1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập tình huống tố tụng hành chính

12 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập tình huống tố tụng hành chính
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Hành Chính
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 650,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH ĐỀ SỐ 01 Hà Nội, 2021 HỌ TÊN PHẠM NGUYỄN THÙY LINH MSSV 442028 LỚP NO3 TL2 2 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG CHỮ VIẾT TẮT 3 Câu.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

ĐỀ SỐ: 01

Hà Nội, 2021

MSSV : 442028

Trang 2

MỤC LỤC

Câu 1 Vụ việc khởi kiện nêu trên có thuộc thẩm quyền xét

xử hành chính của Toà án hay không ? Nêu rõ căn cứ pháp

luật?

4

Câu 2 Toà án nào có thẩm quyền thụ lý đơn kiện của Công

ty M ? Tại sao?

6

Câu 3 Xác định tư cách những người tham gia tố tụng trong

vụ án nêu trên ?Căn cứ pháp luật?

6

Câu 4 Công ty M cần chứng minh vấn đề gì trong vụ án

hành chính nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

mình?

9

Trang 3

CHỮ VIẾT TẮT

UBND: ủy ban nhân dân TNHH: trách nhiệm hữu hạn

Trang 4

ĐỀ: Ngày 15/8/2019 Bà Nguyễn Thị A là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện X thuộc tỉnh Y đã ký quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn M do ông Cường là giám đốc Sau khi đã hoàn tất thủ tục khiếu kiện theo quy định của pháp luật, ngày 15/10/2019 Công ty M đã khởi kiện quyết định xử phạt nêu trên ra Toà án Trong thời gian Toà án xem xét thụ lý đơn khởi kiện của Công ty M, Bà A được cơ quan có thẩm quyền điều động giữ chức vụ Giám đốc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Y (Bà A không còn giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện X nữa)

Hỏi:

1 Vụ việc khởi kiện nêu trên có thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà

án hay không ? Nêu rõ căn cứ pháp luật?

2 Toà án nào có thẩm quyền thụ lý đơn kiện của Công ty M ? Tại sao?

3 Xác định tư cách những người tham gia tố tụng trong vụ án nêu trên ?Căn

cứ pháp luật?

4 Công ty M cần chứng minh vấn đề gì trong vụ án hành chính nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình?

NỘI DUNG

Câu 1 Vụ việc khởi kiện nêu trên có thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án hay không ? Nêu rõ căn cứ pháp luật?

Vụ việc khởi kiện nêu trên thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của tòa án Vì: để đưa ra đáp án chúng ta cần phải trả lời cho 3 câu hỏi: quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế đối với công ty TNHH M có phải là quyết định hành chính hành chính hay không? Quyết định đó có làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty TNHH M hay không? Và cuối cùng, khiếu kiện quyết định trên của công ty TNHH M

có thuộc phạm vi thẩm quyền của Tòa án không?

Căn cứ pháp luật: theo khoản 1, khoản 2 điều 3; khoản 1 điều 30 Luật

tố tụng hành chính 2015

Thứ nhất, trả lời cho câu hỏi quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế

đối với công ty TNHH M có phải là quyết định hành chính hay không? Dựa theo khoản 1 điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015, các khiếu kiện thuộc

thẩm quyền giải quyết của tòa án bao gồm “khiếu kiện quyết định hành

chính, hành vi hành chính” Xét khoản 1 điều 3 Luật này quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn

Trang 5

đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.” Như vậy, quyết định hành chính mang

tính cá biệt, chỉ được áp dụng 1 lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể Trong trường hợp này, chủ tịch UBND huyện X đưa ra quyết định về hành vi trốn thuế đối với công ty trách nhiệm hữu hạn M là quyết định mang tính cá biệt, áp dụng 1 lần đối với công ty M

Thứ hai, tại khoản 2 điều 3 Luật tố tụng hành chính có quy định:

“Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều

này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi

ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” Như vậy, yêu cầu để quyết định hành chính có thể được các chủ thể

đưa ra kiện là phải gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích hợp pháp hoặc làm phát sinh nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Xét trong trường hợp trên, khi đưa ra quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế, chắc chắn quyền và lợi ích công ty TNHH M sẽ bị ảnh hưởng, theo đó, công ty TNHH sẽ phải nộp phạt về hành vi trốn thuế của mình theo quyết định đã đưa ra hoặc các bất lợi khác có liên quan

Thứ ba, tại khoản 1 điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 có quy định

về khiếu kiện thuộc tẩm quyền giải quyết của tòa án bao gồm có khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, tuy nhiên, trừ 3 quyết định,

hành vi sau: “a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi

bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng; c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.” Theo đó, xét theo trường hợp trên thì khiếu kiện quyết

định xử phạt về hành vi trốn thuế không thuộc một trong ba trường hợp trên, vì vậy, tòa án hoàn toàn có thẩm quyền xét xử Hơn nữa, tại khoản 1 điều 115 Luật tố tụng hành chính 2015 cũng có quy định về vấn đề quyền khởi kiện vụ án, theo đó, thì cơ quan, tổ chức cá nhân có quyền khởi kiện

vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó

Và sau khi chuẩn bị đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật thì người

khởi kiện sẽ “gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến tòa án

có thẩm quyền giải quyết” theo điều 199 Luật này

Như vậy, quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế của chủ tịch UBND huyện X đối với công ty TNHH M đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên, là quyết định hành chính mang tính cá biệt, lần đầu đối với công ty M, mang nội dung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty , ngoài

ra, khiếu kiện cũng thuộc trường hợp mà điều 30 Luật tố tụng hành chính

2015 quy định về khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Từ

Trang 6

đây, ta có thể khẳng định quyết định trên là quyết định hành chính thuộc đối tượng xét xử hành chính của tòa án, vụ việc khởi kiện thuộc thẩm quyền xét

xử hành chính của tòa án

Câu 2 Toà án nào có thẩm quyền thụ lý đơn kiện của Công ty M ? Tại sao?

Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải thụ lý đơn kiện của công ty TNHH

M Vì:

Căn cứ pháp lý, theo khoản 1 điều 31 và khoản 4 điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015

Theo đề bài, khi ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế,

bà A vẫn giữ chức vụ chủ tịch UBND huyện X Theo khoản 1 điều 31 có quy định về thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp huyện, theo đó, tòa án cấp huyện giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, tuy nhiên sẽ trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện và chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện Như vậy, xét đến đây, Tòa án cấp huyện sẽ không có thẩm quyền giải quyết thụ lý đơn kiện của công ty M

Mặt khác, tại khoản 4 điều 32 có quy định về vấn đề này như sau:

“Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án;” sẽ do tòa án cấp tỉnh giải quyết Giải thích

cho vấn đề này, trường hợp tòa hành chính cấp tỉnh có thể giải quyết vụ việc liên quan đến cấp huyện, đây là trường hợp đặc biệt nhằm mục đích đảm bảo tính khách quan, minh bạch, thực hiện đúng pháp luật, đồng thời bao vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan bị xâm hại trước đó

Như vậy, xét theo hai điều luật 31, 32 Luật tố tụng hành chính 2015, đồng thời xét về mặt thời gian đưa ra quyết định là ngày 15/8/2019, lúc này

bà A vẫn giữ chức vụ là chủ tịch UBND huyện X nên thẩm quyền sẽ tòa án nhân dân tỉnh Y có thẩm quyền thụ lý đơn kiện của công ty TNHH M

Câu 3 Xác định tư cách những người tham gia tố tụng trong vụ

án nêu trên ?Căn cứ pháp luật?

Theo điều 53 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định: “Người tham

gia tố tụng hành chính gồm đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người

Trang 7

giám định, người phiên dịch” Như vậy, người tham gia tố tụng hành chính

bao gồm 2 nhóm là:

+ Nhóm đương sự (bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của đương sự)

+ Nhóm người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người phiên dịch, người giám hộ và người bào chữa)

Xét trong trường hợp trên, tư cách những người tham gia tố tụng trong

vụ án cụ thể như sau:

Người khởi kiện: Công ty TNHH M Căn cứ pháp lý: theo khoản 8

điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định: “ Người khởi kiện là cơ

quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh

sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).” Như

vậy, trong vụ án trên, công ty TNHH M sẽ mang tư cách người khởi kiện đứng ra khởi kiện vụ án hành chính với quyết định hành chính xử phạt về hành vi trốn thuế của chủ tịch UBND huyện X khi cho rằng quyết định trên

đã làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của công ty hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công ty TNHH

Người bị kiện: sẽ là chủ tịch UBND huyện X đương nhiệm (không

phải bà Nguyễn Thị A), căn cứ pháp lý: “Người bị kiện là cơ quan, tổ chức,

cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện.” (khoản 9 điều 3 luật tố tụng hành

chính 2015) Giải thích cho vấn đề tại sao bà Nguyễn Thị A không phải người bị kiện vì: căn cứ theo điều 4 Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP, ngày 4/8/2006 có quy định về việc xác định người bị kiện trong vụ án hành

chính như sau: “Cần chú ý là người có thẩm quyền trong cơ quan hành

chính nhà nước quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh là người có chức vụ, chức danh cụ thể và theo quy định của pháp luật thì người có chức vụ, chức danh

đó mới có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính Mặc dù một quyết định hành chính hoặc một hành vi hành chính do một người cụ thể (ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thị X ) ký hoặc thực hiện, nhưng việc người đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính đó phải dưới danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền (ví dụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện , Trưởng Công an phường ); do đó, chỉ có thể gọi quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó của Chủ

Trang 8

tịch Uỷ ban nhân dân huyện , của Trưởng Công an phường mà không thể gọi quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó của một người cụ thể (ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thị X ) Vì vậy, trong trường hợp người

ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính đã chuyển công tác đi nơi khác hoặc về hưu mà quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính

đó bị khiếu kiện, thì người được bầu, được cử, được bổ nhiệm thay chức vụ, chức danh của người đó phải kế thừa quyền và nghĩa vụ, có nghĩa họ chính

là người bị kiện.” Như vậy, nếu xét trong trường hợp này, mặc dù tại thời

điểm đưa ra quyết định xử phạt, bà A vẫn giữ chức chủ tịch UBND huyện

X, và việc ký quyết định dựa trên chức danh thẩm quyền của chủ tịch UBND, vì vậy, nên sau khi bà được điều dộng giữ chức vụ khác thì người khởi kiện sẽ được thay đổi thành chủ tịch UBND huyện X đương nhiệm đang giữ chức vụ này thay thế bà A

Một điểm nữa là, vì bà A được cơ quan có thẩm quyền điều động giữ chức vụ Giám đốc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Y trong thời gian tòa xem xét thụ lý đơn khởi kiện của Công ty M Như vậy, tại thời điểm gửi đơn khởi kiện, bà A vẫn là chủ tịch UBND huyện X, có nghĩa rằng lúc này bà A sẽ là người bị kiện trong vấn đề trên Tuy nhiên, tại điều 8 Luật tố tụng hành chính 2015 có quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện, theo đó trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện

có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác Vì vậy, trong trường hợp sau khi bà A được điều động giữ chức

vụ khác, công ty M cũng có thể thay đổi, bổ sung về vấn đề người bị kiện, sau đó, đề nghị Tòa án xem xét cho bà A tham gia tố tụng với tư cách người

có quyền và nghĩa vụ liên quan

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: sẽ bao gồm ông Cường và bà Nguyễn Thị A Căn cứ pháp lý, theo khoản 10 điều 3 Luật tố tụng hành

chính có quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ

chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ

án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.” Theo đó, trong trường hợp này,

ông Cường không phải là người khởi kiện, nhưng với cương vị là giám đốc công ty TNHH M, khi công ty bị xử phạt về hành vi trốn thuế thì đương nhiên quyền và lợi ích hợp pháp của những người đứng đầu sẽ bị ảnh

hưởng nặng nề nhất

Ngoài ra, Bà Nguyễn Thị A trong trường hợp sau khi này tuy không phải là người bị kiện, tuy nhiên bà A khi còn giữ chức vụ chủ tịch UBND huyện X đã là người trực tiếp ký quyết định xử phạt đôi với công ty M, theo

đó khi tiến hành xét xử tố tụng, nếu chứng minh được quyết định xử phạt của bà A là trái hoặc không đúng với quy định của pháp luật thì bà A sẽ là

Trang 9

một trong số các cá nhân chịu trách nhiệm cho vấn đề này Vì vậy, cả ông

Cường và bà Nguyễn Thị A đều là người có quyền và nghĩa vụ liên quan

 Ngoài ra, xét trong trường hợp trên có thể có người đại diện hợp pháp: đới với công ty M, người đại diện là người đứng đầu cơ quan, tổ chức

do được bổ nhiệm hoặc bầu theo quy định của pháp luật (căn cứ pháp lý: theo điểm d, khoản 1 điều 60 Luật tố tụng hành chính 2015) Còn đối với chủ tịch UBND huyện X có thể ủy quyền cho Phó chủ tịch UBND huyện X làm đại diện ( căn cứ pháp luật: khoản 3 điều 60 Luật tố tụng hành chính

2015 và tại câu 6 phần I Giải đáp số 02/GD-TAND năm 2016 có giải đáp

kỹ về vấn đề này như sau: “Theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 60

Luật tố tụng hành chính năm 2015, trường hợp người bị kiện là Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân chỉ được ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân đại diện, Phó Chủ tịch

Ủy ban nhân dân không được ủy quyền lại cho người thứ ba tham gia tố tụng.”

 Bên cạnh đó có thể có những người tham gia tố tụng khác, nếu có

như: người làm chứng, người phiên dịch, người giám hộ và người bào chữa

Câu 4 Công ty M cần chứng minh vấn đề gì trong vụ án hành chính nêu trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình?

Theo điều 56 Luật tố tụng hành chính 2015 có quy định về các quyền

và nghĩa vụ của người khởi kiện Theo đó, một trong những quyền cơ bản nhất và cũng như quan trọng nhất để bảo công ty TNHH M bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đó là “cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 5 điều 55 Luật tố tụng hành chính 2015), hoặc nếu không thể tự mình thực hiện được có thể

đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án (khoản 6 điều 55 Luật tố tụng hành chính) Và để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công ty M, em xin chia vấn đề thành 2 trường hợp: Trường hợp 1 là công ty TNHH M không thực hiện đóng thuế nhưng xét thấy quyết định xử phạt của chủ tịch UBND huyện X là sai, không hợp pháp, hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích công ty Trường hợp thứ 2 là công ty TNHH M

có thực hiện đóng thuế đầy đủ, tuy nhiên lại nhận được quyết định xử phạt

về hành vi trốn thuế trái pháp luật

+ Trường hợp 1: công ty TNHH M không thực hiện đóng thuế nhưng

xét thấy quyết định xử phạt của chủ tịch UBND huyện X là sai, không hợp pháp, hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích công ty Tại trường hợp này, công ty TNHH M có thể xem xét để đưa ra bằng chứng cụ thể theo nhiều hướng khác nhau:

Thứ nhất, khi đưa ra quyết định hành chính thì chủ thể ra quyết định

phải ban hành đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, tuy nhiên nếu công ty M phát hiện được những sai phạm của chủ tịch UBND trong việc thực hiện ban hành quyết định hành đó không đúng với trình tự, thủ tục quy

Trang 10

định của pháp luật thì quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế trên của chủ tịch UBND huyện là trái pháp luật Dựa trên đó, công ty M có thể lấy căn

cứ này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ hai, khi ra quyết định xử phạt hành chính về vấn đề trên, căn cứ

tại khoản 2 điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 có quy định về thẩm quyền của chủ tịch UBND cấp huyện, theo đó, chủ tịch

UBND cấp huyện có quyền: “a) Phạt cảnh cáo; b) Phạt tiền đến 50% mức

tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng; c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này; đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều 28 của Luật này.” Theo đó, công ty M có thể dựa trên căn cứ này để

đối chiếu với quyết định xử phạt của chủ tịch UBND huyện X, nếu có căn

cứ cho rằng chủ tịch UBND huyện đã vượt quá quyền hạn được nêu trên thì

có thể lấy đó là căn cứ khởi kiện trước tòa, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình

Thứ ba, theo điều 5 thông tư 166/2013/TT-BTC quy định chi tiết về

xử phạt vi phạm hành chính về thuế có quy định các trường hợp không xử

phạt vi phạm hành chính về thuế bao gồm các trường hợp như: “1 Thực

hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết; 2 Thực hiện hành

vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng; 3 Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ; 4 Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng; 5 Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi

vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.” Trong trường hợp này, nếu

công ty có thể đưa ra các bằng chứng, chứng minh việc không nộp thuế của mình là do có sự kiện bất khả kháng hoặc do sự kiện bất ngờ,… thuộc 1 trog 5 trường hợp trên thì lúc này công ty M sẽ không phải bị xử phạt về hành vi trốn thuế, thông qua đó, chứng minh quyết định xử phạt trên là trái với quy định của pháp luật, từ đó bảo vệ quyền lợi của công ty

Trường hợp 2: công ty TNHH M có thực hiện đóng thuế đầy đủ, tuy

nhiên lại nhận được quyết định xử phạt về hành vi trốn thuế trái pháp luật Trường hợp này, công ty M có thể xem xét một số trường hợp sau đây:

Trong trường hợp này, công ty M cần phải có các giấy tờ cụ thể chứng minh mình đã thực hiện hoạt động đóng thuế đúng với quy định của pháp luật, các văn bản, giấy tờ hoặc biên lai đó phải đúng với loại văn bản,

Ngày đăng: 10/12/2022, 17:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w