha nó

Hậu quả của việc huỷ bỏ là quan hệ cha

con coi như không có từ thời điểm đứa trẻ

sinh ra, dẫn đến có thể họ của đứa trẻ phải

thay đổi, người cha đẻ của đứa trẻ phải bồi

thường tiền nuôi dưỡng đứa trẻ cho người

được nhận làm cha đứa trẻ trong quá khứ,

Nếu có tình tiết cố ý lừa dối, người mẹ

có thể phải chịu trách nhiệm hình sự Các cơ

quan liên quan (ví dụ sở người nước ngoài)

thường yêu cầu xoá bỏ quan hệ cha-con khi

có chứng cứ là có sự mua bán quan hệ này để

làm thủ tục định cư hay nhập quốc tịch cho

người đàn ông khai nhận là cha đứa trẻ.(14)

3.2.3 Các quan hệ pháp luật giữa cha

mẹ và con: Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ

chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và giáo dục

con ở tuổi chưa thành niên Trẻ em có quyền

được hưởng nền giáo dục phi bạo lực Cha

mẹ không được phép đánh đập, hành hạ về

mặt tinh thần hay xỉ nhục con mình Cha mẹ

và con có nghĩa vụ tôn trọng, giúp đỡ và

tương trợ lẫn nhau Con và cha mẹ, cùng với

vợ hay chồng của người chết là người thừa

kế hàng thứ nhất theo luật định

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ (được

quy định từ Điều 1626 đến Điều 1698b

BLDS) cho phép và bắt buộc người có quyền

này thực hiện nghĩa vụ làm cha mẹ Mục

đích của quyền và nghĩa vụ này là tạo điều

kiện pháp lí cho cha mẹ đảm bảo quyền và

lợi ích chính đáng của trẻ em, chứ không

phải là cơ sở pháp lí cho quyền lực đơn thuần của cha mẹ đối với con (“quyền sinh, quyền sát”) Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân

và về tài sản đối với con Trong cả lĩnh vực nhân thân và tài sản, cha mẹ là người đại diện pháp lí của con cái Các quyền và nghĩa

vụ về nhân thân bao gồm quyền đặt họ, tên cho con, quyền quyết định về tôn giáo, chỗ

ở, quốc tịch, quyền đại diện theo pháp luật Các quy định của luật gia đình Đức về họ của đứa trẻ rất cụ thể và khá nghiêm ngặt Cha mẹ chỉ được lựa chọn họ cho đứa con theo các quy định từ Điều 1616 đến Điều 1617c Nếu cha mẹ khi kết hôn đã chọn họ chung của gia đình thì họ này cũng là họ của đứa trẻ Nếu không có họ chung của gia đình, có nhiều quy định khác nhau như cha

mẹ cùng nhất trí chọn họ của người mẹ hay của người cha cho đứa trẻ hoặc khi không có

sự nhất trí thì toà án gia đình có thể can thiệp theo yêu cầu Trong một đời người, họ của một người có thể thay đổi nhiều lần (ví dụ qua kết hôn, qua việc huỷ bỏ quan hệ cha-con hay qua việc được nhận làm cha-con nuôi), chỉ có tên gọi là không được thay đổi

Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền quản lí tài sản của con Riêng khi định đoạt về bất động sản hay toàn bộ tài sản hay tài sản thừa kế của con, cha mẹ phải xin phép toà án gia đình và chỉ được thực hiện khi có phép

Về nguyên tắc, cha mẹ của một đứa con trong giá thú cùng có quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và cùng nhau thực hiện quyền và nghĩa vụ này Quyền trách nhiệm của cha mẹ đối với một đứa trẻ ngoài giá thú thuộc về người mẹ nhưng nếu người cha của đứa trẻ

Trang 9

khai công nhận quan hệ cha-con với đứa trẻ

thì người mẹ có thể cùng với cha đứa trẻ đến

sở bảo vệ người chưa thành niên khai xin

cùng có quyền và nghĩa vụ của cha mẹ

Trong trường hợp li thân và li hôn, không

có sự thay đổi về quyền và nghĩa vụ của cha

mẹ Cha mẹ phải thoả thuận về việc con sẽ ở

với ai Người không ở cùng với con có nghĩa

vụ trả tiền cấp dưỡng và quyền được thăm

nom con thường xuyên Nếu cha mẹ không

thoả thuận được thì sở bảo vệ người chưa

thành niên sẽ giúp đỡ giải quyết mâu thuẫn

hay toà án gia đình sẽ xét xử theo yêu cầu

Bên cạnh các vụ án li hôn thì các vụ án

về phân quyền trách nhiệm cha mẹ, về quyền

được thăm nom con và về việc trả tiền cấp

dưỡng cho con là những mảng công việc chủ

yếu của toà án gia đình

Nếu cha mẹ không thực hiện tốt quyền và

nghĩa vụ của cha mẹ, dẫn đến nguy cơ phát

sinh nguy hại về sức khoẻ, tinh thần, giáo dục

và tài sản của con và cha mẹ không chấp

nhận sự giúp đỡ của sở bảo vệ người chưa

thành niên thì toà án gia đình phải ra quyết

định về các biện pháp để ngăn chặn hậu quả,

cụ thể là hạn chế hoặc tước quyền và nghĩa

vụ của cha mẹ của những bậc cha mẹ này

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ chấm dứt

khi đứa con đủ 18 tuổi hay bị chết

3.2.4 Giúp đỡ của sở bảo vệ người chưa

thành niên: Sở bảo vệ người chưa thành niên

có trách nhiệm giúp đỡ cha mẹ trong việc

chăm sóc và giáo dục con Đặc biệt sở bảo

vệ người chưa thành niên có trách nhiệm hỗ

trợ người mẹ sinh con ngoài giá thú trong

việc xác định quan hệ cha-con và việc kiện

đòi tiền nuôi con (được quy định từ Điều

1712 đến Điều 1717 BLDS) Sở bảo vệ người chưa thành niên là người giám hộ cho đứa trẻ sinh ngoài giá thú, nếu mẹ đứa trẻ chưa đến tuổi thành niên

3.2.5 Nhận con nuôi: Quan hệ giữa cha

mẹ và con cũng có thể phát sinh qua hành vi pháp lí nhận nuôi con nuôi (được quy định

từ Điều 1741 đến Điều 1766 BLDS)

BLDS phân biệt nuôi con nuôi chưa thành niên và nhận con nuôi trưởng thành Mục đích của việc nuôi con nuôi chưa thành niên là đem lại cho đứa trẻ cuộc sống gia đình tốt đẹp khi cha mẹ đẻ của nó không thể hoặc không muốn làm điều này.(15) Còn mục đích của việc nhận con nuôi trưởng thành là hợp pháp hoá mối quan hệ cha mẹ

và con đã hình thành vững chắc giữa những người trưởng thành Một người chỉ có thể có một cha, một mẹ nuôi

Việc nhận nuôi con nuôi chưa thành niên hợp pháp chỉ được toà án gia đình cho phép khi có đủ những điều kiện luật định sau: A) Đơn xin nuôi con nuôi của chính người nhận nuôi con nuôi đặt tại toà án gia đình Có ba loại đơn xin nuôi con nuôi: a) Đơn cùng xin nuôi con nuôi: Chỉ có các cặp vợ chồng mới được đặt đơn này, như thế đứa trẻ được nhận nuôi sẽ có một cha và một mẹ như một gia đình bình thường Những cặp bạn đời cùng giới tính có đăng kí không được đặt đơn loại này vì quan hệ pháp

lí giữa họ không được coi là hôn nhân

b) Đơn bổ sung xin nhận con nuôi: Người vợ hay người chồng có thể làm đơn

bổ sung xin nhận con đẻ hay con nuôi của chồng hay vợ mình làm con nuôi Người bạn đời trong quan hệ bạn đời cùng giới tính chỉ

Trang 10

có thể làm đơn bổ sung xin nhận con đẻ của

bạn đời của mình làm con nuôi Trong

trường hợp này, đứa trẻ sẽ có một cha hay

mẹ đẻ và một cha hay mẹ nuôi

c) Đơn xin nhận con nuôi độc lập dành

cho những người độc thân

B) Sự đồng ý của chính cha mẹ đẻ của

đứa trẻ được nhận làm con nuôi Giấy đồng ý

cho con chỉ có giá trị một lần cho người cụ

thể muốn nuôi con nuôi và mất hiệu lực nếu

sau ba năm việc nhận con nuôi không được

tiến hành, hoặc đơn xin nuôi con nuôi bị bác

hoặc người muốn nuôi con nuôi rút đơn Giấy

đồng ý cho con chỉ có giá trị pháp lí khi đứa

trẻ ít nhất là tám tuần tuổi Giấy đồng ý cho

con của người cha ngoài giá thú không phải

theo thời hạn này mà có thể có giá trị pháp lí

từ trước khi đứa trẻ sinh ra Trong những

trường hợp đặc biệt như cha mẹ đẻ vi phạm

thường xuyên quyền, trách nhiệm của cha mẹ

hay không có năng lực dân sự hay bị mất

tích hay đứa trẻ tự đặt đơn xin thì toà án gia

đình có quyền cấp phép thay cha mẹ đẻ

C) Sự đồng ý của chính đứa trẻ được

nhận làm con nuôi nếu trẻ đã tròn 14 tuổi

Đối với trẻ dưới 14 tuổi hay chưa có đầy đủ

năng lực hành vi dân sự thì người đại diện

pháp lí của đứa trẻ kí giấy đồng ý

D) Sự đồng ý của vợ hay chồng hay bạn đời

Đ) Việc nhận nuôi con nuôi phải phù hợp

với lợi ích của đứa trẻ, cụ thể là điều kiện

chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển

toàn diện của đứa trẻ ở nhà cha mẹ nuôi phải

tốt hơn hẳn điều kiện sống trong quá khứ của

đứa trẻ.(16)

E) Quan hệ cha mẹ và con: Giữa người

nhận nuôi con nuôi và đứa trẻ được nhận

làm con nuôi phải có quan hệ thân thiết như cha mẹ và con qua việc chăm sóc giáo dục hoặc nếu chưa có thì ý định xây dựng và mong muốn có quan hệ này phải rõ ràng và nghiêm chỉnh Vì thế, trước khi xác lập quan

hệ, đứa trẻ phải được sống một thời gian thích hợp với người nhận nuôi con nuôi (thời gian thử thách)

G) Người nhận nuôi con nuôi ít nhất là

25 tuổi và phải hơn đứa trẻ ít nhất là 15 tuổi Chỉ trong trường hợp khi một cặp vợ chồng cùng xin nuôi con nuôi thì một người chỉ cần đạt 21 tuổi nếu người kia đã đạt 25 tuổi H) Lợi ích của những người khác: Sẽ không được phép nhận nuôi con nuôi nếu việc này có hại lớn cho lợi ích chính đáng của người thứ ba, cụ thể là con của người nhận nuôi con nuôi Lợi ích chính đáng của

cả hai bên phải được xem xét và cân nhắc Nếu lợi ích chính đáng của con của người nhận nuôi con nuôi bị ảnh hưởng nặng hơn

là sự có lợi do sự nuôi con nuôi đem lại thì toà án sẽ không cho phép nuôi con nuôi Ảnh hưởng về lợi ích vật chất được quan tâm nhưng không phải là yếu tố quyết định, ví dụ

do việc nhận con nuôi thì tiền cấp dưỡng hay phần thừa kế của các con khác sẽ bị giảm đi Điều này chưa đủ để coi việc nhận nuôi con nuôi là có hại lớn cho lợi ích chính đáng của các con khác Song việc nhận nuôi con nuôi

sẽ không được toà án cho phép nếu qua việc nhận thêm con, người nuôi con nuôi sẽ không đủ khả năng trả tiền cấp dưỡng ở mức tối thiểu cho các con khác.(17)

Đơn xin nhận con nuôi và tất cả các giấy phép đồng ý đều phải được công chứng viên xác nhận

Ngày đăng: 22/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm