1 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 1 Khái quát về tư vấn pháp luật và thực trạng tư vấn pháp luật ở Việt Nam 3 1 1 Khái niệm dịch vụ tư vấn pháp lý 3 1 2 Thực trạng dịch vụ tư vấn pháp lý ở nước ta 3 2.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……… 2
NỘI DUNG 1 Khái quát về tư vấn pháp luật và thực trạng tư vấn pháp luật ở Việt Nam.……… 3
1.1 Khái niệm dịch vụ tư vấn pháp lý.……….3
1.2 Thực trạng dịch vụ tư vấn pháp lý ở nước ta……….3
2 Phân tích, bình luận thực trạng dịch vụ tư vấn pháp luật ở Việt Nam 4
2.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật ở Việt Nam……… 4
2.2 Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật ở Việt Nam…6 3 Liên hệ, đánh giá, đưa ra quan điểm cá nhân, giải pháp ……….7
3.1 Liên hệ, đánh giá, quan điểm cá nhân……… 7
3.2 Giải pháp……….8
KẾT LUẬN……… 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 10
Trang 2MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các mối quan hệ kinh
tế - xã hội ngày càng mở rộng nhưng ý thức pháp luật của nhiều tổ chức, cá nhân ở Việt Nam chưa cao, dẫn đến những trường hợp thực hiện các hành vi pháp luật không đáng có vì chưa hiểu rõ pháp luật, nhiều trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng cho Nhà nước và xã hội Nhận ra tính quan trọng, cấp thiết của vấn đề nên em lựa chọn đề số 18: “Hãy nêu ý kiến cá nhân của mình về việc: vì sao nhiều tổ chức, cá nhân ở Việt Nam chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp lý.” làm đề bài tiểu luận
Trang 3NỘI DUNG
1 Khái quát về tư vấn pháp luật và thực trạng tư vấn pháp luật ở Việt Nam
1.1 Khái niệm dịch vụ tư vấn pháp lý
Tư vấn pháp lý (hay tư vấn pháp luật) là “Hoạt động nhằm đưa ra các chỉ
dẫn pháp lý hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến pháp luật, được thực hiện bởi luật sư hoặc người có giấy phép hành nghề tư vấn pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” Cán bộ tư vấn pháp luật (TVPL) thực hiện việc diễn giải các quy định của pháp luật dưới dạng ngôn ngữ phổ thông giúp cho công dân, tổ chức hiểu một cách đúng đắn các quy định đó Hướng dẫn cho công dân, tổ chức lựa chọn việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Soạn thảo hợp đồng hoặc các văn bản giấy tờ khác liên quan đến pháp luật theo yêu cầu của công dân, tổ chức thực hiện các dịch vụ pháp lý theo quy định của pháp luật 1
Ngoài ra còn có trợ giúp pháp lý – việc cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
hoặc cá nhân bằng các biện pháp trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ cho những người thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý để họ có được điều kiện tương tự như những người khác trong việc tiếp cận pháp luật 2
1.2 Thực trạng dịch vụ tư vấn pháp lý ở nước ta
Nhìn chung, thị trường tư vấn pháp lý ở nước ta đang trở nên sôi động hơn tuy nhiên hoạt động sử dụng dịch vụ của các tổ chức, cá nhân vẫn còn là rất ít
so với các nước trong khu vực và thế giới
1 Hoàng Thị Kim Quế (2002), “Một số vấn đề về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, tư
https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/25080 truy cập ngày 25/11/2020
2
Trang 42 Phân tích, bình luận thực trạng dịch vụ tư vấn pháp luật ở Việt Nam
2.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê thì từ thời điểm triển khai Chiến lược phát triển nghề
Luật sư ở Việt Nam đến năm 2020 (tháng 7/2011) đến hết tháng 5/2020, đội
ngũ Luật sư cả nước đã tăng từ 6.250 Luật sư lên hơn 14.000 Luật sư (tăng trung bình khoảng 800 Luật sư/năm, đạt mục tiêu Chiến lược đề ra trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015) Về phát triển tổ chức hành nghề Luật sư, cơ bản đạt mục tiêu Chiến lược đề ra, đó là phát triển từ 5-10 tổ chức hành nghề Luật sư tại các tỉnh khó khăn, đưa số lượng tổ chức hành nghề Luật sư trên toàn quốc từ 2.928 tổ chức hành nghề Luật sư (tháng 7/2011) lên hơn 4.000 tổ chức (tăng khoảng 1.100 tổ chức tính đến hết tháng 6/2020).3 Theo thống kê nếu chia bình quân đầu người theo dân số của Việt Nam thì tỷ lệ xấp xỉ là 01 Luật sư trên 6.975 người dân (năm 2020) Trong khi ở các nước khác như Hoa Kỳ tỷ lệ này là xấp xỉ 01 Luật sư trên 246 người dân (năm 2020), Nhật Bản là 01 Luật
sư trên 400 người dân (năm 2019), Singapore là 01 Luật sư trên 1.000 người dân (năm 2019), Thái Lan là 01 Luật sư trên 1.526 người dân (năm 2011) Có thể thấy, tỷ lệ Luật sư trên người dân ở nước ta hiện nay còn đang rất thấp so
với thế giới Ngoài ra còn có sự phát triển mất cân đối lớn giữa các vùng, miền
Trong đó, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội có 3.850 luật sư, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh có 5.498 luật sư, chiếm hơn 2/3 tổng số luật sư của cả nước, còn lại 61 Đoàn luật sư có số lượng là 4.215 luật sư, chiếm 31% 4 Tại các địa phương này, số lượng luật sư không đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý của người dân và ngay cả trong việc thực hiện bào chữa trong các vụ án bắt
3 Phan Chí Hiếu (2020), “Kết quả triển khai Chiến lược phát triển nghề Luật sư ở Việt Nam đến năm 2020”, https://lsvn.vn/ket-qua-trien-khai-chien-luoc-phat-trien-nghe-luat-su-o-viet-nam-den-nam-2020.html truy cập ngày 26/11/2020
4 Đoàn Vĩnh – Khánh Duy (2019), “Kỷ niệm 74 năm truyền thống Luật sư Việt Nam và 10 năm thành lập Liên đoàn Luật sư Việt Nam”, https://lsvn.vn/ky-niem-74-nam-truyen-thong-luat-su-viet-nam-va-10-nam-thanh-lap-lien-doan-luat-su-viet-nam.html truy cập ngày 25/11/2020
Trang 5buộc có sự tham gia của luật sư (án chỉ định) Sự phân bổ mật độ thiếu cân đối này đã tạo ra một áp lực cạnh tranh rất gay gắt để tồn tại và phát triển trong đội ngũ luật sư Việc canh tranh diễn ra trên cả hai mặt: Chất lượng chuyên môn dịch vụ và thương mại Các công ty luật, văn phòng luật sư không chỉ nhắm đến việc cung ứng cho khách hàng những dịch vụ với chất lượng chuyên môn và kết quả cao nhất bằng việc quy tụ được những nhân sự giỏi nhất, áp dụng những công nghệ kỹ thuật văn phòng mới nhất, mà còn phải tạo ra những
ưu thế về mặt thương mại của mình như vị trí thuận lợi của văn phòng, những chiến lược tiếp thị, tuyển dụng ngày càng đắt tiền Cạnh tranh tạo ra sự mâu thuẫn về lợi ích, trong khi đó để môi trường pháp lý và nghề luật sư phát triển còn cần cả sự hợp tác Tính cạnh tranh cao trong một khu vực địa lý hẹp đã tạo thành những rào cản vô hình cho việc hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân hành nghề luật 5
Bên cạnh đó, chất lượng, trình độ chuyên môn của các Luật sư còn chưa
đồng đều Chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo,
thực tập hành nghề luật sư còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Nhiều luật
sư do chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng hành nghề, ít có cơ hội cọ xát, thực hành nghề nghiệp nên còn yếu về trình độ, thiếu kinh nghiệm khi tham gia
tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật Đa số các luật sư hành nghề bằng kinh nghiệm tư đúc rút, tự học hỏi lẫn nhau, tính chuyên nghiệp chưa cao 6 Đối với trường hợp quan hệ tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp với một bên có vốn đầu tư nước ngoài Do trình độ ngoại ngữ của luật sư Việt Nam còn hạn chế nên nhiều trường hợp luật sư cần có phiên dịch trong các phiên xử
5 ThS Trần Trung (2020), “Nghề luật sư – thực tiễn hành nghề tại Việt Nam”,
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nghe-luat-su-thuc-tien-hanh-nghe-tai-viet-nam-73576.htm truy cập 25/11/2020
Trang 6trọng tài, dẫn đến tốn kém chi phí và kéo dài thời gian tố tụng.7 Không chỉ vậy,
số lượng luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại (sở hữu trí tuệ, tài chính ngân hàng, hàng không, hàng hải, bảo hiểm, thương mại quốc tế …) còn rất ít, chiếm tỷ lệ 1,2%, trong đó, chỉ khoảng 20 luật sư có trình độ ngang tầm với luật sư trong khu vực Thời gian qua, phần lớn các vụ tranh chấp thương mại quốc tế, các cơ quan, tổ chức của Việt Nam vẫn phải thuê luật sư nước ngoài làm đại diện, tư vấn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình 8
Đồng thời, đội ngũ chuyên viên trợ giúp pháp lý còn rất mỏng và kinh nghiệm chưa nhiều cộng thêm là thủ tục giấy tờ xác nhận đối tượng được hưởng trợ giúp còn rườm rà, gây ra sự khó khăn cho việc tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân
2.2 Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật ở Việt Nam
Hiện nay, nhận thức của xã hội về việc sử dụng dịch vụ tư vấn, giúp đỡ về mặt pháp lý còn mơ hồ, xa lạ; nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý còn thấp Người
dân còn chưa có thói quen sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý, các cơ quan, tổ chức
đều thành lập một bộ phận pháp chế riêng để đáp ứng nhu cầu về pháp lý của
cơ quan, tổ chức mình.9
Do điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta đang phát triển, mức thu nhập của
người dân còn thấp, chưa đồng đều, nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức, người dân, đặc biệt là nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về vị trí, vai trò
7 ThS Trần Trung (2020), “Nghề luật sư – thực tiễn hành nghề tại Việt Nam”,
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nghe-luat-su-thuc-tien-hanh-nghe-tai-viet-nam-73576.htm truy cập 25/11/2020.
8 Thủ tướng Chính phủ (2011), “Chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm 2020”, ngày
05/07/2011
9 Hoàng Thị Anh Thư (2014), “Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam”,
https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/5858/1/00050003695.pdf truy cập 25/11/2020
Trang 7của luật sư chưa đầy đủ, chưa toàn diện nên đã có tác động không nhỏ đến việc phát triển nghề luật sư nói chung cũng như việc phát triển số lượng luật sư và nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư nói riêng 10
3 Liên hệ, đánh giá, đưa ra quan điểm cá nhân, giải pháp
3.1 Liên hệ, đánh giá, quan điểm cá nhân
Các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam đã có bộ phận pháp chế riêng tuy
nhiên trong nhiều trường hợp, bộ phận pháp chế này vẫn phải cần thêm các
luật sư hoặc các tổ chức hành nghề luật sư hỗ trợ thêm về pháp lý.11
Mặt khác, nhu cầu về dịch vụ tư vấn pháp lý trong quan hệ dân sự, hôn nhân
và gia đình, lao động cũng dần tăng cao nhưng do người dân chưa có thói quen
sử dụng dịch vụ, e ngại chuyện đời tư, các thủ tục hỗ trợ tư vấn rườm rà (đối với hoạt động trợ giúp pháp lý) Ví dụ ở hoạt động trợ giúp pháp lý cho người
nhiễm HIV/AIDS còn nhiều khó khăn, bất cập vì thủ tục để được trợ giúp pháp
lý miễn phí tại các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước còn rườm rà, người nhiễm HIV muốn được trợ giúp pháp lý tại các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thì cần phải có các giấy tờ chứng minh là người nhiễm HIV và hiện đang
cư trú tại địa phương Điều này khiến cho người nhiễm HIV có nhu cầu cần được trợ giúp pháp lý rất ngại, không muốn thực hiện bởi họ rất sợ bị lộ danh tính, tình trạng nhiễm HIV của mình Hơn thế nữa, các Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước thường nằm trong cùng khuôn viên với các cơ quan hành chính, công quyền khác của địa phương nên người nhiễm HIV rất ngại đến vì lo sợ bị
lộ danh tính về tình trạng nhiễm HIV của mình.12 Giống như việc khám chữa
10Thủ tướng Chính phủ (2011), “Chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm 2020”, ngày
05/07/2011
11 Hoàng Thị Anh Thư (2014), “Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam”,
https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/5858/1/00050003695.pdf truy cập 25/11/2020
12 Trịnh Thị Lê Trâm (2015), “Thực trạng nhu cầu và khả năng đáp ứng hoạt động tư vấn
Trang 8bệnh tật ở nhiều nơi vẫn còn thói quen tự chữa ở nhà, chữa theo những cách truyền thống dân gian, chữa theo những “bài thuốc” được người này người kia
“mách” đến khi không khỏi thì mới đến bệnh viện gặp những người có trình độ chuyên môn y khoa để khám và chữa thì việc tư vấn pháp lý cũng tương tự như vậy Mọi người thường tự tra luật ở Internet, hỏi mọi người xung quanh đến khi không có khả năng tự giải quyết mới tìm đến dịch vụ tư vấn pháp lý
3.2 Giải pháp
Đề nâng cao hiệu quả hành nghề luật sư cần nâng cao chất lượng đào tạo,
chuẩn đầu ra ngoại ngữ của các trường luật, chương trình đào tạo nghề luật sư
và lực lượng tư vấn pháp lý, đảm bảo tính chuyên môn và uy tín đạo đức hành nghề Tăng sự tương tác, học hỏi giữa các luật sư, tư vấn viên với nhau và giữa các tổ chức hành nghề Tạo điều kiện cho các cử nhân, luật sư có them kinh nghiệm, cọ sát thực tế tăng tính chuyên nghiệp
Cùng với đó là tăng cưởng phổ biến, giáo dục pháp luật tới người dân; nâng cao ý thức của người dân, tổ chức, doanh nghiệp với pháp luật
Trang 9KẾT LUẬN
Trong thời gian gần đây, nhờ có những chính sách phát triển của nhà nước
mà hoạt động tư vấn pháp luật trở nên sôi động hơn: số lượng luật sư tăng cao, thủ tục hỗ trợ pháp lý giảm bớt, trình độ chuyên môn của luật sư cũng được nâng cao, người dân được tiếp cận nhiều hơn với pháp luật, dần tạo thói quen
sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn nhất định chưa được khắc phục còn cần sự thúc đẩy từ phía nhà nước và việc nâng cao ý thức pháp luật của người dân và các tổ chức, doanh nghiệp
Do kiến thức còn hạn chế nên trong quá trình làm bài không tránh được những thiếu sót, em mong nhận được những nhận xét của thầy cô trong tổ bộ môn để làm bài tốt hơn trong những lần làm bài tiếp theo
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1 Thủ tướng Chính phủ (2011), “Chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm
2020”, ngày 05/07/2011
2 Hoàng Thị Anh Thư (2014), “Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam”,
Luận văn Thạc sĩ ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Hoàng Thị Kim Quế (2002), “Một số vấn đề về hoạt động phổ biến, giáo
dục pháp luật, tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý ở nước ta hiện nay Hội
nghị khoa học nữ lần thứ 7, Hà Nội, 2002”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Các trang web tham khảo