Điều này thể hiện cụ thể trong các quy định của BLTTHS về bắt người bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang ho
Trang 1PGS.TS Hoµng ThÞ Minh S¬n *
uyền con người là thước đo quan trọng
và được thể hiện trên nhiều lĩnh vực,
trong đó có lĩnh vực chính trị, lĩnh vực pháp
lí Làm cho quyền con người trở thành hiện
thực là quá trình mang lại tiến bộ cho xã hội
Trong tố tụng hình sự, việc bảo vệ quyền con
người được xuyên suốt trong các giai đoạn của
quá trình giải quyết vụ án Quyền con người
trong tố tụng hình sự đặc biệt là đối với người
bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam là vấn đề
nhạy cảm và phức tạp, nó không chỉ dừng lại
ở vấn đề lí luận mà còn là vấn đề thực tiễn
của khoa học pháp luật tố tụng hình sự
Quyền con người của người bị bắt, người
bị tạm giữ, người bị tạm giam trong tố tụng
hình sự được thể hiện cụ thể trong các quyền
và nghĩa vụ tố tụng của họ được pháp luật tố
tụng hình sự ghi nhận và đảm bảo thực hiện
Trong tố tụng hình sự, người bị bắt,
người bị tạm giữ, tạm giam tuy họ là đối
tượng bị buộc tội hoặc nghi là có tội nhưng
chưa phải là người có tội Điều này thể hiện
cụ thể trong các quy định của BLTTHS về
bắt người (bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt
người trong trường hợp khẩn cấp và bắt
người trong trường hợp phạm tội quả tang
hoặc đang bị truy nã) và tạm giữ, tạm giam
Bắt người, tạm giữ, tam giam là những
biện pháp ngăn chặn động chạm trực tiếp
đến các quyền cơ bản của công dân được
Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thực hiện:
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam giữ phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hành
vi truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.(1)
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, BLTTHS đã cụ thể hoá chế định này nhằm bảo đảm tốt hơn nữa quyền con người của người bị bắt và người
bị tạm giữ, người bị tạm giam tại các điều từ
Điều 80 đến Điều 90
Đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, mặc dù đây là trường hợp bắt người có tính chất cấp bách đặc biệt, nếu không bắt ngay thì người bị nghi thực hiện tội phạm sẽ có khả năng bỏ trốn nhưng để bảo đảm cho việc bắt được tiến hành thận trọng, khách quan cũng như bảo vệ quyền của người bị bắt, BLTTHS quy định chỉ được bắt khi thuộc một trong ba trường hợp tại Điều 81: Khi có căn cứ để cho rằng người
đó đang thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận
Q
* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2đúng là người đã thực hiện tội phạm và xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người
hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện
tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay
việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ
Đồng thời, khi bắt vẫn phải có lệnh của
người có thẩm quyền là: Phó thủ trưởng cơ
quan điều tra các cấp; Người chỉ huy quân
đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương,
người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và
biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển
khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn
cấp phải được báo ngay cho viện kiểm sát
cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên
quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được
đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan
đến việc bắt khẩn cấp, viện kiểm sát phải ra
quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê
chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do
ngay cho người bị bắt
Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, trong năm 2008 toàn quốc
có 17.791 người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp; viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt
khẩn cấp là 93 trường hợp Trong năm 2009
toàn quốc có 16.347 người; viện kiểm sát
không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 44
trường hợp Đặc biệt trong năm 2009 vẫn
còn 405 trường hợp bắt khẩn cấp phải trả tự
do Những trường hợp viện kiểm sát không
phê chuẩn đều đã được cơ quan điều tra trả
tự do cho người bị bắt
Qua nghiên cứu quy định của BLTTHS
về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp
và thực tiễn áp dụng chúng tôi thấy trong trường hợp người bị bắt khẩn cấp do người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển
đã rời khỏi sân bay, bến cảng ra lệnh, việc bắt không thể được báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn Khác với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang bị bắt khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì không cần có lệnh bắt của cơ quan có thẩm quyền và bất cứ ai cũng có quyền bắt rồi giải ngay đến
cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc uỷ ban nhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền
Trong năm 2008 toàn quốc có 36.597 người
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và 3.855 người bi bắt theo lệnh truy nã Năm
2009 có 32.838 người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và 3.831 người bị bắt theo lệnh truy nã Trong đó có địa phương đạt tỉ lệ khởi tố 100% như Quảng Bình, Thái Nguyên…(2)
Ngoài kết quả trên, trong quá trình thực hiện còn một số bất cập BLTTHS năm 2003 quy định chung việc bắt người phạm tội quả tang và việc bắt người đang bị truy nã trong cùng một điều luật là không phù hợp, vì đối tượng và thủ tục áp dụng, những việc cần làm sau khi tiếp nhận người bị bắt trong hai trường hợp này không giống nhau Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang là người chưa bị khởi tố về hình sự, tức họ chưa phải là bị can, bị cáo còn người đang bị truy nã là người có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị
Trang 3tạm giữ, tạm giam hay đang chấp hành hình
phạt tù thì bỏ trốn mà cơ quan có thẩm
quyền đã ra quyết định truy nã Mặt khác đối
với người bị bắt trong trường hợp phạm tội
quả tang, sau khi bị bắt họ có thể bị tạm giữ
hoặc không bị tạm giữ theo Điều 86
BLTTHS Còn đối với người bị bắt theo lệnh
truy nã thì sau khi bị bắt, cơ quan điều tra có
thẩm quyền phải áp dụng biện pháp tạm giữ
hoặc tạm giam đối với họ.(3)
Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS thì
những người có quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp như đã phân tích ở trên
và chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có
quyền ra quyết định tạm giữ Để bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm
giữ, người thi hành quyết định tạm giữ phải
giải thích để người bị tạm giữ biết lí do mình
bị tạm giữ; được giải thích về quyền và nghĩa
vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật,
yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, hành vi tố
tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi
ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ
phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp
Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ
hoặc không cần thiết thì viện kiểm sát ra
quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và
người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do
ngay cho người bị tạm giữ Quyết định tạm
giữ ghi rõ lí do tạm giữ, ngày hết hạn tạm
giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản
Thời hạn tạm giữ không quá ba ngày kể
từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt
Trong trường hợp cần thiết người ra quyết
định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng
không quá ba ngày Trong trường hợp đặc
biệt người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Trong khi tạm giữ nếu không đủ căn
cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người
bị tạm giữ Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam
Trong năm 2008 toàn quốc có 62.446 người bị bắt tạm giữ, so với cùng kì năm
2007 tăng 17,09% (62.446/53.331), 105 trường hợp viện kiểm sát không gia hạn tạm giữ Năm 2009 toàn quốc có 59.496 người bị bắt tạm giữ, so với cùng kì năm 2008 giảm 4,95% (59.496/62.446), 123 trường hợp Viện kiểm sát không gia hạn tạm giữ.(4)
Ngoài ra, trong năm 2008, trong số những người bị tạm giữ trong toàn quốc có 389 trường hợp viện kiểm sát quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ theo khoản 3 Điều 86 BLTTHS; 1.050 trường hợp cơ quan bắt giữ trả tự do, không xử lí hành chính (trong đó có 193 người bị bắt khẩn cấp sau phải trả tự do vì không đủ căn cứ); 1300 trường hợp trả tự do chuyển xử lí hành chính; 175 trường hợp bắt khẩn cấp sau chuyển thành xử lí hành chính;
4 trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp sau phải trả tự do vì không
đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự; 88 trường hợp quá hạn tạm giữ Trong năm 2009, trong
số những người bị tạm giữ đã được giải quyết trong toàn quốc có 2.722 trường hợp cơ quan bắt giữ trả tự do, trong đó 329 trường hợp
Trang 4Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ lệnh tạm
giữ theo khoản 3 Điều 86 BLTTHS; 129
trường hợp trả tự do khi viện kiểm sát không
phê chuẩn quyết định tạm giữ
Mặc dù BLTTHS đã quy định tương đối
đầy đủ nhưng trong thực tiễn thực hiện những
quy định về tạm giữ còn một số bất cập sau:
+ Về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLTTHS
thì chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có
quyền quyết định việc tạm giữ nhưng họ lại
không có quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp Mặt khác BLTTHS
quy định tạm giữ được áp dụng đối với người
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và tất cả
những người có quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp đều có quyền ra lệnh
tạm giữ Vậy chỉ huy trưởng vùng cảnh sát
biển có quyền quyết định việc tạm giữ trong
trường hợp nào? Điều này vẫn chưa được
giải thích một cách cụ thể
+ Về thời hạn tạm giữ: Theo quy định tại
khoản 1 Điều 87 BLTTHS thì, thời hạn tạm giữ
được tính từ khi cơ quan điều tra nhận người
bị bắt Tuy nhiên đối tượng tạm giữ được quy
định tại khoản 1 Điều 86 lại bao gồm cả
trường hợp người phạm tội tự thú hoặc đầu
thú Điều đó có nghĩa là họ không phải là
người bị bắt Do vậy, thời hạn tạm giữ quy
định như trên là chưa hoàn toàn chính xác
Theo quy định tại khoản 4 Điều 87 thì
thời hạn tạm giữ được tính vào thời hạn tạm
giam Tuy nhiên đối với người bị tạm giữ, không
bị tạm giam nhưng lại bị toà án tuyên phạt tù
giam thì luật chưa đề cập Điều này cũng ảnh
hưởng đến quyền lợi của người bị tạm giữ
+ Về căn cứ để gia hạn tạm giữ: BLTTHS
mới chỉ dừng lại ở việc quy định: Người ra
quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ trong trường hợp cần thiết nhưng không quá
ba ngày và trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai BLTTHS chưa quy định rõ trường hợp nào được coi là cần thiết và trường hợp nào được coi là đặc biệt nên thực tiễn áp dụng còn có nhiều cách hiểu
và áp dụng khác nhau ảnh hưởng không ít đến quyền tự do của người bị tạm giữ
Đối với người bị bắt để tạm giam, mặc
dù BLTTHS không quy định căn cứ cụ thể
để bắt bị can, bị cáo để tạm giam nhưng trong thực tế bị can, bị cáo thường bị bắt để tạm giam khi có căn cứ để tạm giam là: 1) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng; 2) Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp, khi
có căn cứ nêu trên thì bị can, bị cáo đều bị bắt để tạm giam mà BLTTHS quy định cơ quan có thẩm quyền có thể bắt chứ không bắt buộc phải bắt để tạm giam
Để bảo đảm việc bắt chỉ có căn cứ khi pháp luật quy định và bắt đúng người cần bắt, BLTTHS quy định những người sau đây có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Viện trưởng, phó viện trưởng VKSND
và VKSQS các cấp; chánh án, phó chánh án TAND và TAQS các cấp; thẩm phán giữ chức vụ chánh toà, phó chánh toà phúc thẩm TANDTC; hội đồng xét xử; thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp Trong trường hợp thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra lệnh thì phải được viện kiểm
Trang 5sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành
Khi bị bắt, bị can, bị cáo có quyền yêu
cầu người thi hành lệnh bắt đọc lệnh, giải
thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị
bắt và lập biên bản về việc bắt Trong lệnh
phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ
của người ra lệnh, họ tên, địa chỉ của người
bị bắt và lí do bắt Lệnh bắt phải có chữ kí
của người ra lệnh và có đóng dấu Nếu lệnh
bắt không có chữ kí của người có thẩm
quyền hay không có sự phê chuẩn của viện
kiểm sát thì người bị bắt không có nghĩa vụ
phải chấp hành Trường hợp bị can, bị cáo bị
bắt tại nơi cư trú phải có đại diện của chính
quyền xã, phường, thị trấn và người láng
giềng của người bị bắt chứng kiến Nếu bị
can, bị cáo bị bắt tại nơi làm việc thì phải có
đại diện cơ quan, tổ chức người đó làm việc
chứng kiến Nếu bị can, bị cáo bị bắt ở nơi
khác thì phải có đại diện chính quyền nơi
tiến hành bắt chứng kiến Không được bắt bị
can, bị cáo vào ban đêm.(5)
Người bị tạm giam theo quy định của
BLTTHS chỉ có thể là bị can, bị cáo Điều
72 Hiến pháp năm 1992 và Điều 9 BLTTHS
quy định không ai có thể bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật Theo
đó, chừng nào chưa có bản án kết tội của toà
án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị tạm
giam vẫn được coi là người chưa có tội Do
vậy, trong thời gian bị tạm giam họ không
được đối xử như người có tội Điều này còn
thể hiện ở quy định chế độ tạm giam khác
với chế độ chấp hành hình phạt tù.(6)
Quy định này thể hiện việc tôn trọng quyền con
người của pháp luật ngay cả khi họ là người
bị buộc tội Việc tôn trọng này không ảnh
hưởng đến việc điều tra, khám phá tội phạm Thể hiện chính sách nhân đạo, pháp luật
tố tụng hình sự quy định đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người
bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.(7) Ngoài ra, BLTTHS còn quy định những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với người thân thích và tài sản của người bị tạm giam cũng như tạm giữ tại Điều 90 BLTTHS Khi người bị tạm giữ, tạm giam
có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho người thân thích chăm nom Nếu họ không có người thân thích thì giao cho chính quyền sở tại chăm nom Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam phải áp dụng những biện pháp trông nom, bảo quản thích đáng Cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết về việc này
Theo quy chế tạm giam thì một tháng không quá hai lần người bị tạm giam được nhận quà và đồ dùng sinh hoạt của thân nhân gửi đến theo quy định Trong thời gian bị giam, người bị tạm giam được sử dụng quần
áo, chăn, chiếu, màn của cá nhân Nếu thiếu thì trại tạm giam cho mượn theo tiêu chuẩn Người bị tạm giam là nữ thì được cấp thêm một số tiền để mua những đồ dùng cần thiết cho vệ sinh phụ nữ
Người bị tạm giam ốm đau, bệnh tật,
Trang 6thương tích được cán bộ y tế của trại tạm
giam khám và điều trị Trường hợp người bị
tạm giam ốm đau, bệnh tật, thương tích nặng
vượt quá khả năng khám và điều trị của án bộ
y tế trại tạm giam thì giám thị trại tạm giam
thông báo cho cơ quan đang thụ lí vụ án, đồng
thời làm các thủ tục chuyển họ đến cơ sở y tế ở
ngoài để điều trị và tổ chức canh giữ họ
Trường hợp người bị tạm giam bị nghi
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình thì giám thị trại tạm
giam phải yêu cầu cơ quan đang thụ lí vụ án
trưng cầu giám định pháp y tâm thần Khi có
quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan
đang thụ lí vụ án phối hợp với trại tạm giam
đưa người bị tạm giam đến cơ sở chữa bệnh
nêu trong quyết định
Trong thời gian bị tạm giam, người bị tạm
giam được cấp báo theo quy định (cứ 20
người tạm giam thì được cấp một số báo
Nhân dân hoặc báo địa phương) Giám thị trại
tạm giam tổ chức cho người bị tạm giam nghe
Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, đài phát
thanh hoặc truyền thanh địa phương, đọc báo
Nhân dân hoặc báo địa phương Ngoài ra, họ
còn có thể được xem truyền hình Nếu người
bị tạm giam là người nước ngoài thì được
nhận báo bằng tiếng nước họ mang quốc tịch
khi được cơ quan thụ lí cho phép Người bị
tạm giam có quyền khiếu nại, tố cáo việc
tạm giam trái pháp luật Người bị tạm giam
đã hoàn cung chờ xét xử mà chấp hành tốt
nội quy trại tạm giam có thể được xét tăng
gấp đôi số lần gặp gỡ thân nhân và tăng gấp
đôi số lần được gửi thư, nhận thư, nhận quà
Theo thống kê, năm 2005 toàn quốc có
92.368 người bị tạm giam Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 327 trường hợp và không phê chuẩn lệnh tạm giam 329 trường hợp Năm 2006 toàn quốc
có 105.094 người bị tạm giam So với cùng kì năm 2005 tăng 1,14% (105.094/92.368) Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam
394 trường hợp và không phê chuẩn lệnh tạm giam 350 trường hợp Năm 2007 toàn quốc có 107.999 người bị tạm giam So với cùng kì năm
2006 tăng 1,03% (107.999/105.094) Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam
239 trường hợp và không phê chuẩn lệnh tạm giam 341 trường hợp Năm 2008 toàn quốc
có 110.939 người bị tạm giam So với cùng
kì năm 2007 tăng 2,72% (110.939/107.999) Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 298 trường hợp và không phê chuẩn lệnh tạm giam 334 trường hợp Năm 2009 toàn quốc có 135.012 người bị tạm giam So với cùng kì năm 2008 tăng 21,6% (135.012/110.939) Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 178 trường hợp và không phê chuẩn tạm lệnh giam 190 trường hợp Nhìn chung việc phê chuẩn tạm giam của viện kiểm sát
là có căn cứ và đúng pháp luật Những trường hợp viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam, lệnh tạm giam đều đảm bảo có căn cứ và thận trọng Việc thực hiện chế độ ăn, mặc, ở và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giam trong thời gian qua được đảm bảo theo quy định của pháp luật Trên cơ sở tìm hiểu những quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với người bị bắt để tạm giam cũng như thực tiễn thực
hiện cho thấy:
+ Nhiều quy định của pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ quyền của người bị bắt,
Trang 7người bị tạm giam khó thực hiện có hiệu quả
Nguyên nhân trước hết vẫn là các quy định
của pháp luật chưa đồng bộ, chưa cụ thể rõ
ràng, chưa đầy đủ như khoản 2 Điều 88
BLTTHS quy định: “ người già yếu,… mà
có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà
áp dụng biện pháp ngăn chặn khác trừ
trường hợp luật quy định” nhưng không có
giải thích lứa tuổi nào là già yếu, do vậy,
trong thực tiễn thường bị phủ nhận bởi ý chí
chủ quan của người tiến hành tố tụng
BLTTHS không quy định căn cứ cụ thể bắt
bị can, bị cáo để tạm giam nên việc bắt thường
dựa vào căn cứ tạm giam dẫn đến việc áp
dụng pháp luật không thống nhất
+ Mặc dù xu thế hiện nay là giảm thiểu
việc tạm giam và BLTTHS cũng chỉ quy
định có thể tạm giam chứ không bắt buộc
phải tạm giam nhưng trong thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử hầu hết những người
phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng đều bị tạm giam
+ Tình trạng bị tạm giam dài hơn thời
gian phạt tù mà toà án đã tuyên hiện nay vẫn
còn xảy ra trong thực tiễn nhưng pháp luật
chưa quy định vấn đề giải quyết bồi thường
đối với người bị tạm giam trong trường hợp
này Theo Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước thì đây không phải là trường hợp
người bị tạm giam được đòi bồi thường.(8)
Vấn đề này hiện nay còn nhiều ý kiến khác
nhau nhưng chúng tôi đồng ý với quan điểm
cho rằng trường hợp này cơ quan tiến hành
tố tụng phải xem xét bồi thường như đối với
người bị oan Việc một người bị tạm giam
với thời gian dài hơn thời hạn mà bản án đã
tuyên hình phạt tù đối với họ là trái pháp
luật Do bị tạm giam trái pháp luật nên quyền và lợi ích hợp pháp của họ khó tránh khỏi bị ảnh hưởng Do vậy, những người này phải có quyền yêu cầu các cơ quan tiến hành
tố tụng bồi thường thiệt hại.(9)
+ Tình trạng người bị tạm giam chết hoặc
tự tử trong nhà tạm giam đôi khi còn xảy ra ở một số trại tạm giam Tình trạng giam giữ quá tải vẫn chưa được khắc phục Một số trại giam vượt quá quy mô giam giữ, do đó chỗ nằm tối thiểu của người bị tạm giam không đảm bảo Việc cấp phát các đồ dùng sinh hoạt thiết yếu ở một số nơi còn thiếu (10)
Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh cải cách tư pháp và trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay Để bảo đảm tốt hơn nữa quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ và người bị tạm giam trong tố tụng hình sự, trước hết cần phải hoàn thiện một số quy định liên quan như đã phân tích ở trên, cụ thể như sau:
- Bổ sung khoản 2 Điều 81 BLTTHS theo hướng chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp để phù hợp với thẩm quyền ra lệnh tạm giữ quy định tại Điều 86 BLTTHS Theo đó, khoản 2 Điều 81 sẽ là: Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
a) Giữ nguyên b) Giữ nguyên c) Giữ nguyên d) Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển
- Sửa đổi khoản 4 Điều 81 BLTTHS theo hướng trong trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển ra lệnh bắt khẩn cấp khi tàu bay,
Trang 8tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì
thông báo cho viện kiểm sát để xét phê chuẩn
chứ không phải thông bảo bằng văn bản cùng
tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp Theo
đó khoản 4 Điều 81 BLTTHS sẽ là: Việc bắt
khẩn cấp phải được báo ngay cho viện kiểm
sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu
liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn
Người chỉ huy tàu bay, tàu biển phải thông
báo ngay cho viện kiểm sát để xét phê chuẩn
(Xem tiếp trang 68)
(1) Điều 71 Hiến pháp năm 1992
(2) Báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát nhân
dân năm 2008, 2009
(3) TS Trần Quang Thông, ThS Trần Thảo, Một số vấn
đề hoàn thiện biện pháp ngăn chặn bắt người trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam, Nguồn: http://www.pup edu
vn/dien-dan-phap-luat/tim-hieu-phap-luat/mot-so-van-
de-hoan-thien-bien-phap-ngan-chan-bat-nguoi-trong-luat-to-tung-hinh-su-vn
(4) Báo cáo tổng kết công tác việc tạm giữ, tạm giam
quản lí và giáo dục người chấp hành hình phạt tù năm
2008 và 2009 của Vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản
lí giáo dục người chấp hành hình phạt tù - VKSNDTC
(5).Xem: Điều 80 BLTTHS
(6).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình
luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2006, tr 47
(7) Trường hợp bị can, bị cáo là đối tượng nêu trên
nhưng bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can, bị
cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng
tiếp tục phạm tội hoặc cố ý cản trở nghiêm trọng đến
việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo phạm tội
xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng
nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại
đến an ninh quốc gia vẫn bị tạm giam
(8) Theo Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước (có hiệu lực từ ngày 1/1/2010), phạm vi
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố
tụng hình sự gồm 6 trường hợp:
- Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ
quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật;
- Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội
- Người bị k hởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Người bị k hởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người
đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
- Người bị k hởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã
bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;
- Người bị xét xử bằng nhiều bản án, toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động
tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành
(9) Báo Đất Việt, số ra ngày 27/10/2009, Ở tù lố có được đòi bồi thường?
(10) Báo cáo tổng kết công tác việc tạm giữ, tạm giam quản lí và giáo dục người chấp hành hình phạt
tù năm 2009 của Vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản
Trang 9
lí giáo dục người chấp hành hình phạt tù - VKSNDTC