1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những sai sót thường gặp của người tư vấn khi tư vấn pháp luật bằng văn bản và đưa ra những giải pháp khắc phục

13 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những sai sót thường gặp của người tư vấn khi tư vấn pháp luật bằng văn bản và giải pháp khắc phục
Người hướng dẫn P. PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật pháp và Pháp lý
Thể loại Bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 389,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN KỸ NĂNG CHUNG VỀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐỀ BÀI 23 HỌ TÊN TRẦN THỊ THÙY DƯƠNG MSSV 432243 LỚP N04 TL1 NHÓM 05 HÀ NỘI 2020 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: KỸ NĂNG CHUNG VỀ TƯ VẤN

PHÁP LUẬT

HỌ TÊN : TRẦN THỊ THÙY DƯƠNG

MSSV : 432243

LỚP : N04-TL1

NHÓM : 05

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về tư vấn pháp luật bằng văn bản 1

1 Khái niệm “tư vấn pháp luật” 1

2 Kỹ năng tư vấn pháp luật bằng văn bản 1

2.1 Khái niệm và đặc điểm của tư vấn pháp luật bằng văn bản 1

2.2 Các trường hợp cần tư vấn pháp luật bằng văn bản 2

2.3 Yêu cầu đối với văn bản tư vấn pháp luật 2

2.4 Quy trình tư vấn pháp luật bằng văn bản 3

II Những sai sót thường gặp của người tư vấn khi tư vấn pháp luật bằng văn bản và giải pháp khắc phục 3

1 Sai sót trong giai đoạn chuẩn bị và giải pháp khắc phục 4

2 Sai sót trong giai đoạn soạn thảo và giải pháp khắc phục 5

3 Sai sót trong giai đoạn kiểm tra văn bản tư vấn và giải pháp khắc phục 7 III Tình huống thực tế minh họa 8

1 Tình huống 1 8

2 Tình huống 2 9

KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với đà phát triển của kinh tế-xã hội, ngày càng có nhiều người tìm đến dịch vụ tư vấn pháp luật để được hỗ trợ trong công việc kinh doanh cũng như giải quyết các tranh chấp Vì vậy, vai trò của tư vấn viên pháp luật và luật sư tư vấn ngày càng được đề cao

Người tư vấn không chỉ cần phải nói giỏi mà còn phải biết soạn thảo các văn bản

tư vấn chặt chẽ, chính xác, dễ hiểu Nếu chỉ có kiến thức chuyên môn tốt thôi thì chưa

đủ, người tư vấn cần có những kỹ năng và tránh những sai sót không đáng có Bởi lẽ

đó, em xin chọn đề số 23 làm chủ để cho bài tập học kì: Những sai sót thường gặp

của người tư vấn khi tư vấn pháp luật bằng văn bản và đưa ra những giải pháp khắc phục Minh họa bằng các tình huống thực tế

NỘI DUNG

I Khái quát chung về tư vấn pháp luật bằng văn bản

1 Khái niệm “tư vấn pháp luật”

Điều 28 Luật Luật sư năm 2006 định nghĩa: “Tư vấn pháp luật là việc đưa ra

hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ”

Điều 27 Luật trợ giúp pháp lí năm 2016 định nghĩa: “Người thực hiện trợ giúp

pháp lý tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, giải

đáp, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, vướng mắc pháp

luật của họ”

Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về tư vấn pháp luật, tuy nhiên,

từ góc độ lý luận và thực tiễn, tư vấn pháp luật được hiểu là: việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn xử sự đúng pháp luật; cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.1

2 Kỹ năng tư vấn pháp luật bằng văn bản

2.1 Khái niệm và đặc điểm của tư vấn pháp luật bằng văn bản

Tư vấn pháp luật bằng văn bản được hiểu là người tư vấn trao đổi bằng văn bản

với khách hàng, trao đổi mọi thông tin liên quan cần thiết đến vấn đề mà khách hàng

1 TS Phan Chí Hiếu,ThS Nguyễn Thị Hằng Nga, Giáo trình kỹ năng tư vấn pháp luật, Học viện tư pháp,

Nxb.CAND, Hà Nội, 2012, tr.12

Trang 4

cần tư vấn.2

Tư vấn pháp luật bằng văn bản có các đặc điểm sau:

i) Được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động nghề luật với những yêu cầu đặc thù; ii) Là hoạt động có đối tượng và mục đích cụ thể;

iii) Là công cụ, phương tiện thực hiện nhiệm vụ nghề nghiệp của người tư vấn pháp luật;

iv) Có khả năng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có yêu cầu

2.2 Các trường hợp cần tư vấn pháp luật bằng văn bản

Việc tư vấn pháp luật bằng văn bản thông thường được tiến hành khi:

i) Khách hàng ở xa, không trực tiếp đến gặp người tư vấn và không muốn tư vấn qua điện thoại;

ii) Khách hàng muốn khẳng định độ tin cậy của giải pháp thông qua việc đề ra các câu hỏi để người tư vấn trả lời bằng văn bản;

iii) Kết quả tư vấn bằng văn bản có thể được khách hàng sử dụng để phục vụ cho mục đích khác của họ;

iv) Những vụ, việc phức tạp mà nếu người tư vấn tư vấn bằng lời nói thì khách hàng không nắm bắt hết được

Sản phẩm của quá trình tư vấn pháp luật bằng văn bản có thể là: Bản thẩm định, đánh giá, cho ý kiến pháp lý đối với vụ việc hoặc hợp đồng, văn bản nội bộ; Bảng trả lời câu hỏi

2.3 Yêu cầu đối với văn bản tư vấn pháp luật

Về mặt nội dung, sản phẩm của quá trình tư vấn pháp luật bằng văn bản phải đáp

ứng những yêu cầu nhất định Đối với văn bản cho ý kiến pháp lí về vụ việc cần phải đầy đủ 3 phần:

i) Phần mở đầu: giới thiệu chính xác yêu cầu của khách hàng và trình bày đầy đủ các sự kiện, giả định và hạn chế có liên quan

ii) Phần nội dung: đưa ra một số kết quả nhận định ban đầu; trình bày cụ thể các phân tích và cơ sở pháp lý để chứng minh các nhận định đó; đánh giá và định hướng giải quyết

2 Xem thêm: http://www.luatdaiviet.vn/xem-tin-tuc/kinh-nghiem-luat-su-ky-nang-cua-luat-su-trong-tu-van- phap-luat, truy cập ngày 18/3/2020

Trang 5

iii) Phần kết luận: tóm tắt các vấn đề pháp lý then chốt, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của tổ chức hành nghề tư vấn pháp luật

Về mặt hình thức, văn bản tư vấn pháp luật phải có ngôn ngữ thích hợp, văn

phong rõ ràng, dễ hiểu; kỹ thuật trình bày (đánh máy hoặc viết tay) đảm bảo sự cẩn thận, sáng sủa, dễ đọc

Ngoài ra, văn bản tư vấn pháp luật cần có tính logic, tính súc tích, tính chính xác, và đặc biệt quan trọng là phải trả lời đúng hẹn

2.4 Quy trình tư vấn pháp luật bằng văn bản 3

a, Giai đoạn chuẩn bị: Người tư vấn tìm hiểu yêu cầu của khách hàng, nghiên cứu các cơ sở pháp lý, thu thập thêm thông tin và xác định các mục tiêu soạn thảo

b, Giai đoạn soạn thảo: Người tư vấn trình bày rõ ràng và ngắn gọn các nhận định và ý kiến tư vấn của mình

Để việc soạn thảo phần nội dung chính của văn bản tư vấn dễ dàng hơn, người tư vấn cần thực hiện ba bước cơ bản:

Bước 1: Sắp xếp các vấn đề theo thứ tự, bắt đầu từ những phần quan trọng nhất; Bước 2: Tập hợp thông tin để hỗ trợ phần trình bày (bao gồm chủ yếu là phân tích pháp lý) và minh họa cho quan điểm sẽ trình bày;

Bước 3: Triển khai những vấn đề đã được đề cập tại Bước 1 để hình thành nội dung chính;

Ngoài ra, người tư vấn cũng có thể xác định được kết cấu của phương án tư vấn

bằng cách tham khảo các kết cấu kinh điển ( Ví dụ: i) Yêu cầu; ii) Diễn biến; iii)

Chứng cứ; iv) Điều luật; v) Lập luận và giải pháp; v.v.) Sau đó người tư vấn tiến

hành lắp ghép các thông tin cụ thể vào kết cấu đã được định sẵn

c, Giai đoạn kiểm tra: Người tư vấn kiểm tra lại các dẫn chứng và văn bản soạn thảo để bảo đảm tính chính xác, rõ ràng và đáp ứng các mục tiêu soạn thảo đã đề ra

Văn bản tư vấn có thể được kiểm tra từ nhiều góc độ: i) Kiểm tra lại các dẫn chứng và văn bản soạn thảo để bảo đảm tính chính xác, rõ ràng, đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ phương án về nội dung ii) Kiểm tra lại hình thức: phông chữ, lỗi chính tả, nhấn mạnh, bảng biểu, v.v

II Những sai sót thường gặp của người tư vấn khi tư vấn pháp luật bằng văn

3 Liên đoàn luật sư Việt Nam-JICA Pháp luật 2020, Sổ tay luật sư tập 3: Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn trong

lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại, Hà Nội, 2017, tr.22-33

Trang 6

bản và giải pháp khắc phục

1 Sai sót trong giai đoạn chuẩn bị và giải pháp khắc phục

Thứ nhất, người tư vấn pháp luật bằng văn bản (sau đây gọi tắt là “người tư

vấn”) dễ mắc vào cái bẫy của việc “giả định”, tức là ngại hỏi lại khách hàng mà thích đặt giả định về các sự kiện thực tế để giới hạn phần phân tích của mình trong văn bản

tư vấn Khi giả định không chính xác (nhất là các giả định có thể dễ dàng kiểm tra với khách hàng để xác định) thì ý kiến tư vấn của người tư vấn cũng sẽ không chính xác

Giải pháp: Người tư vấn nên gọi điện hoặc gửi email cho khách hàng để xác

nhận các sự kiện quan trọng thực tế đối với phần phân tích và đưa ra kết luận Chỉ nên đặt giả định khi khách hàng không thể xác nhận tính chính xác của sự kiện thực tế và cũng không có cách nào khác để xác định sự kiện thực tế đó

Thứ hai, người tư vấn thiếu cẩn trọng khi sử dụng nguồn thông tin từ internet

Internet thực sự là kho dữ liệu và thông tin khổng lồ, rất hữu ích cho công việc nghiên cứu pháp luật Tuy nhiên, vấn đề thường gặp nhất là các dữ liệu điện tử của cơ quan nhà nước hoặc các công ty cung cấp dịch vụ tìm kiếm có thể không được cập nhật hoặc bỏ sót các thông tin về tính hiệu lực, sửa đổi hoặc bổ sung của văn bản pháp luật Bản dịch tiếng Anh (nếu có) không phải là bản dịch chính thức được cơ quan ban hành công nhận và có thể có sai sót so với nội dung văn bản tiếng Việt

Ngoài ra, người tư vấn có thể gặp phải các khái niệm pháp lý hoặc thương mại nước ngoài không thường gặp hoặc không có trong pháp luật Việt Nam Nếu tìm qua các công cụ tìm kiếm phổ biến như Google hay Yahoo, người tư vấn thường nhận được các kết quả từ các trang web như Wikipedia hay các website có tính “bách khoa toàn thư” khác về luật, tài chính, kinh tế, v.v Các thông tin trên có thể chưa được kiểm chứng, chưa được cập nhật hoặc có thể đúng nhưng không đầy đủ

Giải pháp: Đối với các loại thông tin kể trên, người tư vấn chỉ nên sử dụng để

tham khảo mà không nên đưa vào kết quả nghiên cứu một cách chính thức Khi nghiên cứu về một khái niệm pháp lý nước ngoài, người tư vấn nên sử dụng thông tin

từ các cơ sở dữ liệu khoa học có uy tín như Lexis hay Westlaw, v.v Các cơ sở dữ liệu này thường buộc người dùng phải trả một mức phí khá cao để được cấp quyền truy cập, sao chép hoặc tải tài liệu Các tổ chức hành nghề tư vấn có thể đăng ký tài

Trang 7

khoản truy cập chung dành cho tổ chức để tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu của người tư vấn

2 Sai sót trong giai đoạn soạn thảo và giải pháp khắc phục

Thứ nhất, người tư vấn trả lời không trực tiếp, không đúng trọng tâm câu hỏi

của khách hàng.Việc này thường xảy ra khi người tư vấn nghĩ rằng ngoài những câu hỏi của khách hàng, có những vấn đề khác quan trọng hơn, cần lưu tâm hơn trong vụ việc Và khi trình bày văn bản, người tư vấn để phần nội dung “ngoài lề” này lên phần đầu, cũng như dành nhiều thời gian hơn để phân tích các vấn đề trong nội dung này Còn, câu trả lời cho câu hỏi của khách hàng bị đẩy xuống phần sau của với dung lượng khá khiêm tốn Đây là một sai sót dễ mắc mắc phải nhưng lại khiến khách hàng cảm thấy khó chịu khi không đạt được mục đích hỏi của mình

Giải pháp: Điều này đơn thuần là trình bày trực tiếp vấn đề mà khách hàng đặt

ra Nếu có những vấn đề khác mà người tư vấn nghĩ là quan trọng với khách hàng thì cũng nên trình bày sau khi trả lời xong những vấn đề mà khách hàng hỏi

Thứ hai, khi buộc phải trả lời về một trường hợp không chắc chắn, người tư vấn diễn đạt một cách quá chắc chắn hoặc quá mơ hồ Ví dụ: liên quan đến một vụ kiện

mà sự thắng thua phụ thuộc phần nhiều vào chứng cứ tìm được trong tương lai, người

tư vấn trả lời khách hàng rằng “về điểm này, có thể là ” Cách nói này có thể làm cho khách hàng hiểu lầm rằng người tư vấn thiếu hiểu biết hoặc đọc chưa kỹ hồ sơ của họ Ngược lại, nếu người tư vấn trả lời một cách dứt khoát thì sau đó, khi xảy ra

sự việc không đúng như trong lời khẳng định của người tư vấn khách hàng sẽ quy kết trách nhiệm cho người tư vấn

Giải pháp: Kinh nghiệm trong trường hợp này là người tư vấn nên phân tích

các khả năng khác nhau có thể xảy ra, hậu quả pháp lý của từng khả năng đó, các giải pháp có thể sử dụng để thay đổi tình thế, những cơ may thành công và rủi ro có thể gặp phải đối với từng giải pháp.4

Thứ ba, văn bản tư vấn dài dòng Khách hàng thường không muốn đọc một văn

bản tư vấn dài như một tiểu luận hoặc khóa luận tốt nghiệp, dù cho nội dung của văn

4 TS Phan Chí Hiếu,ThS Nguyễn Thị Hằng Nga, Giáo trình kỹ năng tư vấn pháp luật, Học viện tư pháp,

Nxb.CAND, Hà Nội, 2012, tr.83

Trang 8

bản có chứa đựng rất nhiều vấn đề quan trọng đi nữa Khách hàng càng không muốn đọc những câu ghép dài, lồng ghép quá nhiều nội dung trong một câu

Giải pháp: Đối với những vụ việc phức tạp, điều này đặt ra yêu cầu đối với

người tư vấn là làm sao trả lời đầy đủ nhất các vấn đề của khách hàng hỏi nhưng văn bản tư vấn phải thật súc tích, gãy gọn Tính súc tích yêu cầu phải diễn đạt sự việc bằng số lượng từ ít nhất chừng có thể, và việc lựa chọn các câu đơn diễn tả sự việc một cách dễ hiểu nên được ưu tiên hàng đầu Người tư vấn cần tránh không nhắc lại hai ba lần cùng một sự việc và đừng nói đến những điều không liên quan đến vấn đề

mà khách hàng đặt ra Tuy nhiên, cũng cần chú ý không lạm dụng quá sự súc tích,

diễn đạt quá ngắn gọn đến độ khách hàng không hiểu được người tư vấn muốn nói gì

Thứ tư, người tư vấn sử dụng các thuật ngữ pháp lý mà khách hàng có thể

không hiểu do không có kiến thức chuyên sâu về pháp luật Chẳng hạn, dùng những khái niệm như “công pháp quốc tế” hay “tư pháp quốc tế” với khách hàng trong phần trình bày sẽ chỉ làm họ khó hiểu và đôi khi khó chịu vì có cảm giác người tư vấn đang

“khoe chữ”

Giải pháp: Người tư vấn luôn luôn phải ghi nhớ rằng văn bản tư vấn soạn ra để

cho khách hàng đọc và hiểu, nên cái đích cuối cùng vẫn là để khách hàng hiểu mình được làm gì, nên làm gì, không được làm gì Đối với từng loại khách hàng khác nhau, mức độ hiểu biết về pháp luật và các khái niệm pháp lý khác nhau thì người tư vấn sẽ phải có cách diễn đạt khác nhau Những khái niệm trừu tượng khi bắt buộc phải nhắc đến thì người tư vấn nên có chú thích giải thích cụ thể Không nhất thiết là người tư vấn phải đưa ra một giờ học về kiến thức pháp luật mà chỉ cần đưa ra những thông tin

đủ để cho vấn đề sáng tỏ

Thứ năm, người tư vấn quá chú trọng kỹ thuật khi trình bày làm cho văn bản tư

vấn trở nên khô khan Sự logic chuẩn mực quá đà cũng có thể dẫn đến sự máy móc trong cách trình bày và khiến khách hàng cảm thấy nhàm chán, khó hiểu khi đọc văn bản tư vấn

Giải pháp: Người tư vấn có thể cân nhắc sử dụng bảng biểu, sơ đồ thay cho

diễn đạt thuần túy để khách hàng dễ theo dõi và hình dung về vấn Bên cạnh đó, ười

tư vấn cũng cần lựa chọn ngôn từ phù hợp với tính chất của văn bản Ví dụ, các văn

Trang 9

bản tư vấn qua email có thể có cách hành văn đơn giản và ít trang trọng hơn cách hành văn trong ý kiến tư vấn chính thức của tổ chức hành nghề tư vấn

Thứ sáu, người tư vấn không nhấn mạnh những điểm quan trọng trong văn bản

tư vấn Đây là vấn đề nhiều người tư vấn dễ xem nhẹ và bỏ qua, mặc dù việc nhấn mạnh ở các nội dung quan trọng giúp cho khách hàng nắm bắt vấn đề, ghi nhớ và làm theo các hướng dẫn dễ dàng, chính xác hơn

Giải pháp: Bằng cách gạch chân, in đậm, chú thích thêm, nhắc lại nhiều lần, v.v,

người tư vấn đã có thể nhấn mạnh các nội dung quan trọng với khách hàng

3 Sai sót trong giai đoạn kiểm tra văn bản tư vấn và giải pháp khắc phục

Thứ nhất, văn bản tư vấn không có sự logic giữa các phần Sai sót thường xảy

ra khi người tư vấn chỉ chú trọng kiểm tra về hình thức văn bản, sơ sài trong bước kiểm tra về nội dung Trong một vụ việc có nhiều vấn đề lớn, nhỏ lồng ghép vào nhau, đôi khi việc người tư vấn quá tập trung, tư duy sâu nhằm phân tích, làm rõ từng vấn đề lại vô tình khiến cho tổng thể các vấn đề không thống nhất, thiếu logic

Giải pháp: Nếu điều kiện cho phép, người tư vấn có thể dành một khoảng thời

gian yên tĩnh trước khi đọc lại văn bản soạn thảo nhằm giúp cho đầu óc minh mẫn hơn Người tư vấn nên in bản nháp để đọc lại thay vì đọc trên máy tính Văn bản khi được in ra giúp người tư vấn dễ dàng đối chiếu nội dung giữa các trang, các mục, dễ

phát hiện những điểm mâu thuẫn

Thứ hai, người tư vấn chỉ dựa vào các chương trình máy tính để kiểm tra chính

tả của văn bản soạn thảo Điều này dẫn đến nguy cơ có sai sót rất lớn vì các chương trình thường không chính xác hoàn toàn và khá máy móc Hơn hết, tiếng Việt là ngôn ngữ có cách sử dụng biến hóa đa dạng, phong phú

Ví dụ như “giành” và “dành” là những từ có cách đọc khá giống nhau, nhưng cách dùng lại khác nhau "Dành" ở đây tức là cất giữ một thứ gì đó, để dùng sau hoặc

để "dành"cho ai đó (“dành cho con”, “tài sản để dành”) Còn “giành” là một động từ

để chỉ hành động đạt được một thứ gì đó vốn không thuộc sỡ hữu của bản thân, và thông thường là những thứ chẳng dễ dàng có được, muốn có được phải bỏ ra công sức, nỗ lực (“tranh giành”, “giành giật”) Với lỗi chính tả “tài sản để giành” thì máy tính sẽ không thể phát hiện được

Trang 10

Việc tồn tại những lỗi chính tả tương tự như trên dễ gây cảm giác khó chịu cho người đọc, đặc biệt là những người mắc Hội chứng Grammar Pedantry Syndrome (GPS)5, tạm dịch là "Hội chứng quá để tâm đến lỗi ngữ pháp" Những lỗi chính tả cũng khiến cho văn bản tư vấn trở nên thiếu chuyên nghiệp, khiến khách hàng cảm thấy người tư vấn thiếu tôn trọng họ

Giải pháp: Người tư vấn nên tự đọc lại văn bản do mình soạn thảo để kiểm tra

lỗi chính tả, nên đọc lại văn bản ít nhất hai lần trước khi gửi cho khách hàng Một lần

để kiểm tra về lôgic và một lần để kiểm tra lỗi chính tả hoặc trình bày Các dẫn chiếu hoặc chú thích được đề cập trong văn bản cũng cần được kiểm tra để tránh sai sót và nhầm lẫn

III Tình huống thực tế minh họa

1 Tình huống 1

Tháng 6 năm 2018, Bà A mất, để lại di sản thừa kế gồm: 1 ngôi nhà trên thửa đất

X, có tờ bản đồ số Y trị giá 18 tỷ đồng và 25 tỷ đồng tiền mặt gửi tại ngân hàng Bà

A có 1 mẹ già, chồng bà A là ông T và 9 người con của bà A với ông T là: Hồng, Hạnh, Liên, Nguyệt, Hoa, Đức, Phúc, Việt, Lâm Tháng 8 năm 2018, Lâm qua đời vì tai nạn giao thông nhưng Lâm có 2 con là H và K Nguyệt và Hoa từ chối hưởng di sản thừa kế Bà A không lập di chúc

Ngoài ra, bà A có 2 người con riêng với ông M là Nga và Khang Khang đi du học

từ nhỏ và trở về nước khi bà A mất Khang đến nhờ luật sư B tư vấn về việc phân chia

di sản thừa kế của mẹ mình là bà A

Sau đó, B đã soạn một văn bản tư vấn gửi cho Khang Văn bản này đề cập đến vấn đề nhân thân và mối quan hệ của rất nhiều người B đã liệt kê một cách rất máy móc tên từng người, quan hệ với bà A kèm theo các phân tích rất chi tiết của mình Khang đọc văn bản và cảm thấy vô cùng khó hiểu

Phân tích & Giải pháp:

Trong tình huống này, B đã mắc phải sai sót là soạn thảo văn bản máy móc, khô khan Một vụ việc liên quan đến quan hệ nhân thân của nhiều người và nhiều hàng thừa kế như vậy, B nên trình bày bằng cách sơ đồ hóa theo từng hàng thừa kế để khách

5 GPS là một dạng của chứng "Rối loạn ám ảnh cưỡng chế" (Obsessive compilsive disorder - OCD) Xem thêm tại: http://hoitamlyhocvietnam.vn/hoi-chung-grammar-pedantry-syndrome-3343.html, truy cập ngày 21/3/2020

Ngày đăng: 10/12/2022, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w