1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sưu tầm một bản án giải quyết tranh chấp về đặt cọc tóm tắt và bình luận về các vấn đề pháp lý có liên quan và cách giải quyết của toà án

16 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sưu Tầm Một Bản Án Giải Quyết Tranh Chấp Về Đặt Cọc, Tóm Tắt Và Bình Luận Về Các Vấn Đề Pháp Lý Có Liên Quan Và Cách Giải Quyết Của Toà Án
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại Bản án
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 463,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

0 ĐỀ BÀI số 8 Sưu tầm một bản án giải quyết tranh chấp về đặt cọc Tóm tắt và bình luận về các vấn đề pháp lý có liên quan và cách giải quyết của Toà án MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU Đặt cọc là việc một bên giao ch.

Trang 1

0

ĐỀ BÀI số 8: Sưu tầm một bản án giải quyết tranh chấp về đặt cọc Tóm tắt và

bình luận về các vấn đề pháp lý có liên quan và cách giải quyết của Toà án

MỤC LỤC

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự Đặt cọc là một trong những biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Biện pháp đặt cọc có ưu điểm là dễ thực hiện, tính an toàn cao, tính ràng buộc chắc chắn và có tính chế tài nghiêm khắc, được các chủ thể sử dụng khá phổ biến trong giao dịch dân sự nói chung, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự liên quan đến các đối tượng là nhà, quyền sử dụng đất và các bất động sản khác

Tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại nhiều tranh chấp liên quan đến đặt cọc và đã được Tòa án thụ lý giải quyết Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề này, em xin

chọn nghiên cứu đề bài tập số 8: “Sưu tầm một bản án giải quyết tranh chấp về đặt cọc Tóm tắt và bình luận về các vấn đề pháp lý có liên quan và cách giải

quyết của Toà án.” Và bản án em lựa chọn là bản án số: 224/2018/DS-PT ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Do kiến thức còn

hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót khi làm bài, em mong thầy cô đọc và cho em ý kiến nhận xét, bổ sung để em có cái nhìn đúng đắn và hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Tóm tắt bản án

1 Tình huống tranh chấp

Ngày 08/9/2016, bà Lê Kim H có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của ông Trần C và bà Võ Thị B nhà và đất tại số Đường E, Phường

O, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 4.000.000.000 (Bốn tỷ) đồng Các bên đã công chứng hợp đồng đặt cọc hứa mua bán nhà ở

và chuyển nhượng quyền sử dụng đất căn nhà này tại Phòng công chứng N Thành phố Hồ Chí Minh Ông C và bà B đã nhận tiền đặt cọc 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và ngày 14/10/2016 nhận thêm 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, tổng cộng ông C bà B đã nhận 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng tiền cọc và hai bên hẹn ngày 09/11/2016 sẽ ra công chứng và làm thủ tục sang tên

Ngày 03/11/2016, bà H biết được căn nhà Đường E, Phường O, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong diện quy hoạch vành đai I nút giao thông được Ủy ban nhân dân quận T phê duyệt ngày 07/7/2009 theo Quyết định số 638/QĐ-UBND, theo đó vị trí căn nhà này thuộc diện quy hoạch giải tỏa Khi biết được việc này bà H

đã liên lạc với ông C bà B để thương lượng, ông C bà B đồng ý trả

Trang 3

2

lại cho bà H 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng theo biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường O, quận T ngày 09/12/2016 nhưng đến phiên hòa giải tiếp theo vào ngày 16/12/2016 thì ông C

bà B không đến phường làm việc theo lịch hẹn trước Do ông C và

bà B cố tình không cung cấp thông tin quy hoạch của căn nhà này nên bà H yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc hứa mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất căn nhà này và buộc ông C bà B trả lại tôi số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng)

Bị đơn ông Trần C, bà Võ Thị B và ông Nguyễn Thanh T là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ông Trần C và bà Võ Thị B là đồng sở hữu căn nhà tại địa chỉ số Đường E, Phường O, quận T theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở có hồ sơ gốc số 4534/2002 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày

13/11/2002 Ông C, bà B xác nhận lời trình bày của bà H về hợp đồng đặt cọc hứa mua bán căn nhà này và việc giao nhận tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng

Do có tranh chấp, ngày 09/12/2016 bà H và vợ chồng ông C, bà B

đã ra Ủy ban nhân dân Phường O, quận T hòa giải, theo đó ông C,

bà B đồng ý trả lại cho bà H 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và hẹn ngày 20/12/2016 sẽ giao nhận với nhau nhưng bà H không đến

Bà H không đồng ý với nội dung đã hòa giải ngày 09/12/2016 tại phường và đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nên vợ chồng ông C, bà

B không đồng ý trả lại cho bà H số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng đã đặt cọc mua căn nhà Đường E, Phường O, quận T

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 và ông Đỗ Tiến D là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày:

Ông T2 đồng ý với ý kiến của bà Lê Kim H buộc ông C và bà B phải trả lại số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng công chứng N, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Mạnh C là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Trang 4

3

Phòng công chứng N Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy trình tự, thủ tục công chứng Hợp đồng đặt cọc hứa mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 036210 ngày 08/9/2016 đã được công chứng viên thực hiện đúng quy định pháp luật Đối với

ý kiến của bà H, Phòng công chứng không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

2

II Bình luận về các vấn đề pháp lý có liên quan và cách giải quyết

của Tòa án

1 Căn cứ pháp luật

- Bộ luật dân sự 2015 Điều 328;

- Nghị Quyết 01/2003 của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình mục I.1;

- Nghị định 163/2016 ND/CP về giao dịch bảo đảm mục 3, từ điều

29 đến điều 33

2 Về thủ tục tố tụng

Tại phiên tòa phúc thẩm thì đại diện người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan không có mặt, cũng không có lý do chính đáng và tòa

án vẫn xét xử, nếu đây là lần vắng mặt thứ 2 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì việc tòa vẫn xét xử phù hợp với quy định tại điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 "Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án"

3 Về nội dung vụ án

* Tòa phúc thẩm cho rằng hợp đồng đặt cọc vô hiệu "do yếu tố khách quan, các bên đều không có lỗi nên chỉ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận", cả hai cấp tòa đều dẫn chiếu điều 137 về

hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, nhưng không đưa ra căn cứ pháp luật cụ thể là vô hiệu trong trường hợp nào để tuyên

hợp đồng đặt cọc vô hiệu

* Tòa sơ thẩm thì căn cứ vào các điều 118 và 121 Luật nhà ở năm

2014, điều Điều 137 Bộ luật dân sự 2005, tòa phúc thẩm thì dẫn căn cứ ở điều 137 Bộ luật dân sự, bên cạnh đó, các điều luật dẫn chiếu khác chỉ liên quan đến tố tụng hoặc nghĩa vụ chậm trả tiền và

Trang 5

4

thi hành án, thì ta không xét đến ở đây Nội dung các điều luật như sau:

- Điều 118 Luật nhà ở 2014: "Điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch:

1 Giao dịch về mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở thì nhà ở phải có đủ điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu; đang trong thời hạn sở hữu nhà ở đối với trường hợp

sở hữu nhà ở có thời hạn;

c) Không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

d) Không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở của cơ quan có thẩm quyền

Các điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản này không áp dụng đối với trường hợp mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai"

- Điều 121 luật nhà ở 2014 "Hợp đồng về nhà ở Hợp đồng về nhà ở do các bên thỏa thuận và phải được lập thành văn bản bao gồm các nội dung sau đây:

1 Họ và tên của cá nhân, tên của tổ chức và địa chỉ của các bên;

2 Mô tả đặc điểm của nhà ở giao dịch và đặc điểm của thửa đất ở gắn với nhà ở đó Đối với hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua căn hộ chung cư thì các bên phải ghi rõ phần sở hữu chung, sử dụng chung; diện tích sử dụng thuộc quyền sở hữu riêng; diện tích sàn xây dựng căn hộ; mục đích sử dụng của phần sở hữu chung, sử dụng chung trong nhà chung cư theo đúng mục đích thiết kế đã được phê duyệt ban đầu;

"

- Điều 137 Bộ luật dân sự 2005: "Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập

Trang 6

5

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường"

=> Như vậy, chúng ta không thể thấy một căn cứ cụ thể nào về việc hợp đồng vô hiệu do yếu tố khách quan Bộ luật dân sự 2005

(từ điều 127 đến điều 134) cũng như bộ luật dân sự 2015 (từ điều

122 đến điều 129) hoàn toàn không có quy định về hợp đồng vô hiệu vì yếu tố khách quan như tòa phúc thẩm đã tuyên Tòa sơ thẩm thì dẫn chiếu quy định về điều kiện nhà ở tham gia giao dịch

và hợp đồng về nhà ở, tuy nhiên về bản chất thì quan hệ pháp luật tranh chấp là "tranh chấp hợp đồng đặt cọc", vì vậy việc dẫn chiếu điều 121 luật nhà ở 2014 của tòa sơ thẩm là điều không cần thiết

Bên cạnh đó, việc áp dụng điều 118 Luật nhà ở cũng là không chính xác, vì nếu như căn nhà của ông C, bà B "bị kê biên để thi hành án" hay "thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện

về quyền sở hữu " thì đây là lỗi của ông C, bà B, vì điều 5 hợp đồng có quy định rõ "ông C, bà B đều cam kết nhà đất không bị tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, chưa bán, chuyển nhượng cho ai" và như vậy, tuy hợp đồng đặt cọc không bị vô hiệu nhưng hợp đồng chuyển nhượng không thể giao kết và thực hiện được, nên theo quy định tại điều 132 bộ luật dân sự 2005 thì hợp đồng đặt cọc vô hiệu

do lừa dối, mặt khác, Nghị quyết 01/2003 quy định "bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc" , vì vậy ông C, bà B phải trả tiền đặt cọc cho bà H, ông T2, thậm chí còn bị phạt cọc nếu như nguyên đơn có yêu cầu trong trường hợp giả định này

Tuy nhiên, nhà đất của ông C, bà B lại đáp ứng đủ các điều kiện tham gia giao dịch, không tranh chấp, không bị kê biên, mặc dù

"Theo bản đồ quy hoạch chi tiết xây dựng khu dân cư Phường O đã được UBND quận T phê duyệt tại Quyết định số 638/QĐ-UBND ngày 07/7/2009 thì vị trí căn nhà Đường E, Phường O, quận T, thuộc thửa 04, tờ bản đồ số 20 ĐCCQ-2005 thuộc quy hoạch khu vực đất giao thông; đường E lộ giới quy định 10 mét; đường trục chính đô thị lộ giới quy định 32 mét, chỉ giới xây dựng 40 mét; vạt

Trang 7

6

góc giao lộ 2 mét x 2 mét" , nhưng nhà đất trên "Không thuộc diện

đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở của cơ quan có thẩm quyền", ta không hề tìm thấy bất cứ tài liêu, chúng cứ nào ghi nhận là đã có quyết định thu hồi đất, đã có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà của cơ quan có thẩm quyền ở đây!!! mà nếu có cũng không thể tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu vì yếu tố khách quan (luật không có điều nào quy định như vậy), mà phải xác định lỗi của ông C, bà B xem họ có biết thông báo giải tỏa, phá

dỡ nhà hay biết đã có quyết định thu hồi đất hay chưa mà vẫn lập hợp đồng đặt cọc, cùng với đó cũng cần xác định lỗi của bà H, ông T2 vì chính họ đã cam kết "đã tìm hiểu kỹ tình trạng pháp lý của nhà đất và đồng ý đặt cọc mua bán" để xem tỷ lệ lỗi của hai bên đến đâu, từ đó dẫn chiếu từng trường hợp để xem xét áp dụng quy định của bộ luật dân sự 2005 (điều 6) về nguyên tắc trung thực, thiện chí, điều 132 bộ luật dân sự 2005 về giao dịch dân sự vô hiệu

do lừa dối và Nghị quyết 01/2003 HĐTP để tuyên hợp đồng vô hiệu hoặc hủy hợp đồng

Trong vụ án này, lập luận của người kháng cáo (bị đơn) là "hợp đồng đặt cọc có hiệu lực vì nhà nằm trong quy hoạch nhưng vẫn được phép mua bán Trong hợp đồng có ghi rõ bên mua phải có trách nhiệm kiểm tra thông tin pháp lý nhà đất nên việc bên mua không tìm hiểu kỹ rồi sau đó không tiếp tục thực hiện hợp đồng là hoàn toàn do lỗi của nguyên đơn Do đó, nguyên đơn phải chịu mất

số tiền đã đặt cọc Trong tổng số tiền 500.000.000 đồng nguyên đơn đã giao cho bị đơn chỉ có 300.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua bán nhà còn 200.000.000 đồng đưa tiếp trong giai đoạn sau là tiền mua bán nhà Nguyên đơn phải chịu mất số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng, bị đơn chỉ phải trả lại cho nguyên đơn số tiền mua bán là 200.000.000 đồng" Tác giả đồng tình vì như đã phân tích, khi chưa hề có quyết định thu hồi hoặc thông báo giải tỏa, phá

dỡ thì nhà đất hoàn toàn có thể là đối tượng của giao dịch chuyển nhượng, và do đó việc thỏa thuận đặt cọc trong trường hợp này hoàn toàn không vi phạm điều cấm của pháp luật (theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2005, hiện nay Bộ luật dân sự 2015 đã sửa theo hướng không vi phạm điều cấm của Luật)

Về lập luận "Trong tổng số tiền 500.000.000 đồng nguyên đơn đã giao cho bị đơn chỉ có 300.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua bán nhà còn 200.000.000 đồng đưa tiếp trong giai đoạn sau là tiền mua

Trang 8

7

bán nhà Nguyên đơn phải chịu mất số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng, bị đơn chỉ phải trả lại cho nguyên đơn số tiền mua bán là 200.000.000 đồng" của người kháng cáo, tòa Phúc thẩm đã nhận định "Hội đồng xét xử xét thấy, tại hợp đồng đặt cọc ngày

08/9/2016, hai bên thỏa thuận tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng và hẹn 45 ngày sau sẽ lập thủ tục mua bán Tuy nhiên, đến ngày 14/10/2016, hai bên lại giao nhận thêm số tiền 200.000.000 đồng Khi giao số tiền này, hai bên ghi rõ ở mặt sau của hợp đồng đặt cọc rằng “gia hạn hợp đồng đến ngày 09/11/2016 sẽ ra ký mua bán”và

“tổng cộng đợt I + II là 500.000.000 đồng” Như vậy có đủ cơ sở

để xác định số tiền 200.000.000 đồng giao thêm là để gia hạn hợp đồng đặt cọc ngày 08/9/2016, toàn bộ số tiền 500.000.000 đồng là tiền đặt cọc cho việc mua bán nhà" Nhận định này cũng không hoàn toàn thuyết phục bởi lẽ phần "tổng cộng đợt I + II là 500.000.000 đồng” có giá trị xác nhận số tiền mà bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc, chưa chắc 200 triệu đồng giao ngày

14/10/2016 đã là tiền đặt cọc trừ trường hợp được ghi rõ là đặt cọc tiếp, trong trường hợp các bên không thỏa thuận rõ ràng thì cần áp dụng quy định tại nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm theo hướng quy định tại điều 29 "Điều 29 Trường hợp không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước

Trường hợp một bên trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước"

Như vậy kháng cáo là có cơ sở và cần được chấp nhận chứ không phải là bị bác theo như bản án phúc thẩm nêu trên

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

8

PHỤ LỤC

Bản án số 224/2018/DS-PT ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố

Hồ Chí Minh:

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 224/2018/DS-PT NGÀY 07/02/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP

ĐỒNG ĐẶT CỌC MUA BÁN NHÀ

Vào các ngày 17/01/2018 và 07/02/2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số

595/2017/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 507/2017/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận T bị kháng cáo

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 2803/2017/QĐPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Kim H, sinh năm 1957; cư trú tại: đường L, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Tiến D, sinh năm 1965; cư trú tại: đường Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/12/2016)

- Bị đơn: Ông Trần C, sinh năm 1941 và Bà Võ Thị B, sinh năm 1953; cùng cư trú tại: đường T, Phường O, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1971; cư trú tại: Đường H, Phường M, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 03/3/2017)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Phòng công chứng N, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở: Đường V, Phường N, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Mạnh C – Trưởng phòng

2/ Ông Lê Văn T2, sinh năm 1953; cư trú tại: đường L, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

9

Người đại diện hợp pháp của ông T2: Ông Đỗ Tiến D, sinh năm 1965; cư trú tại: đường Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 06/3/2017)

- Người kháng cáo: ông Trần C và bà Võ Thị B, là bị đơn

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/12/2016, lời khai nguyên đơn bà Lê Kim H và ông

Đỗ Tiến D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 08/9/2016, bà Lê Kim H có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của ông Trần

C và bà Võ Thị B nhà và đất tại số Đường E, Phường O, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 4.000.000.000 (Bốn tỷ) đồng Các bên đã công chứng hợp đồng đặt cọc hứa mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất căn nhà này tại Phòng công chứng N Thành phố Hồ Chí Minh Ông C và bà B đã nhận tiền đặt cọc 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và ngày 14/10/2016 nhận thêm 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, tổng cộng ông C bà B đã nhận 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng tiền cọc và hai bên hẹn ngày 09/11/2016 sẽ ra công chứng

và làm thủ tục sang tên

Ngày 03/11/2016, bà H biết được căn nhà Đường E, Phường O, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong diện quy hoạch vành đai I nút giao thông được Ủy ban nhân dân quận T phê duyệt ngày 07/7/2009 theo Quyết định số 638/QĐ-UBND, theo đó vị trí căn nhà này thuộc diện quy hoạch giải tỏa Khi biết được việc này bà H đã liên lạc với ông C bà B để thương lượng, ông C bà B đồng ý trả lại cho bà H 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng theo biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường O, quận T ngày 09/12/2016 nhưng đến phiên hòa giải tiếp theo vào ngày 16/12/2016 thì ông C bà B không đến phường làm việc theo lịch hẹn trước Do ông C và bà B cố tình không cung cấp thông tin quy hoạch của căn nhà này nên bà H yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc hứa mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất căn nhà này và buộc ông C bà B trả lại tôi số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng)

Bị đơn ông Trần C, bà Võ Thị B và ông Nguyễn Thanh T là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ông Trần C và bà Võ Thị B là đồng sở hữu căn nhà tại địa chỉ số Đường E, Phường O, quận T theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở có hồ sơ gốc số 4534/2002 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/11/2002 Ông C, bà B xác nhận lời trình bày của bà H về hợp

Ngày đăng: 10/12/2022, 17:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w