Trong khuôn khổ của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu này, WTO sử dụng cụm từ “Anti-dumping disputes” hoặc “Disputes in the anti-dumping area” để chỉ các tranh chấp về chống bán phá g
Trang 1Ths NguyÔn ThÞ Thu HiÒn *
rong khuôn khổ WTO, tranh chấp về
chống bán phá giá là một trong những
loại tranh chấp phổ biến và phức tạp nhất,
đòi hỏi các bên tranh chấp, đặc biệt là các
thành viên đang phát triển, trong đó có Việt
Nam,(1) phải tìm hiểu và nắm vững pháp luật
của WTO về giải quyết tranh chấp nói chung
và những đặc thù trong lĩnh vực giải quyết
tranh chấp về chống bán phá giá nói riêng
mà trước hết, cần phải nhận diện và nắm rõ
những đặc điểm pháp lí cơ bản của loại tranh
chấp này Đó là những đặc điểm về tính chất,
về chủ thể, về phạm vi các vấn đề tranh chấp
và pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh
chấp về chống bán phá giá tại WTO Dưới
góc độ lí luận cũng như thực tiễn, việc nắm
vững những đặc điểm pháp lí cơ bản của các
tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn
khổ WTO sẽ giúp các bên tranh chấp hạn
chế rủi ro đồng thời tham gia tích cực, hiệu
quả hơn vào việc giải quyết các tranh chấp
về chống bán phá giá đang ngày càng gia
tăng mạnh mẽ trong thương mại quốc tế
1 Quan niệm của WTO đối với tranh
chấp về chống bán phá giá
Theo quy định của WTO, các thành viên
của tổ chức này có thể đưa những tranh
chấp về chống bán phá giá ra giải quyết tại
WTO để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của mình Trong khuôn khổ của tổ
chức thương mại lớn nhất toàn cầu này, WTO sử dụng cụm từ “Anti-dumping disputes” hoặc “Disputes in the anti-dumping area” để chỉ các tranh chấp về chống bán phá giá.(2)
Tuy nhiên, WTO lại không hề đưa ra khái niệm chính thức về loại tranh chấp này.(3)
Mặc dù vậy, quan niệm của WTO đối với
“tranh chấp về chống bán phá giá” vẫn có thể được hiểu và suy luận qua cách diễn đạt trong những hiệp định và điều khoản có liên quan của WTO, chủ yếu là các quy định trong Bản thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU), Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994) và Hiệp định về chống bán phá giá (ADA)
Trước hết, tranh chấp về chống bán phá
giá tại WTO là tranh chấp giữa các thành viên WTO, bởi vậy, về bản chất, nó là loại
tranh chấp quốc tế, là “sự bất đồng về một
quy phạm pháp luật hoặc sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định” trong quan hệ
quốc tế.(4)
Cụ thể, đối với tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO,
đó là sự bất đồng giữa các thành viên WTO
về chính sách hoặc pháp luật không phù hợp của một thành viên hoặc liên quan tới quyết
T
* Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2định về áp dụng các biện pháp chống bán phá
giá được ban hành làm ảnh hưởng tới các
quyền và lợi ích của những thành viên khác
theo các hiệp định của WTO Không những
thế, tranh chấp về chống bán phá giá là những
tranh chấp trong lĩnh vực chống bán phá giá
và là một trong những loại tranh chấp có thể
được giải quyết tại WTO.(5)
Dựa trên cách diễn đạt trong các hiệp định của WTO, đặc
biệt là các điều XXII, XXIII của GATT 1994
và DSU thì có thể thấy những tranh chấp
được giải quyết tại WTO là những tranh chấp
giữa các thành viên WTO về các vấn đề pháp
lí liên quan đến các quyền và nghĩa vụ theo
các hiệp định và các cam kết trong khuôn khổ
WTO Bởi vậy, cùng với cách diễn đạt tại
Điều 17 của ADA, có thể hiểu tranh chấp về
chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO là
những bất đồng giữa các thành viên WTO về
các vấn đề pháp lí liên quan đến các quyền và
nghĩa vụ trong lĩnh vực chống bán phá giá
theo các hiệp định của WTO Tranh chấp về
chống bán phá giá có những đặc điểm pháp
lí cơ bản với những quy định đặc thù trong
khuôn khổ WTO
2 Những đặc điểm pháp lí cơ bản của
các tranh chấp về chống bán phá giá
trong khuôn khổ WTO
2.1 Đặc điểm về tính chất
Về tính chất, tranh chấp về chống bán
phá giá là loại tranh chấp thứ phát, theo đó,
việc giải quyết các tranh chấp về bán phá giá
ở nước nhập khẩu có thể là tiền đề dẫn đến
những tranh chấp tiếp theo về chống bán phá
giá hay nói cách khác, việc giải quyết tranh
chấp về chống bán phá giá tại WTO là giải
quyết tranh chấp tiếp theo của giải quyết
tranh chấp trong nước về bán phá giá giữa các doanh nghiệp được nâng lên thành tranh chấp giữa các chính phủ
Tranh chấp về bán phá giá, về bản chất,
là tranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm bán phá giá với các doanh nghiệp nội địa sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu về việc sản phẩm nhập khẩu có dấu hiệu bán phá giá Để bảo vệ quyền lợi của mình, doanh nghiệp hoặc nhóm các doanh nghiệp
có đủ điều kiện để được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước theo pháp luật về chống bán phá giá của nước nhập khẩu có thể đứng đơn kiện và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mình tiến hành các thủ tục điều tra và áp thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu có bán phá giá Trên
cơ sở yêu cầu đó, cơ quan có thẩm quyền của chính phủ nước nhập khẩu sẽ tiến hành các thủ tục điều tra và giải quyết tranh chấp
về bán phá giá, xem xét và quyết định việc liệu có áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm nhập khẩu hay không Theo quy định của WTO, chính phủ các nước thành viên có thể tiến hành các hành động để chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá với những điều kiện nhất định Như vậy, các thành viên WTO, bằng công cụ pháp luật
về chống bán phá giá của mình có quyền khởi xướng các cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá để đối phó với các sản phẩm nhập khẩu bán phá giá đồng thời, thực chất đây cũng chính là cách thức
mà các thành viên này có thể sử dụng để giải quyết những tranh chấp về bán phá giá trong nước Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc ban hành các quyết định về việc áp
Trang 3dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc
những chính sách và pháp luật về chống bán
phá giá hàng nhập khẩu không phù hợp của
thành viên nhập khẩu có thể làm “triệt tiêu”
hoặc “suy giảm” lợi ích của các thành viên
khác, do đó, có thể làm phát sinh những tranh
chấp về chống bán phá giá Trên cơ sở cân
nhắc lợi ích của quốc gia mình và có thể là
trước cả “sức ép” từ phía các doanh nghiệp
nội địa, các thành viên WTO, là những nước
bị “triệt tiêu” hoặc “suy giảm” lợi ích trong
trường hợp nói trên, sẽ xem xét việc đưa vụ
tranh chấp về chống bán phá giá ra giải
quyết tại WTO Như vậy, giữa các tranh
chấp về bán phá giá và các tranh chấp về
chống bán phá giá có mối liên hệ chặt chẽ về
thời điểm phát sinh tranh chấp và tranh chấp
về chống bán phá giá chỉ có thể phát sinh sau
khi đã có tranh chấp về bán phá giá
Rõ ràng, tranh chấp về chống bán phá giá
là loại tranh chấp thứ phát, theo đó, việc giải
quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
WTO là giải quyết tranh chấp tiếp theo của giải
quyết tranh chấp trong nước về bán phá giá
giữa các doanh nghiệp được nâng lên thành
tranh chấp giữa các chính phủ Bởi vậy, khi
số lượng các tranh chấp về bán phá giá cũng
như số lượng các cuộc điều tra chống bán phá
giá được khởi xướng và các biện pháp chống
bán phá giá được áp dụng gia tăng thì có thể
dẫn đến tình trạng gia tăng các tranh chấp về
chống bán phá giá Điều này cũng đã được
chứng minh qua thực tiễn giải quyết tranh
chấp của GATT/WTO trong hơn sáu thập kỉ
qua, bên cạnh tính ưu việt của hệ thống giải
quyết tranh chấp của WTO thì cùng với sự
gia tăng của các cuộc điều tra chống bán phá
giá được khởi xướng và các biện pháp chống
bán phá giá được áp dụng,(6)
số lượng các vụ tranh chấp về chống bán phá giá được đưa ra giải quyết tại WTO cũng đã ngày càng gia tăng một cách nhanh chóng.(7)
2.2 Đặc điểm về chủ thể
Các tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO là những tranh chấp xảy ra giữa các thành viên WTO ADA là hiệp định đa phương trong khuôn khổ WTO
và bởi vậy, đối với các tranh chấp về chống bán phá giá trong hệ thống giải quyết tranh chấp của tổ chức này, chỉ có các thành viên của WTO, tất nhiên đó cũng chính là những thành viên của ADA, mới có thể trở thành các bên tham gia với tư cách là các bên tranh chấp hoặc bên có quyền và lợi ích liên quan (sau đây gọi là bên thứ ba) Các quốc gia và vùng lãnh thổ không phải là thành viên của WTO sẽ không thể khởi kiện và trở thành các bên tham gia với tư cách là các bên tranh chấp và bên thứ ba tại WTO trong các vụ tranh chấp về chống bán phá giá
Ngoài ra, Ban thư kí WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác, chính quyền địa phương
và khu vực cũng không được phép khởi kiện các vụ tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO Đối với các cá nhân hoặc công ti tư nhân, họ cũng không thể trực tiếp tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO, ngay cả khi thông thường họ chính là những người bị tác động tiêu cực nhất (với
tư cách là những nhà xuất khẩu và nhập khẩu) bởi các biện pháp chống bán phá giá.(8) Điều này cũng tương tự với các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới các vấn đề được xử lí trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO.(9)
Trang 4
Như vậy, liên quan tới đặc điểm về chủ
thể, giữa tranh chấp về chống bán phá giá và
tranh chấp về bán phá giá đã có sự khác biệt
rất cơ bản, theo đó, nếu tranh chấp về chống
bán phá giá là tranh chấp giữa các chính phủ
thì tranh chấp về bán phá giá là tranh chấp
giữa các doanh nghiệp
2.3 Đặc điểm về phạm vi các vấn đề
tranh chấp về chống bán phá giá được giải
quyết tại DSB
Trong hệ thống giải quyết tranh chấp của
WTO, sau khi các bên tranh chấp tham vấn
không thành công, nếu nguyên đơn muốn
đưa tranh chấp về chống bán phá giá ra giải
quyết tại DSB thì phạm vi các vấn đề tranh
chấp được đưa ra giải quyết tại DSB cũng
chỉ giới hạn trong bốn loại tranh chấp về
chống bán phá giá sau đây: 1) Các tranh
chấp về thuế chống bán phá giá chính thức;
2) Các tranh chấp về biện pháp tạm thời; 3)
Các tranh chấp về biện pháp cam kết giá; 4)
Các tranh chấp về sự không phù hợp trong
các quy định pháp luật của một thành viên
với nội dung của ADA.(10)
Như vậy, theo quy định,(11) DSB sẽ chỉ tiến hành giải quyết
các tranh chấp về chống bán phá giá thuộc
một trong bốn loại tranh chấp nói trên và
những vấn đề này bắt buộc phải được nêu rõ
trong nội dung đơn yêu cầu thành lập Ban
hội thẩm, bao gồm cả việc mô tả “biện pháp
có vấn đề” và “cơ sở pháp lí ” cho việc khởi
kiện.(12)
Cần lưu ý, đối với các tranh chấp về
chống bán phá giá, nếu yêu cầu bắt buộc nói
trên không được tuân thủ thì ngay kể cả khi
ban hội thẩm đã được thành lập và đưa ra kết
luận về vụ tranh chấp thì khi có kháng cáo,
Cơ quan phúc thẩm (AB) cũng sẽ bác bỏ các
kết luận đó bởi ngay từ đầu, việc đưa vụ
tranh chấp ra Ban hội thẩm đã là không phù hợp với Điều 6.2 của DSU Khi đó, nguyên đơn sẽ bị thiệt hại và lãng phí về thời gian, công sức cũng như chi phí cho việc khởi kiện Tiếp theo đó, nếu nguyên đơn vẫn muốn đưa vụ tranh chấp về chống bán phá giá này
ra giải quyết tại WTO thì họ sẽ phải bắt đầu lại thủ tục khởi kiện trên cơ sở tuân thủ đầy
đủ các quy định của DSU Để hiểu rõ hơn về quy định này, có thể lấy ví dụ về trường hợp của Mexico trong hai vụ kiện liên tiếp về chống bán phá giá đối với sản phẩm xi măng portland nhập khẩu từ nước này vào Guatemala Trong vụ kiện đầu tiên vào năm
1996 (vụ Guatemala – Xi măng I (DS60)), Mexico đã khởi kiện Guatemala về cuộc điều tra chống bán phá giá mà Guatemala tiến hành đối với xi măng portland nhập khẩu từ Mexico vì cho rằng Guatemala đã vi phạm các điều 2, 3, 5 và 7.1 của ADA Vụ việc đã được xét xử tại Ban hội thẩm, tuy nhiên, sau
đó, báo cáo của Ban hội thẩm đã bị AB bác
bỏ vì ngay từ đầu, trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của Mexico vẫn chưa xác định được “biện pháp có vấn đề”, bởi lẽ Mexico chỉ khởi kiện Guatemala về cuộc điều tra chống bán phá giá mà vấn đề này lại không nằm trong phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống bán phá giá được giải quyết tại DSB Đến năm 1999, Mexico lại tiếp tục khởi xướng vụ kiện thứ hai (vụ Guatemala –
Xi măng II (DS156)) về việc Guatemala áp thuế chống bán phá giá chính thức đối với sản phẩm xi măng portland xám nhập khẩu
từ Mexico Lần này, đơn yêu cầu thành lập ban hội thẩm của Mexico đã đáp ứng đủ các điều kiện nêu tại Điều 6.2 của DSU, đó là khởi kiện về việc áp thuế chống bán phá giá
Trang 5chính thức (một trong những biện pháp được
quy định tại Điều 17.4 của ADA) và vụ việc
sau đó cũng đã được Ban hội thẩm xét xử và
đi đến kết luận việc áp thuế chống bán phá
giá chính thức của Guatemala đối với xi
măng portland xám nhập khẩu từ Mexico là
vi phạm các quy định của ADA
Từ những phân tích trên đây có thể nhận
thấy, theo quy định của WTO, đối tượng
tranh chấp trong các vụ tranh chấp về chống
bán phá giá có thể được đưa ra để giải quyết
tại WTO là các quyết định về việc áp dụng
các biện pháp chống bán phá giá hoặc các
chính sách và pháp luật về chống bán phá
giá hàng nhập khẩu không phù hợp của
thành viên nhập khẩu
2.4 Đặc điểm về pháp luật áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán
phá giá tại WTO
Cơ sở pháp lí để giải quyết các tranh
chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ
WTO, về mặt nội dung cũng như về tố tụng,
sẽ tuân theo pháp luật của WTO áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá
giá Các loại nguồn của pháp luật WTO áp
dụng trong giải quyết tranh chấp về chống
bán phá giá cũng được xác định tương ứng
với các loại nguồn của pháp luật WTO nói
chung.(13) Đối với các tranh chấp về chống
bán phá giá, việc giải quyết tranh chấp về
nội dung trước hết sẽ căn cứ vào Hiệp định
WTO, cơ bản là Điều VI của GATT 1994 và
ADA, cùng với các loại nguồn khác như tập
quán quốc tế; các nguyên tắc pháp luật
chung; thực tiễn của WTO và các báo cáo về
giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm và
AB; thực tiễn của GATT 1947 và các báo
cáo về giải quyết tranh chấp của Ban hội
thẩm; các tài liệu được ban hành bởi các cơ quan WTO; các hiệp định quốc tế khác; các học thuyết của các học giả có uy tín Trong khi đó, về tố tụng, việc giải quyết tranh chấp
về chống bán phá giá sẽ tuân theo DSU cùng với những quy tắc và thủ tục đặc biệt, bổ sung cho DSU được ghi nhận trong ADA(14)
và các quy tắc tố tụng khác có liên quan của WTO Rõ ràng, pháp luật của WTO áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá không đồng nhất với và không chỉ bao gồm các quy tắc ghi nhận trong ADA hay DSU Mặc dù không thể phủ nhận đây là những hiệp định quan trọng của WTO(15)
(Xem tiếp trang 24)
(1) Tính đến hết ngày 25/7/2011, Việt Nam đã tham gia vào mười vụ kiện tại WTO thì có tới năm vụ liên quan tới chống bán phá giá, cụ thể, bốn trong số năm
vụ đó, Việt Nam tham gia với tư cách là bên thứ ba và một vụ tham gia với tư cách nguyên đơn Xem thêm tại http://www.wto.org/english/thewto_e/countries_e/ vietnam_e.htm
(2) Thuật ngữ dùng trong phần “Dispute settlement” tại http://www.wto.org/english/tratop_e/adp_e/adp_ info_e.htm
(3) Tương tự như WTO, GATT 1947, mà cụ thể là tại Điều VI, không có bất kì quy định nào đề cập khái niệm tranh chấp về chống bán phá giá Tuy nhiên, sau
đó, trong khuôn khổ GATT, đến Bộ luật về chống bán phá giá (Anti-Dumping Code -ADC) năm 1967, tại Điều 17 của Bộ luật này có đề cập “vấn đề” tranh
chấp, đó là “các vấn đề liên quan tới việc vận hành hệ
thống chống bán phá giá tại bất kì nước thành viên và vùng lãnh thổ hải quan nào mà có thể tác động tới hoạt động của ADC” Quy định này rõ ràng là hạn
chế và còn rất chung chung Sau đó, đến ADC 1979,
bộ luật này, lần đầu tiên, đã đưa ra khái niệm chính thức trong phần chú thích của Điều 15, theo đó, tranh
chấp về chống bán phá giá được hiểu là “những tranh
chấp phát sinh giữa các bên liên quan tới các quyền
và nghĩa vụ theo Hiệp định này” Khái niệm mang
Trang 6
tính khái quát cao này, sau đó, vì nhiều lí do khác
nhau, đã không còn được nêu lại trong ADA
(4).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật
quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr 385
(5) Theo quy định tại Điều 1.1 của DSU, các quy tắc
và thủ tục của DSU “phải được áp dụng cho những
tranh chấp được đưa ra theo các quy định về tham vấn
và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt
kê trong Phụ lục 1 của thoả thuận này” Trong Phụ lục
1 đó của DSU có liệt kê GATT 1994 và ADA
(6) Theo bản Báo cáo năm 2009 của WTO, trong
vòng 13 năm (1995 - 2008), đã có 2.190 biện pháp
chống bán phá giá được áp dụng và các số liệu thống
kê trong những năm gần đây cũng đã cho thấy xu
hướng tăng trở lại của các vụ điều tra chống bán phá
giá được khởi xướng bởi các thành viên của WTO
Xem thêm tại: http://www.wto.org/engli sh/res_e/booksp
_e/anrep_e/anrep09_e.pdf và http://www.wto.org/english/
news_e/pres09_e/pr5 56_e.htm
(7) Tính đến hết tháng 11/2010, chỉ trong gần 16 năm
tồn tại của WTO, đã có 84 vụ tranh chấp về chống
bán phá giá được đưa ra giải quyết tại WTO so với 8
vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại Ban hội thẩm
của GATT trong gần 50 năm tồn tại của GATT 1947
Xem thêm tại: http://www.wto.org/english/tratop_e/
dispu_e/dispu_agreements_index_e.htm?id=A6# select
ed_agreement và http://www.worldtradelaw.net/ reports/
gattpanels/gattpanels.asp
(8) Trong pháp luật quốc gia hoặc trên thực tế, các cá
nhân và công ti tư nhân có thể gây ảnh hưởng hoặc
thậm chí gây sức ép đối với chính phủ của nước mình
trong việc đưa một tranh chấp ra giải quyết tại WTO,
tuy nhiên, họ không thể trực tiếp khởi kiện ra WTO
(9) Trong khuôn khổ WTO, vẫn còn có một số ý kiến
khác nhau về sự tham gia của các tổ chức phi chính
phủ, đặc biệt là liên quan tới vấn đề đệ trình các ý
kiến theo hình thức “amicus curiae” tại Ban hội thẩm
và Cơ quan phúc thẩm Xem thêm David Palmeter,
Petros C Mavroidis (2004), Dispute settlement in the
World Trade Organization: Practice and procedure,
2nd ed., Cambridge: Cambridge Univ., United
Kingdom, tr 39; Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế
quốc tế, Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của
WTO, Hà Nội, 2006, tr 37 - 38
(10).Xem: Điều 17.4, ADA; Điều 6.2, DSU; Báo cáo của AB, vụ Goa-tê-ma-la – Xi măng I, WT/DS60/AB/R, đoạn 79; Báo cáo của AB, vụ Hoa Kỳ - Đạo luật chống bán phá giá năm 1916, WT/DS136/AB/R, WT/DS162/AB/R, đoạn 72
(11).Xem: Điều 17.4 của ADA và Điều 6.2 của DSU
Cả hai quy định này được áp dụng đồng thời và bổ sung cho nhau Điều 17.4 không đặt ra thêm bất kì yêu cầu bổ sung nào so với Điều 6.2 và bởi vậy, một yêu cầu đã phù hợp với Điều 6.2 của DSU thì cũng thoả mãn các yêu cầu của Điều 17.4
(12).Xem: Báo cáo của AB, vụ Guatemala – Xi măng
I, WT/DS60/AB/R, đoạn 69, đoạn 80 và đoạn 90;
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Tranh
chấp về chống bán phá giá trong WTO, Hà Nội, 2010,
tr 57 - 61
(13) Nhìn chung, việc xác định các loại nguồn của pháp luật WTO, cơ bản được dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống của Điều 38(1) của quy chế toà án công lí quốc tế và có tính tới cả những đặc thù của WTO Tuy nhiên, về số lượng, tên gọi, vị trí, vai trò của từng loại nguồn khác của pháp luật WTO thì vẫn có những điểm khác biệt trong những nghiên cứu của các học giả Xem: Peter Van Den
Bosseche (2008), The Law and Policy of the World
Trade Organization: Text, Cases and Materials, 2nd
ed., Cambridge University Press, United Kingdom, tr 53; David Palmeter, Petros C Mavroidis (2004),
Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure, 2nd ed., Cambridge:
Cambridge Univ., United Kingdom, tr 50; và Joost
Pauwelyn, The role of Public International Law in the
WTO: How far can we go?, The American Journal of
International Law, VOL (95):3, tr 563 - 564
(14) Quy định từ Điều 17.4 đến 17.7 của ADA (15) Theo đó, trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO, tất cả các phân tích pháp lí, trước hết,
“phải được bắt đầu từ chính nội dung của các hiệp định này” Xem Báo cáo của AB, vụ Nhật Bản – Thuế đánh vào sản phẩm rượu, WT/DS8/AB/R, WT/DS10/AB/R, WT/DS11/AB/R, đoạn 97