1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Quy định về người làm chứng theo Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hoà liên bang Đức " potx

7 714 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 302,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, bất kì người nào cũng có thể trở thành người làm chứng, trừ bị cáo và đồng phạm.1 Khác với BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức, theo Điều 55 BLTTHS Việt Nam thì người nào biết đư

Trang 1

PGS.TS Hoµng ThÞ Minh S¬n *

1 Khác với Bộ luật tố tụng hình sự

(BLTTHS) Việt Nam, BLTTHS của Cộng

hoà Liên bang Đức không quy định riêng về

người tham gia tố tụng hình sự Tuy nhiên,

BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức lại

có hẳn một chương (Chương VI) quy định

về người làm chứng (từ Điều 48 đến Điều

71) Theo đó, bất kì người nào cũng có thể

trở thành người làm chứng, trừ bị cáo và

đồng phạm.(1)

Khác với BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức, theo Điều 55 BLTTHS

Việt Nam thì người nào biết được những

tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể

được triệu tập đến làm chứng.(2)

Những vấn

đề liên quan đến người làm chứng được quy

định rải rác trong các chương khác nhau, tùy

theo từng trường hợp cụ thể Trong thực tiễn

tố tụng ở Việt Nam, mặc dù luật không quy

định nhưng bị cáo không thể tham gia tố

tụng với tư cách là người làm chứng trong

cùng một vụ án

2 Người làm chứng có nghĩa vụ: Thứ

nhất, ra trình diện trước công tố viên hoặc

thẩm phán.(3)

Người làm chứng vắng mặt không có lí

do chính đáng sẽ phải chịu trách nhiệm trước

pháp luật Lệnh triệu tập người làm chứng là

cơ sở pháp lí để xác định hậu quả nếu người

đó vắng mặt Cụ thể là người làm chứng đã

được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt sẽ phải

chịu chi phí do việc vắng mặt gây ra đồng thời bắt buộc phải chịu khoản tiền phạt Trường hợp không thu được khoản tiền phạt thì lệnh tạm giam bắt buộc phải được phê chuẩn Người làm chứng cũng có thể bắt buộc phải khai báo trước toà án hoặc đưa ngay đến thẩm phán để lấy lời khai.(4)

Trong trường hợp người làm chứng tiếp tục không

có mặt thì họ có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế lần thứ hai Nếu người làm chứng vắng mặt có lí do chính đáng và được đưa ra đúng thời hạn thì họ không bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cũng như không phải chịu chi phí do hậu quả của việc vắng mặt Tuy nhiên, có trường hợp lí do vắng mặt không được đưa ra đúng thời hạn nhưng người làm chứng vẫn được miễn trả chi phí và không

bị áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu họ chứng minh được rằng việc giải thích nghĩa

vụ này cho họ bị chậm không phải do lỗi của người làm chứng Việc ban hành những quyết định về các biện pháp như trên thuộc thẩm quyền của thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị tố tụng cũng như thẩm phán được

ủy thác theo yêu cầu.(5)

Thứ hai, người làm chứng có nghĩa vụ

làm chứng một cách trung thực nếu không

có đặc quyền từ chối làm chứng

* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự

Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức

quy định người làm chứng có quyền từ chối

khai báo vì những lí do sau đây:

- Quyền từ chối khai báo vì những lí do

cá nhân.(6)

Những người sau đây có thể từ chối khai

báo: Vợ (hoặc chồng) chưa cưới của bị cáo;

vợ (hoặc chồng) của bị cáo; vợ (hoặc chồng)

của bị cáo ngay cả khi hôn nhân không còn

tồn tại nữa; người là hoặc đã có quan hệ trực

hệ hoặc quan hệ theo hôn nhân, quan hệ

bàng hệ ở hàng thứ ba hoặc có quan hệ theo

hôn nhân ở hàng thứ hai với bị can, bị cáo

Người chưa thành niên hoặc người có

nhược điểm về thể chất hay tâm thần hạn chế

hiểu biết đầy đủ về tính chất quan trọng của

quyền từ chối khai báo thì việc lấy lời khai

chỉ có thể được thực hiện nếu họ sẵn sàng

khai báo và người đại diện hợp pháp theo

luật của họ cũng đồng ý việc lấy lời khai

Nếu người đại diện theo luật cũng chính là bị

can, bị cáo thì họ có thể không quyết định

thực hiện quyền từ chối khai báo Người có

quyền từ chối khai báo trong trường hợp họ

là người chưa thành niên hoặc người có

nhược điểm về thể chất hay tâm thần nói trên

có người đại diện được ủy quyền quyết định

việc từ chối khai báo sẽ được hướng dẫn về

các vấn đề có liên quan đến quyền của họ

trước mỗi lần lấy lời khai Họ có thể rút

quyền khước từ trong quá trình lấy lời khai

- Quyền từ chối khai báo về lí do nghề

nghiệp chuyên môn.(7)

Theo quy định tại Điều 53 BLTTHS của

Cộng hoà Liên bang Đức thì những người vì

lí do nghề nghiệp chuyên môn cũng có thể từ

chối khai báo, cụ thể như sau:

Giới tăng lữ, liên quan đến thông tin mà

họ được tin tưởng cho biết hoặc họ đã được biết vì chức năng của mình với tư cách là những người cố vấn về tinh thần;

Luật sư biện hộ cho bị cáo, liên quan đến những thông tin mà họ được tin tưởng cho biết hoặc được biết vì chức năng của mình; luật sư, luật sư chuyên ngành sáng chế, công chứng viên, kiểm toán viên, kế toán viên có bằng chứng nhận, cố vấn về thuế và đại diện thuế, bác sĩ, nha sĩ, người chữa bệnh bằng các liệu pháp tâm lí, chuyên gia điều trị tâm

lí cho trẻ em và người chưa thành niên, dược

sĩ và bà đỡ, liên quan đến những thông tin

mà họ tin tưởng được cho biết hoặc được biết vì chức năng của mình; các thành viên hoặc các đại diện của cơ quan tư vấn được công nhận theo Điều 3 và Điều 4 của Luật về mang thai trong những tình huống xung đột, liên quan đến những thông tin mà họ tin tưởng được cho biết hoặc được biết vì chức năng của họ; Người tư vấn về nghiện ma tuý trong cơ quan tư vấn được công nhận hoặc được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền, đơn vị, viện hoặc quỹ theo luật công, liên quan đến những thông tin mà họ tin tưởng được cho biết hoặc được biết vì chức năng của họ; Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 53 BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức thì những người này có thể không từ chối khai báo nếu họ không còn nghĩa vụ giữ bí mật Những thành viên của Quốc hội Liên bang, Quốc hội bang hoặc cơ quan lập pháp cấp thứ hai (Zweite Kammer) liên quan đến người nắm giữ các thông tin vì chức năng của họ với tư cách là thành viên của những

cơ quan này hoặc của những người biết được

Trang 3

các thông tin vì chức năng cụ thể cũng như

chính xác các thông tin đó

Những cá nhân đang hoặc đã là người

có chuyên môn liên quan đến việc chuẩn bị,

sản xuất hoặc phổ biến những ấn phẩm định

kì hoặc chương trình phát thanh liên quan

đến tác giả, cộng tác viên hoặc người đưa

tin đã có đóng góp và cung cấp tài liệu và

thông tin liên quan đến những người này đã

tiếp nhận vì chức năng chuyên môn của họ

mà những đóng góp, tài liệu và thông tin có

liên quan này phục vụ việc biên tập cho

công việc của họ

Theo quy định tại Điều 54 BLTTHS của

Cộng hoà Liên bang Đức thì các quy định

đặc biệt của pháp luật liên quan đến các

nhân viên nhà nước sẽ áp dụng đối với việc

lấy lời khai của thẩm phán, các công chức và

những người khác trong cơ quan công quyền

với tư cách là người làm chứng liên quan

đến những việc thuộc phạm vi nghĩa vụ của

công chức phải giữ bí mật cũng như việc cho

phép khai báo Những thành viên của Quốc

hội Liên bang, quốc hội bang, của Chính phủ

Liên bang hoặc chính phủ bang và những

người làm việc trong nhóm công tác của

Quốc hội Liên bang, quốc hội bang sẽ là đối

tượng có thể được áp dụng những quy định

đặc biệt Tổng thống Liên bang có thể từ

chối khai báo nếu lời khai của Tổng thống

bất lợi cho quyền lợi chung của Liên bang

hoặc một bang của Cộng hoà Liên bang Đức

Những quy định này cũng sẽ áp dụng nếu

những người nói trên không còn là thành

viên của cơ quan công quyền hoặc những

người làm việc cho nhóm công tác của Quốc

hội nữa hoặc nếu nhiệm kì của họ đã kết thúc liên quan đến những vấn đề xảy ra trong nhiệm kì phục vụ, đến công việc hoặc cơ quan của họ hoặc họ đã biết được trong nhiệm kì phục vụ, khi làm việc hoặc tại cơ quan của họ

Thứ ba, người làm chứng có nghĩa vụ

xác nhận lời làm chứng của mình bằng cách tuyên thệ trước thẩm phán

Việc tuyên thệ được quy định tại các điều từ Điều 59 đến Điều 67 BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức Trước khi lấy lời khai, người làm chứng được nhắc nhở là phải nói lên sự thật và được thông báo rằng lời khai của họ được đưa ra phải được kèm theo lời tuyên thệ, trừ khi được pháp luật có quy định khác Đồng thời người làm chứng được giải thích tầm quan trọng của việc tuyên thệ, khả năng lựa chọn giữa việc tuyên thệ với sự xác nhận về mặt tôn giáo

và trách nhiệm pháp lí hình sự của việc khai báo không chính xác hoặc không đầy đủ Người làm chứng sẽ phải tuyên thệ từng người một sau khi họ đã được lấy lời khai Trừ trường hợp có quy định khác thì lời tuyên thệ sẽ được đưa ra tại phiên toà xét

xử Đối với những trường hợp sau đây thì không cần thực hiện việc tuyên thệ: Người chưa đủ 16 tuổi vào thời điểm lấy lời khai, người không hiểu biết hết tầm quan trọng

và bản chất của lời tuyên thệ do họ là người

có nhược điểm về trí tuệ hoặc tâm thần hay tình cảm; người bị tình nghi đã phạm tội và

là đối tượng của việc điều tra hoặc đã tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc người

bị tình nghi là đồng phạm, cản trở công lí hoặc tiêu thụ tài sản trộm cắp hoặc đã bị

Trang 4

tuyên phạt về việc đó (Điều 60 BLTTHS

của Cộng hoà Liên bang Đức)

Toà án cũng có thể quyết định không

thực hiện việc tuyên thệ đối với người làm

chứng vào thời điểm lấy lời khai đã đủ 16

tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi cũng như người

chưa đủ 16 tuổi vào thời điểm lấy lời khai,

người không hiểu biết hết tầm quan trọng và

bản chất của lời tuyên thệ do họ là người có

nhược điểm về trí tuệ hoặc tâm thần hay tình

cảm là họ hàng của người bị hại hoặc của bị

cáo; toà án cho rằng lời khai của họ không

có tầm quan trọng lớn và không thể có được

lời khai quan trọng ngay cả khi thực hiện

việc tuyên thệ; người đã từng bị kết án về tội

khai báo gian dối trước toà án; hoặc nếu cơ

quan công tố, người bào chữa và bị cáo đều

bỏ qua thủ tục này Đối với thủ tục tư tố thì

việc tuyên thệ chỉ được tiến hành khi toà án

thấy cần thiết bởi tính chất quan trọng quyết

định của lời khai hoặc nhằm có được lời khai

trung thực Những người họ hàng của bị cáo

(vợ hoặc chồng chưa cưới của bị cáo; vợ

hoặc chồng của bị cáo; vợ hoặc chồng của bị

cáo ngay cả khi hôn nhân không còn tồn tại

nữa; người là hoặc đã có quan hệ trực hệ

hoặc quan hệ theo hôn nhân, quan hệ bàng

hệ ở hàng thứ ba hoặc có quan hệ theo hôn

nhân ở hàng thứ hai với bị can, bị cáo) có

quyền từ chối lời khai được tuyên thệ, họ sẽ

được thông báo quyền này Lí do của việc

không tuyên thệ phải được ghi vào biên bản

Trong giai đoạn chuẩn bị tố tụng việc

tuyên thệ chỉ được tiến hành trong các

trường hợp khẩn cấp hoặc nếu lời tuyên thệ

được cho là cần thiết để có được lời khai

đúng sự thật về vấn đề quan trọng trong việc

tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng hoặc nếu cho rằng người làm chứng sẽ không thể

có mặt tại phiên toà xét xử chính thức Lí do của việc tuyên thệ trong trường hợp này phải được ghi và biên bản

BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức cũng quy định cụ thể về hình thức tuyên thệ tại Điều 66c như sau:

- Lời tuyên thệ đối với những người theo tôn giáo sẽ được thực hiện bằng cách thẩm phán nói những lời sau đây với người làm chứng: “Anh phải thề trước Chúa, Đấng tối cao rằng với tất cả những gì anh biết, anh đã nói toàn bộ sự thật và không được giấu giếm bất cứ điều gì” Sau đó, người làm chứng sẽ phải nói: “Tôi xin thề, cầu Chúa phù hộ cho con”

- Lời tuyên thệ đối với những người không theo tôn giáo được thực hiện bằng cách thẩm phán nói những lời sau đây với người làm chứng: “Anh thề rằng với tất cả những gì anh biết, anh đã nói toàn bộ sự thật

và không được giấu giếm bất cứ điều gì” Sau đó, người làm chứng phải nói theo: “Tôi xin thề” Ngoài ra, trường hợp người làm chứng nói rằng họ là thành viên của giáo phái hoặc của cộng đồng theo tín ngưỡng nào đó mong muốn sử dụng những nghi thức của tôn giáo hay cộng đồng của họ thì người

đó có thể bổ sung vào lời tuyên thệ Khi thực hiện việc tuyên thệ, người tuyên thệ phải giơ tay phải của mình lên

Nếu người làm chứng nói rằng họ không muốn thực hiện lời tuyên thệ vì những lí do

về đức tin hoặc lương tri thì người đó sẽ xác nhận sự thật trong lời khai của mình Sự xác

Trang 5

nhận đó được coi là lời tuyên thệ Người làm

chứng được thông báo về việc này Sự thật

của lời khai sẽ được xác nhận bằng hình thức

thẩm phán nói với người làm chứng: “Anh

nhận được trách nhiệm của mình trước toà

án và xác nhận rằng, với tất cả những gì mà

anh biết anh đã nói toàn bộ sự thật và không

được giấu giếm bất cứ điều gì” Sau đó,

người làm chứng sẽ nói: “Vâng” Đối với

người làm chứng bị câm không thể tuyên thệ

bằng việc họ nói ra những nội dung trên thì

sẽ tuyên thệ bằng cách viết những câu như

trên ra và kí vào đó

Đối với những người làm chứng đã được

lấy lời khai có tuyên thệ thì khi lấy lời khai

lần thứ hai trong thủ tục chuẩn bị tố tụng

hoặc tại phiên toà xét xử, thẩm phán có thể

cho họ xác định tính đúng đắn của lời khai

bằng việc dẫn đến lời tuyên thệ đã thực hiện

trước đó thay cho việc thực hiện tuyên thệ

lần thứ hai

Nói chung người làm chứng phải được

thông báo về quyền không phải khai báo(8)

khi bị thẩm vấn và có thể tự quyết định từ bỏ

quyền này, đưa ra chứng cứ Nếu người làm

chứng không được thông báo về quyền này

thì lời khai của họ không được thừa nhận là

chứng cứ, trừ khi người làm chứng biết

quyền này và họ quyết định không từ chối

khai báo Quyền từ chối có thể thực hiện vào

bất kì thời điểm nào và người làm chứng có

thể rút lại quyết định của mình trong quá

trình khai báo Những lời khai trong giai

đoạn xét xử sau khi đã được thông báo trước

về quyền từ chối có thể được sử dụng làm

chứng cứ Tuy nhiên, theo quy định tại Điều

252 BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức thì lời khai của người làm chứng đã được kiểm tra trước khi phiên toà chính thức bắt đầu mà người làm chứng đã sử dụng quyền

từ chối bị kiểm tra của mình tại phiên toà chính thức thì lời khai đó sẽ không được công bố Pháp luật không cho phép người đã thẩm vấn người làm chứng vào thời điểm trước đó cung cấp chứng cứ về các vấn đề đã hỏi, trừ trường hợp thẩm phán đã tiến hành thẩm vấn người làm chứng có thể được gọi đến để cung cấp chứng cứ về những điều người làm chứng đó đã khai Nếu người làm chứng chỉ từ chối đưa ra chứng cứ tại phiên toà thì những lời khai chính thức trước đó của họ được chấp nhận cho dù họ không được thông báo về điều đó trong các cuộc thẩm vấn trước đây Trong trường hợp này, người đã thẩm vấn người làm chứng có thể được gọi đến toà án để cung cấp chứng cứ Bản sao biên bản các lời khai trước đó của người làm chứng có thể được công bố tại phiên toà.(9) Ngoài những quy định nêu trên, BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức còn quy định quyền từ chối cung cấp thông tin của người làm chứng tại Điều 55, cụ thể là mọi người làm chứng đều có thể từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào mà việc trả lời sẽ làm cho họ hoặc một số những người họ hàng của họ có nguy cơ bị truy tố Người làm chứng sẽ được thông báo quyền từ chối cung cấp thông tin của họ Tuy nhiên, theo Điều 70 BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức thì người làm chứng không có lí do chính đáng mà từ chối khai báo hoặc tuyên thệ sẽ phải chịu khoản chi phí phát sinh do việc từ chối này Đồng

Trang 6

thời họ sẽ phải chịu khoản tiền phạt mang

tính cưỡng chế và nếu tiền phạt không thể

thu được thì họ sẽ bị tạm giam Việc tạm

giam cũng có thể được áp dụng để buộc

người làm chứng phải khai báo, việc tạm

giam không được kéo dài quá thời điểm kết

thúc các thủ tục tố tụng cụ thể đó và không

được quá 6 tháng

3 Cũng như luật tố tụng hình sự Việt

Nam, BLTTHS của Cộng hoà Liên bang

Đức quy định người làm chứng được lấy lời

khai một cách độc lập và không có sự hiện

diện của người làm chứng khác được lấy lời

khai sau đó (Điều 58 BLTTHS của Cộng hoà

Liên bang Đức).(10) Tuy nhiên, khác với luật

tố tụng hình sự Việt Nam, BLTTHS của

Cộng hoà Liên bang Đức quy định, việc lấy

lời khai của người làm chứng có thể được

ghi lại bằng thiết bị âm thanh - hình ảnh

trong những trường hợp sau: Người dưới 16

tuổi bị thương tích do tội phạm gây ra hoặc

nếu có khả năng người đó không thể được

lấy lời khai tại phiên toà xét xử chính thức

và nếu việc ghi lại là cần thiết nhằm xác định

sự thật của vụ án Việc ghi lại âm thanh -

hình ảnh sẽ chỉ được chấp nhận với mục đích

truy tố về hình sự và chỉ được thực hiện ở

mức độ cần thiết để xác định sự thật

4 Việc kiểm tra căn cước và các đặc

điểm về nhân thân của người làm chứng

được BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức

quy định tương đối cụ thể tại Điều 68 Theo

đó, phiên toà xét xử bắt đầu bằng việc người

làm chứng được yêu cầu nói rõ họ tên, tuổi,

công việc hoặc nghề nghiệp và nơi cư trú

Những người làm chứng đã khai báo về nghề

nghiệp của họ có thể khai nơi làm việc của mình thay cho nơi cư trú Nếu có lí do cho rằng người làm chứng hoặc người khác có thể bị nguy hiểm vì người làm chứng khai báo về nơi cư trú của họ thì người làm chứng

có thể được phép khai địa chỉ nơi công tác hoặc nơi làm việc hay địa chỉ khác mà có thể gửi các tài liệu đến đó thay cho việc khai báo nơi cư trú Thẩm phán chủ tọa phiên toà cũng có thể cho phép người làm chứng không khai báo nơi cư trú của mình tại phiên toà khi có lí do nêu trên Trường hợp có lí do cho rằng việc tiết lộ căn cước, nơi cư trú hay nơi ở của người làm chứng sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ hoặc tự do của người làm chứng hay người khác thì người làm chứng có thể được phép không khai báo

về những đặc điểm nhân thân hoặc chỉ khai báo về những đặc điểm để xác định căn cước ban đầu Tại phiên toà xét xử, nếu được yêu cầu, cũng tương tự như luật tố tụng hình sự Việt Nam, người làm chứng sẽ phải khai báo

về việc tại sao họ biết được những tình tiết

mà họ đang khai.(11) Tài liệu xác định căn cước của người làm chứng sẽ được lưu giữ tại cơ quan công tố và chỉ được đưa vào hồ

sơ khi không còn nguy hiểm nữa Khác với luật tố tụng hình sự Việt Nam, chỉ khi cần thiết, những câu hỏi liên quan đến các tình tiết cho thấy tính đáng tin cậy của người làm chứng trong vụ án đang giải quyết, đặc biệt liên quan đến mối quan hệ giữa người làm chứng với bị cáo hoặc người bị hại sẽ được đặt ra đối với người làm chứng.(12)

Những câu hỏi liên quan đến các tình tiết có thể làm mất danh dự của người làm chứng hoặc một

Trang 7

người họ hàng của họ(13)

hoặc liên quan tới cuộc sống cá nhân của họ chỉ được đặt ra khi

thật cần thiết Việc hỏi về tiền án của người

làm chứng chỉ được tiến hành khi có điều

kiện do pháp luật quy định(14)

hay khi cần đánh giá tính đáng tin cậy của họ

5 Khác với BLTTHS Việt Nam, BLTTHS

của Cộng hoà Liên bang Đức có quy định

việc phân công luật sư tham gia khi lấy lời

khai của người làm chứng tại Điều 68b như

sau: Với sự đồng ý của cơ quan công tố, một

luật sư có thể được phân công tham gia trong

thời gian lấy lời khai của người làm chứng,

người mà trước đó không có cố vấn pháp lí

nếu có bằng chứng cho thấy họ không thể tự

thực hiện các quyền của mình trong quá

trình lấy lời khai và nếu bất kì lợi ích nào

đáng được bảo vệ của họ có thể không thể

được xem xét đến theo một cách khác Khi

việc lấy lời khai liên quan đến tội phạm

nghiêm trọng; tội phạm ít nghiêm trọng quy

định tại các điều từ 174 đến 174c, 176, 179,

khoản 1 đến khoản 3 Điều 180, 180b, 182,

khoản 1, 2 Điều 225 BLHS của Cộng hoà

Liên bang Đức; tội phạm ít nghiêm trọng

khác có tính chất đáng kể liên quan đến lĩnh

vực thương mại hoặc thường xuyên được

thực hiện hoặc do thành viên của băng đảng

thực hiện hoặc được thực hiện bằng các thủ

đoạn khác có tổ chức thì việc phân công luật

sư sẽ được quyết định căn cứ vào yêu cầu

của người làm chứng hoặc của cơ quan công

tố nếu đáp ứng các điều kiện nói trên./

(1).Xem: Nguyễn Thu Quỳ, Về người tham gia tố tụng

trong pháp luật hình sự Đức, nguồn: http://www

vksndtc.gov.vn

(2) Theo Điều 55 BLTTHS năm 2003 của Việt Nam thì người bào chữa của bị can, bị cáo; người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn thì không được làm chứng

(3).Xem: Nguyễn Thu Quỳ, tlđd

(4).Xem: Điều 51 và Điều 135 BLTTHS của Cộng hoà Liên bang Đức

(5).Xem: ThS Nguyễn Xuân Hà, Giới thiệu phần các

quy định chung của BLTTHS CHLB Đức, nguồn:

http://www.vksndtc.gov.vn (6).Xem: Điều 52 BLTTHS của CHLB Đức

(7).Xem: Điều 53 BLTTHS Cộng hoà Liên bang Đức

(8) Người làm chứng có thể từ chối và không khai báo nếu việc khai báo sẽ làm cho họ hoặc một số người họ hàng của họ có nguy cơ bị truy tố

(9).Xem: Nguyễn Thu Quỳ, tlđd

(10).Xem: Điều 135 BLTTHS Việt Nam quy định: Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc với nhau trong thời gian lấy lời khai

(11).Xem: Khoản 2 Điều 67 BLTTHS năm 2003 của Việt Nam quy định: Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó

(12) Theo khoản 1 Điều 67 BLTTHS năm 2003 của Việt Nam thì người làm chứng trình bày… quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác Còn theo khoản 4 Điều 135 BLTTHS năm 2003 thì trước khi hỏi về nội dung vụ án, điều tra viên cần xác minh mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người

bị hại và những tình tiết khác về nhân thân người làm chứng

(13) Họ hàng của người làm chứng trong trường hợp này được hiểu là vợ (hoặc chồng) chưa cưới của người làm chứng; vợ (hoặc chồng) của người làm chứng, kể cả trường hợp đã li hôn; người là hoặc đã

có quan hệ trực hệ hoặc quan hệ theo hôn nhân, quan

hệ bàng hệ ở hàng thứ ba hoặc có quan hệ theo hôn nhân ở hàng thứ hai với người làm chứng

(14) Người làm chứng đã từng bị kết án về tội khai báo gian dối trước tòa án theo quy định tại Điều 154

và Điều 155 Bộ luật hình sự của CHLB Đức…

Ngày đăng: 22/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w