Đối với người được nhận làm con nuôi phải đảm bảo các điều kiện như:1 Trẻ em dưới 16 tuổi; chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc cả hai người là vợ chồng… Đối với người nhận
Trang 1TS NguyÔn ThÞ Lan *
ề nguyên tắc, các chủ thể khi xác lập
quan hệ nuôi con nuôi phải tuân thủ
đầy đủ điều kiện nuôi con nuôi theo Luật
nuôi con nuôi Đối với người được nhận làm
con nuôi phải đảm bảo các điều kiện như:(1)
Trẻ em dưới 16 tuổi; chỉ được làm con nuôi
của một người độc thân hoặc cả hai người là
vợ chồng… Đối với người nhận nuôi phải
đảm bảo các điều kiện như:(2)
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20
tuổi trở lên; có điều kiện sức khoẻ, kinh tế,
chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt;
không phải là người đang bị hạn chế một số
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên; đang chấp hành quyết định xử lí hành
chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xoá
án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm
tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của
người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà,
cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công
nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa
chấp người chưa thành niên vi phạm pháp
luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em
Tuy nhiên, khi bố dượng hoặc mẹ kế và
con riêng của vợ hoặc chồng xác lập quan hệ
nuôi con nuôi thì Luật nuôi con nuôi cho
phép họ được hưởng một số ngoại lệ về điều
kiện nhận nuôi con nuôi như sau:
Ngoại lệ thứ nhất - người con riêng của một bên vợ hoặc chồng có thể từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Đây được coi là ngoại lệ về độ tuổi của người được nhận nuôi con nuôi Dưới góc độ tâm lí, khi nhận trẻ em ở độ tuổi càng nhỏ thì việc thiết lập, gắn bó mối quan hệ tình cảm giữa cha mẹ nuôi và con nuôi càng dễ dàng hơn Tuy nhiên, vì lợi ích của người được nhận nuôi pháp luật đã nới rộng độ tuổi của người được nhận nuôi trong trường hợp này Mặt khác, trong mối quan
hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng thì quyền và nghĩa vụ giữa họ là rất hạn chế Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định bố dượng, mẹ kế và con riêng chỉ có một số quyền nhất định, bao gồm:(3)
Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình; con riêng
có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình;
bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng không được ngược đãi, hành hạ,
xúc phạm nhau Vì vậy, nếu có những ưu
tiên trong việc để cho bố dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng mình làm con nuôi thì giữa họ sẽ thiết lập quan hệ giữa
V
* Giảng viên Khoa pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa họ sẽ phát
sinh và tồn tại tất cả các quyền và nghĩa vụ
như cha mẹ đẻ và con đẻ Điều này đảm bảo
được quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai
bên chủ thể mà đặc biệt là quyền của người
được nhận nuôi
Ngoại lệ thứ hai - người nuôi là bố
dượng hoặc mẹ kế không đang trong tình
trạng độc thân nhưng vẫn được nhận con
nuôi (là con riêng của vợ hoặc chồng mình)
Điều đó cũng có nghĩa là người được nhận
nuôi (là con riêng của một bên vợ, chồng)
vẫn có thể làm con nuôi của một người
không đang trong tình trạng độc thân (đang
là vợ hoặc chồng của bố hoặc mẹ mình)
Đây là ngoại lệ đặc biệt vì về nguyên tắc,
một người không thể làm con nuôi của người
đang trong tình trạng có vợ hoặc có chồng
Trong trường hợp bố dượng hoặc mẹ kế
nhận con riêng của vợ hoặc chồng mình làm
con nuôi sẽ có sự khác biệt về việc xác định
tư cách chủ thể trong việc nhận nuôi con
nuôi Hai vợ chồng không phải là một bên
chủ thể với tư cách là người nhận nuôi trong
quan hệ nuôi con nuôi Một bên vợ hoặc
chồng với tư cách là bố dượng hoặc mẹ kế sẽ
là người nhận nuôi con nuôi, còn bên kia với
tư cách là người chồng hoặc người vợ còn lại
cần xác định tư cách chủ thể cho họ như sau:
- Nếu một bên vợ hoặc chồng đang là
cha đẻ hoặc mẹ đẻ của người con thì họ với
tư cách là cha, mẹ đẻ được quyền thể hiện ý
chí cho con mình đi làm con nuôi người
khác Trong trường hợp này phải tính đến cả
người đã từng là vợ hoặc từng là chồng của
họ (là mẹ đẻ hoặc cha đẻ của đứa con) cũng
được quyền thể hiện ý chí cho con mình đi
làm con nuôi người khác Ví dụ: Anh A và
chị B là vợ chồng, có một con chung là cháu
Y Sau khi li hôn, cháu Y được chị B trực tiếp nuôi dưỡng Sau đó, chị B kết hôn với anh M Anh M muốn nhận cháu Y là con nuôi thì phải có sự thể hiện ý chí đồng ý của anh A, chị B và cháu Y (nếu cháu Y từ đủ 9 tuổi trở lên) (1)
- Nếu một bên vợ hoặc chồng đang là cha đẻ hoặc mẹ đẻ của người con thì họ với
tư cách là cha, mẹ đẻ, được quyền thể hiện ý chí cho con mình đi làm con nuôi người khác Nhưng người đã từng là vợ hoặc từng
là chồng của họ lại đang là mẹ nuôi hoặc cha nuôi của người con thì vấn đề nuôi con nuôi
có được đặt ra không? Và họ được xác định
tư cách chủ thể như thế nào trong việc nuôi
con nuôi? Ví dụ: Chị B khi còn là độc thân
đã sinh ra cháu Y Sau đó, chị B kết hôn với anh A, anh A đã làm thủ tục nhận cháu Y là con nuôi Khi anh A và chị B li hôn; cháu Y được chị B trực tiếp nuôi dưỡng Tiếp sau
đó, chị B kết hôn với anh C Anh C muốn nhận cháu Y là con nuôi có được không? (2)
- Nếu một bên vợ hoặc chồng đang là cha nuôi hoặc mẹ nuôi của người con thì họ
có được thể hiện ý chí cho con nuôi của mình làm con nuôi của chồng hoặc vợ của
mình không? Ví dụ: Anh A và chị B là vợ
chồng, anh A và chị B đã nhận nuôi cháu Y Sau đó anh A và chị B li hôn, chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y Sau đó, chị B kết hôn với anh N Anh N muốn nhận cháu
Y là con nuôi có được không? (3) Trong các trường hợp trên, trường hợp (1) hoàn toàn có thể thực hiện được việc nuôi con nuôi vì Luật nuôi con nuôi quy
Trang 3định rõ ràng cho trường hợp này Tuy nhiên,
trường hợp (2) và (3) thì Luật nuôi con nuôi
chưa có những quy định cụ thể và đây là vấn
đề cần bàn tới:
Nếu trong trường hợp (2) và (3), cho
phép bố dượng, mẹ kế nhận con riêng của
chồng hoặc vợ mình làm con nuôi thì đảm
bảo được lợi ích của người con, nâng cao
trách nhiệm của gia đình đối với thế hệ trẻ,
từ đó đảm bảo lợi ích chung của xã hội Tuy
nhiên, nếu việc nuôi con nuôi trong trường
hợp này được thực hiện thì vô hình trung
pháp luật phải thừa nhận việc nuôi con nuôi
lần thứ hai mà có thể không chấm dứt việc
nuôi con nuôi lần thứ nhất Mặt khác sẽ vấp
phải một số vướng mắc sau: Một là việc xác
định tư cách các chủ thể tham gia vào việc
nuôi con nuôi Trong diện những chủ thể
được thể hiện ý chí đồng ý để người được
nhận nuôi làm con nuôi người khác là cha
mẹ đẻ hoặc người giám hộ.(4)
Vậy nếu họ đang là cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ có
được thể hiện ý chí cho con nuôi của mình
làm con nuôi lần hai hay không? Có coi đây
là một trường hợp ngoại lệ nữa hay không?
Hai là việc xác định căn cứ chấm dứt việc
nuôi con nuôi Việc nuôi con nuôi chỉ chấm
dứt khi đáp ứng các điều kiện mà Luật nuôi
con nuôi quy định, bao gồm:(5) Con nuôi đã
thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm
dứt việc nuôi con nuôi; con nuôi bị kết án về
một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ
nuôi, ngược đãi hành hạ cha mẹ nuôi hoặc
con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha
mẹ nuôi; cha mẹ nuôi bị kết án về một trong
các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
nhân phẩm, danh dự của con nuôi, ngược đãi hành hạ con nuôi Như vậy, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi lần hai sẽ không phải
là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi lần thứ nhất Nếu cho phép xác lập quan hệ nuôi con nuôi lần hai thì có nghĩa là một người lại làm con nuôi của nhiều người mà
có thể giữa những người đó không phải là vợ chồng của nhau Điều này trái với điều kiện của người được nhận nuôi là chỉ làm con nuôi của một người độc thân hoặc của hai
người là vợ chồng Ba là việc xác định hậu
quả pháp lí của việc nuôi con nuôi giữa bố dượng hoặc mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng Trong trường hợp (1) bố dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng là con đẻ của vợ hoặc chồng mình làm con nuôi thì sẽ không chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa cha con hoặc mẹ con của người con đó với người cha
đẻ hoặc mẹ đẻ (là người đang thực hiện việc nuôi dưỡng) mà chỉ chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con với người cha
đẻ hoặc mẹ đẻ còn lại đang không trực tiếp nuôi dưỡng người con đó nếu giữa người cha
đẻ hoặc mẹ đẻ này với bố dượng hoặc mẹ kế của người con đó không có sự thoả thuận
khác Ví dụ: Anh A và chị B là vợ chồng hợp
pháp và có một con chung là C Sau đó anh
A và chị B li hôn, chị B là người nuôi dưỡng cháu C còn anh A là người cấp dưỡng cho cháu C Chị B kết hôn với anh X, anh X muốn nhận cháu C là con nuôi Anh A và chị
B đồng ý Trong trường hợp này, khi anh X
và cháu C xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ cha
mẹ và con giữa chị B và cháu C mà chỉ chấm dứt quyền và nghĩa vụ cha mẹ và con giữa
Trang 4anh A và cháu C nếu anh A và anh X không
có thoả thuận khác Trong trường hợp (2) và
(3) bố dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của
vợ hoặc chồng mình làm con nuôi thì cũng
không chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa cha
mẹ và con giữa đứa trẻ với người cha hoặc
mẹ (đang là người thực hiện việc nuôi
dưỡng) nhưng sẽ rất khó khăn trong việc xác
định hậu quả pháp lí giữa đứa trẻ đối với
người cha hoặc người mẹ với tư cách là mẹ
nuôi hoặc cha nuôi lần thứ nhất của người
con đó Liệu những người này có quyền thoả
thuận với bố dượng, mẹ kế (với tư cách là
người nhận nuôi con nuôi lần hai) về việc
thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của cha
mẹ đối với người con đó hay không? Bởi vì
hiện nay Luật nuôi con nuôi chỉ quy định về
sự thoả thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi
trong việc thực hiện một số quyền và nghĩa
vụ của cha mẹ đẻ đối với đứa con được đi
làm con nuôi của người khác(6)
mà không có quy định về sự thoả thuận giữa cha nuôi
hoặc mẹ nuôi lần thứ nhất với cha nuôi hoặc
mẹ nuôi lần thứ hai Đặt giả thiết cho những
chủ thể này được quyền thoả thuận thì rất có
thể họ sẽ thoả thuận không chấm dứt các
quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con và
như vậy người được nhận nuôi là con nuôi
của nhiều người Điều này có thể đảm bảo
lợi ích tốt nhất cho người được nhận nuôi
nhưng cũng có thể người được nhận con
nuôi sẽ gánh trách nhiệm kép với “những”
người cha nuôi, mẹ nuôi Ví dụ: Anh A và
chị B là vợ chồng hợp pháp, anh A và chị B
không sinh được con nên đã nhận cháu C
làm con nuôi Sau đó anh A và chị B li hôn,
chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu C
còn anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng Sau đó chị B kết hôn với anh X Anh X muốn nhận cháu C làm con nuôi Anh A và chị B đồng
ý Nếu anh A đồng ý nhưng thoả thuận với anh X không chấm dứt quyền và nghĩa vụ của anh A với cháu C thì cháu C vừa làm con nuôi của anh X vừa làm con nuôi của anh A Xuất phát từ những lí do trên, theo quan điểm của chúng tôi, trong những trường hợp này, pháp luật không thể cho phép xác lập việc nuôi con nuôi!
Ngoại lệ thứ ba, người nuôi là bố dượng
hoặc mẹ kế không nhất thiết phải đảm bảo điều kiện hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên và không đương nhiên phải có điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi Những trường hợp này nhằm đảm bảo việc nuôi con nuôi phải đảm bảo đúng mục đích và ý nghĩa
xã hội của nó Tránh tình trạng việc nuôi con nuôi sẽ dẫn đến vấn đề lạm quyền, dùng việc nuôi con nuôi để nhằm các mục đích khác, ảnh hưởng đến sự phát triển hài hòa về mặt nhân cách của người được nhận nuôi Mặt khác, quy định này đã nới rộng phạm vi, tạo điều kiện tối đa cho bố dượng, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc vợ mình làm con nuôi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
cả hai bên chủ thể trong quan hệ gia đình Tuy nhiên, cách quy định về khoảng cách độ tuổi giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trong trường hợp này của Luật nuôi con nuôi sẽ dẫn đến những vấn đề bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, độ tuổi kết hôn đối với nam là hai mươi tuổi trở lên (19 tuổi + 1 ngày), đối với nữ là 18 tuổi trở
Trang 5lên (17 tuổi + 1 ngày)(7)
vì vậy, khoảng cách
về độ tuổi giữa bố dượng, mẹ kế với con
riêng có thể là rất ngắn, đặc biệt là giữa mẹ
kế với con riêng của chồng Khoảng cách
này có thể bị thu hẹp đến gần sát con số
không Bởi vì một trong điều kiện nuôi con
nuôi là người nuôi phải có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ, tức là đủ 18 tuổi; người được
nhận nuôi trong trường hợp được bố dượng
hoặc mẹ kế nhận nuôi có thể đến dưới 18
tuổi Vậy thì chỉ cần tính nhẩm cũng có thể
khẳng định, mẹ kế chỉ hơn con riêng của
chồng tối thiểu 1 ngày là có thể nhận con
riêng của chồng làm con nuôi; bố dượng có
thể hơn con riêng của vợ tối thiểu là 1 năm
và 2 ngày là có thể nhận con riêng của vợ
làm con nuôi
Với những phân tích như trên, chúng tôi
thấy rằng, Luật nuôi con nuôi còn có vấn đề
quy định chưa chặt chẽ, cụ thể, dẫn đến
những vướng mắc và bất cập trong thực tiễn
áp dụng pháp luật Trong trường hợp bố
dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của chồng
hoặc vợ làm con nuôi cần phải xác định cụ
thể theo hướng:
Bố dượng hoặc mẹ kế khi nhận con riêng
của chồng hoặc vợ làm con nuôi vẫn phải đảm
bảo khoảng cách về độ tuổi nhất định Chẳng
hạn, bố dượng, mẹ kế khi nhận con riêng của
vợ hoặc của chồng mình làm con nuôi phải
hơn người con đó ít nhất là 10 tuổi Bởi vì
khoảng cách về độ tuổi như vậy sẽ phần nào
phân biệt được rõ ràng khoảng cách giữa các
thế hệ trong gia đình, tạo cho những mối quan
hệ gia đình được cởi mở, tự nhiên hơn…
Về nguyên tắc, bố dượng hoặc mẹ kế chỉ
được nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm
con nuôi nếu người con riêng này là con đẻ của một bên vợ, hoặc chồng Trong trường hợp con riêng của một bên vợ hoặc chồng là con nuôi của người đó thì bố dượng hoặc mẹ
kế chỉ được nhận nuôi nếu việc nuôi con nuôi chỉ đang tồn tại quan hệ nuôi con nuôi giữa người con nuôi với mẹ nuôi hoặc cha
nuôi Ví dụ: Anh A khi còn là người độc
thân đã nhận nuôi cháu C Sau đó anh A kết hôn với chị B, chị B muốn nhận cháu C là con nuôi Trong trường hợp này nên cho phép xác lập quan hệ nuôi con nuôi nếu đáp ứng các điều kiện khác do luật định
Trong trường hợp bố dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi nếu người con riêng này là con đẻ của một bên vợ hoặc chồng nhưng đang là con nuôi của người chồng cũ hoặc vợ cũ của người cha hoặc người mẹ đẻ thì người đang
là bố dượng hoặc mẹ kế chỉ được nhận con nuôi khi người con đó đã chấm dứt việc nuôi con nuôi lần thứ nhất Trường hợp này, pháp luật nên bổ sung căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi, đó là cho phép cha mẹ đẻ và cha
mẹ nuôi thoả thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi vì lợi ích của người con đó./
(1).Xem: Điều 8 Luật nuôi con nuôi
(2).Xem: Điều 14 Luật nuôi con nuôi
(3).Xe m: Điề u 38 Lu ậ t h ô n n h â n v à g ia đ ìn h
n ăm 2000
(4).Xem: Điều 21 Luật nuôi con nuôi
(5).Xem: Điều 25 Luật nuôi con nuôi
(6).Xem: Điều 24 Luật nuôi con nuôi
(7).Xem: Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTPTANDTC ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000