Theo kết quả nghiên cứu của công trình này thì tội phạm hình sự các tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội ẩn chiếm 30%; tội phạm tham nhũng ẩn chiếm 80%; tội phạm về kinh tế ẩn chiếm 90%;
Trang 1ThS Lý V¨n QuyÒn *
ình hình tội phạm do nữ giới thực hiện
là hiện tượng xã hội được thể hiện ở sự
tổng hợp những tội phạm do nữ giới thực
hiện trong đơn vị không gian và thời gian
nhất định Mỗi tội phạm do nữ giới thực hiện
xảy ra một cách ngẫu nhiên nhưng các tội
phạm do nữ giới thực hiện trong sự tổng hợp
sẽ tạo thành “hiện tượng xã hội tiêu cực” với
những đặc điểm đặc trưng sau:
1 Ở mức độ tổng quan, số lượng nữ giới
phạm tội là tổng số phụ nữ phạm tội đã được
các cơ quan chức năng xử lí hình sự và được
thống kê Theo số liệu thống kê của Toà án
nhân dân tối cao (TANDTC) trong khoảng
thời gian 10 năm, từ năm 2000 đến năm 2009,
toà án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm
trung bình một năm khoảng 78707 bị cáo trong
đó có 6345 bị cáo là nữ (chiếm tỉ lệ 8,06%)
Như vậy, mức độ nữ giới thực hiện tội phạm
thấp hơn nam giới khoảng hơn 10 lần, mặc
dù dân số nữ nhiều hơn nam.(1)
Quy luật nữ giới phạm tội ít hơn nam giới
đã và đang tồn tại cho đến thời điểm hiện nay
Điều này không chỉ đúng ở nước ta mà còn
phổ biến ở hầu hết các nước khác trên thế
giới Theo tài liệu thống kê tội phạm của
Interpol, tỉ lệ nữ giới phạm tội so với tổng số
người phạm tội trong năm 2003 ở các nước
như Myanma chiếm 10,70%; Singapore chiếm
20,90%; Nhật Bản chiếm 20,00%; Australia
chiếm 20,10%; Kuwait chiếm 9,47%; Israel
chiếm 12,90%; Hàn Quốc chiếm 33,84%;
Hồng Kông chiếm 12,30%; Hà Lan chiếm
10,00%; Nga chiếm 16,60%; Đức chiếm 23,60%; Séc chiếm 12,01%; Hy Lạp chiếm 14,00%; Hungary chiếm 14,70%.(2)
Số liệu thống kê trên đây vẫn chưa phản ánh được hết thực trạng của tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện Bởi vì đây mới chỉ là số liệu về tội phạm rõ Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận tội phạm đã xảy ra nhưng chưa bị phát hiện, do đó chưa bị xử lí
về hình sự - tội phạm ẩn Đương nhiên số tội phạm ẩn này sẽ không có trong số liệu thống
kê tội phạm của các cơ quan chức năng Ngoài ra, do phương pháp và tiêu chí thống
kê của các cơ quan chức năng chưa khoa học dẫn đến bỏ lọt số lượng đáng kể những hành
vi phạm tội đã bị xử lí bằng chế tài hình sự (sai số thống kê)
Việc xác định số lượng tội phạm ẩn nói chung và tội phạm ẩn là nữ giới là rất khó Trong tội phạm học chỉ có thể sử dụng các phương pháp khoa học để xác định số liệu tương đối về tội phạm ẩn có độ sai số cho phép nhằm đánh giá tương đối chính xác thực trạng của tình hình tội phạm Ở nước ta
đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu
về tội phạm ẩn được công bố; trong đó đáng chú ý là công trình khoa học: Dự báo tình hình tội phạm và đề xuất các giải pháp phòng chống tội phạm đến 2005 và 2010 của Viện nghiên cứu chiến lược và khoa học
T
* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Công an (2002) Đây là công trình nghiên
cứu đầy đủ về tội phạm ẩn theo hầu hết
nhóm tội phạm Theo kết quả nghiên cứu của
công trình này thì tội phạm hình sự (các tội
xâm phạm trật tự an toàn xã hội) ẩn chiếm
30%; tội phạm tham nhũng ẩn chiếm 80%;
tội phạm về kinh tế ẩn chiếm 90%; tội phạm
về ma tuý ẩn chiếm 30%.(3)
Dựa vào kết quả này chúng ta có thể xác định được số lượng
tội phạm ẩn do nữ giới thực hiện Ví dụ, tội
phạm rõ về ma tuý là 13423 người phạm tội
nữ chiếm 70%; tội phạm ẩn về ma tuý chiếm
30% là 5752 người phạm tội nữ; tổng số có
19175 người phạm tội về ma tuý là nữ giới
2 Phân tích diễn biến của tình hình tội
phạm do nữ giới thực hiện cho phép xác định
được quy luật biến động của tội phạm trong
khoảng thời gian nghiên cứu Trên cơ sở nhận
thức đúng quy luật biến động tội phạm do nữ
giới thực hiện trong khoảng thời gian nhất
định và mối quan hệ tác động qua lại giữa tội
phạm với các hiện tượng, quá trình xã hội
khác, có thể dự báo xu hướng vận động của
tội phạm do nữ giới thực hiện trong những
năm tiếp theo Nếu lấy năm 2000 làm kì gốc
cố định là 100% để so sánh thì diễn biến của
người phạm tội nữ trong những năm sau so
với năm 2000 có sự tăng giảm Nhưng nhìn
chung có thể nhận thấy xu hướng gia tăng:
Năm 2001 giảm 3,99%; năm 2002 tăng 4,32%;
năm 2003 tăng 21,82%; năm 2004 tăng
25,75%; năm 2005 tăng 15,08%; năm 2006
tăng 19,55%; năm 2007 tăng 34,63%; năm
2008 tăng 18,14%; năm 2009 tăng 33,10%
So sánh diễn biến tội phạm do nữ giới thực
hiện ở nước ta với tội phạm do nữ giới thực
hiện ở Cộng hoà liên bang Đức cho thấy tình
hình này cũng tương tự Ở nước Đức năm
1997 có 502529 nữ giới phạm tội bị bắt giữ (100%); năm 2006 có 550049 nữ giới phạm tội bị bắt giữ (109,46%) tăng 47520 người (9,46%); năm 2007 có 554738 nữ giới phạm tội bị bắt giữ (110,39%) tăng 52209 người (10,39%).(4) Như vậy, ở Cộng hoà liên bang Đức trong khoảng 10 năm tội phạm do nữ giới thực hiện tăng 10,39%, trung bình mỗi năm tăng 1%, tức là mức độ gia tăng thấp hơn tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam So sánh diễn biến của tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện với nam giới, nếu lấy năm
2000 là kì gốc cố định là 100% thì đến năm
2009, nữ giới phạm tội tăng 33,10% còn nam giới phạm tội tăng 78,13% Như vậy diễn biến của tình hình tội phạm do nữ giới và nam giới thực hiện ở nước ta hiện nay đều có
xu hướng gia tăng nhưng mức độ tăng của nữ giới phạm tội thấp hơn mức độ tăng của nam giới khoảng 1/2 lần
Về diễn biến của tình hình tội phạm do
nữ giới thực hiện theo nhóm tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam hiện hành cho thấy trong 12 nhóm tội (không kể nhóm Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân) thì nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
có số nữ giới phạm tội tăng nhanh nhất Nếu lấy số nữ giới phạm tội năm 2000 là 100% thì năm 2001 là 105,03%, năm 2002 là 98%, năm 2003 là 127%, năm 2004 là 198%, năm
2005 là 207%, năm 2006 là 231%, năm 2007
là 281%, năm 2008 là 299,72%, năm 2009 là 293% Phân tích diễn biến tội phạm do nữ giới thực hiện cho thấy có 3 nhóm tội phạm
có diễn biến rất phức tạp:
Thứ nhất, các tội xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người:
Trang 3Nếu lấy số lượng nữ giới phạm tội năm 2000
là 100% thì năm 2001 là 80%, năm 2002 là
88%, năm 2003 là 160%, năm 2004 là 75%,
năm 2005 là 68%, năm 2006 là 66%, năm
2007 là 68%, năm 2008 là 55,28%, năm 2009
là 72,20% Như vậy, nhóm tội phạm này có
mức độ nữ giới phạm tội tăng giảm không
đều, năm thấp nhất là 2008 (55,28%) còn
năm cao nhất là 2003 (160%)
Thứ hai, các tội xâm phạm sở hữu: Nếu
lấy số lượng nữ giới phạm tội năm 2000 là
100% thì năm 2001 là 83%, năm 2002 là
101%, năm 2003 là 80%, năm 2004 là
118%, năm 2005 là 78%, năm 2006 là 82%,
năm 2007 là 87%, năm 2008 là 87,47%, năm
2009 là 84,7% Như vậy, nhóm tội phạm này
có mức độ nữ giới phạm tội tăng giảm không
đều, năm thấp nhất là 2003 (80%) còn năm
cao nhất là 2004 (118%)
Thứ ba, các tội phạm về ma tuý: Nếu lấy
số lượng nữ giới phạm tội năm 2000 là 100%
thì năm 2001 là 128%, năm 2002 là 136%,
năm 2003 là 183%, năm 2004 là 117%, năm
2005 là 125%, năm 2006 là 122%, năm 2007
là 136%, năm 2008 là 116,88%, năm 2009 là
119,77% Cũng như hai nhóm tội trên, nhóm
tội phạm này có mức độ nữ giới phạm tội
tăng giảm không đều, năm thấp nhất là năm
2008 (116,88%) còn năm cao nhất là 2002
và 2007 (136%) Nhìn chung nhóm tội này
do nữ giới thực hiện có xu hướng gia tăng
Các nhóm tội phạm khác do nữ giới thực
hiện có mức độ gia tăng không đáng kể là:
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội
xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công
dân; các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia
đình; các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế;
các tội phạm về môi trường; các tội phạm về
chức vụ Các nhóm tội do nữ giới thực hiện
có xu hướng giảm là: Các tội xâm phạm trật
tự quản lí hành chính; các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Đặc biệt có hai nhóm tội là các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, trong thực tiễn không phát hiện và xử lí hình sự trường hợp phạm tội nào là nữ giới
Giải thích sự thay đổi của tội phạm do
nữ giới thực hiện không thể chỉ đơn thuần dựa vào các yếu tố sinh học Bởi vì các yếu
tố sinh học của con người nói chung và của
nữ giới nói riêng về cơ bản là ổn định, ít thay đổi, trong khi tội phạm nói chung và tội phạm
do nữ giới thực hiện nói riêng luôn biến động theo xu hướng tăng, thậm chí tăng nhanh hơn
cả sự gia tăng của dân số Theo chúng tôi diễn biến của tội phạm nữ theo xu hướng tăng là do những tác động tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống như: Sự bất bình đẳng nam nữ; nạn thất nghiệp, thất học; nạn đói nghèo; sự gia tăng các tệ nạn xã hội (mại dâm, nghiện hút ma tuý, cờ bạc, mê tín dị đoan); quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh; quá trình hội nhập quốc tế; quá trình công nghiệp hoá; tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường; quá trình thay đổi vị trí, vai trò của nữ giới trong gia đình và xã hội đặc biệt
là nữ giới được giải phóng khỏi công việc gia đình ngày càng tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và công việc xã hội khác trong khi sự kiểm tra giám sát xã hội đối với nữ giới giảm đi Tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện không chỉ có xu hướng tăng về số lượng mà còn có sự thay đổi về cơ cấu và tính chất của tội phạm
Trang 43 Trước hết chúng ta xem xét cơ cấu của
tình hình tội phạm theo nhóm tội phạm được
quy định trong Phần các tội phạm của BLHS
Việt Nam hiện hành Bảng 1 cho thấy cơ cấu của tình hình tội phạm theo giới tính người phạm tội theo các nhóm tội
Bảng 1 Cơ cấu của tình hình tội phạm phân theo giới tính người phạm tội (5)
% nữ
Tỉ lệ
% nam
Tổng
số
2 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
3 Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân 6,23 93,77 100
5 Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 11,85 88,15 100
6 Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế 11,74 88,26 100
9 Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng 11,32 88,68 100
10 Các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính 7,61 92,39 100
13 Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân 0 100 100 Bảng trên cho thấy có bốn nhóm tội
phạm do nữ giới thực hiện chiếm tỉ trọng cao
(trên 10%) so với nam giới theo thứ tự giảm
dần là: Các tội phạm về ma tuý (12,05%);
các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia
đình (11,85%); các tội xâm phạm trật tự
quản lí kinh tế (11,74%); các tội xâm phạm
an toàn trật tự công cộng (11,32%) Đối với
các nhóm tội khác, nữ giới phạm tội chiếm tỉ
lệ dưới 10% so với nam giới, trong đó có ba
nhóm tội do nữ giới phạm tội chiếm tỉ lệ nhỏ
(dưới 5%) so với nam giới là các tội xâm
phạm hoạt động tư pháp, các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự của con người và các tội xâm phạm sở hữu Đặc biệt trong thực tiễn không có nữ giới phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Theo tội danh, số tội phạm do nữ giới thực hiện có ở rất nhiều tội danh, trong đó tính từ năm 2000 đến năm 2009, có 10 tội phạm nữ giới phạm tội chiếm tỉ lệ cao được sắp xếp theo trật tự giảm dần trong bảng 2 như sau:
Trang 5Bảng 2 Cơ cấu tội phạm do nữ giới thực hiện phân theo tội danh(6)
1 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý 23,70
So sánh cơ cấu tội phạm do nữ giới thực
hiện trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm
2009 so với giai đoạn từ năm 1990 đến năm
1994 cho thấy có sự thay đổi rất lớn về cơ
cấu thực hiện các loại tội Tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma tuý giai đoạn trước chỉ chiếm 2,07%
nay tăng lên 23,70% (chiếm vị trí cao nhất
thay cho vị trí của tội trộm cắp ở giai đoạn
trước) Tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc
gá bạc giai đoạn trước chỉ chiếm 4,91% nay
tăng lên 22,58% Tội trộm cắp tài sản giai
đoạn trước chiếm tỉ lệ cao nhất 16% nay
giảm xuống còn 12,46% Tội chứa mại dâm
và môi giới mại dâm giai đoạn trước chiếm
6,94% nay tăng lên không đáng kể (chiếm
7,03%) Như vậy, tội phạm do nữ giới thực
hiện trong giai đoạn này về cơ cấu tội danh
chiếm tỉ trọng cao chủ yếu là các tội phạm
thuộc về tệ nạn xã hội, tội phạm có liên quan
đến tài sản đặc biệt là các tội phạm được
thực hiện bằng các hành vi mua bán
4 Nghiên cứu các thông số về cơ cấu của tội phạm do nữ giới thực hiện sẽ cho chúng ta đánh giá được tính chất của tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện Theo số liệu thống kê số bị cáo xét xử sơ thẩm tại các toà án của Phòng tổng hợp TANDTC về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý từ năm 2000 đến năm 2009 là 113036 người trong đó có 15038
nữ chiếm tỉ lệ 13,3% Do siêu lợi nhuận thu được từ việc mua bán, vận chuyển các chất
ma tuý đã thu hút nhiều nữ giới tham gia Tính chất, mức độ nguy hiểm do các tội phạm về ma tuý gây ra cho xã hội ngày càng nghiêm trọng Các tội phạm về ma tuý làm gia tăng số người nghiện mới trong xã hội, làm tăng số người bị nhiễm vi rút HIV, AIDS; làm suy đồi đạo đức và suy thoái nòi giống đồng thời chúng còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác
Trang 6Tội phạm do nữ giới thực hiện trong
những năm gần đây chiếm tỉ lệ cao còn phải
kể đến tội chứa mại dâm và môi giới mại
dâm Theo số liệu thống kê số bị cáo xét xử
sơ thẩm từ năm 2000 đến năm 2009, cả nước
đã xét xử về tội chứa mại dâm và môi giới
mại dâm 11643 người trong đó có 4458 nữ
chiếm tỉ lệ 38,29% Qua các vụ án về mại
dâm cho thấy có nhiều phụ nữ tham gia với
vai trò chủ mưu, cầm đầu Thủ đoạn thực hiện
tội phạm của họ là mua chuộc, dụ dỗ các cô
gái mới lớn, chưa có việc làm, hiểu biết còn
hạn chế để lôi kéo họ bán dâm Đối với các
cô gái cứng đầu không chịu bán mình thì họ
không ngại dùng thủ đoạn cho đàn em hoặc
đội ngũ bảo kê đánh đập, ép buộc các nạn
nhân phải thực hiện bán dâm cho khách dưới
vỏ bọc là các tiếp viên trong các nhà hàng,
khách sạn và phải chịu sự quản thúc chặt chẽ
Tội mua bán phụ nữ do nữ giới thực hiện
mặc dù chiếm tỉ lệ không cao trong tổng số
người phạm tội nữ nhưng lại chiếm tỉ lệ cao
trong tổng số người phạm tội này Theo
thống kê, số bị cáo xét xử sơ thẩm tại các toà
án về tội mua bán phụ nữ từ năm 2000 đến
năm 2009 là 1646 người trong đó có 621 nữ
chiếm tỉ lệ 37,73% Thủ đoạn phạm tội này
của nữ giới thường là lừa dối tìm việc làm
với thu nhập cao cho phụ nữ ở các vùng nông
thôn nghèo, có trình độ học vấn thấp, thất
nghiệp, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn để
đưa họ qua biên giới bán cho các chủ chứa
hoặc bọn buôn người ở nước ngoài
Trong nhóm tội xâm phạm sở hữu do nữ
giới thực hiện thì tội trộm cắp tài sản có số
lượng nhiều nhất Theo thống kê, số bị cáo xét
xử sơ thẩm tại các toà án về tội trộm cắp tài
sản từ năm 2000 đến năm 2009 là 204007
người trong đó có 7909 nữ chiếm tỉ lệ 3,88%
Nữ giới phạm tội trộm cắp thường mang tính
cơ hội, lợi dụng sơ hở của người chủ tài sản trong quản lí, sử dụng và bảo vệ tài sản để chiếm đoạt tài sản
Các tội phạm bạo lực không đặc trưng cho nữ giới Trong nhóm tội này thì tỉ lệ nữ giới phạm tội ít hơn nhiều so với nam giới Số liệu thống kê bị cáo xét xử sơ thẩm về tội giết người và tội giết con mới đẻ từ năm 2000 đến năm 2009 cho thấy số bị cáo nữ là 965 người
và chỉ chiếm tỉ lệ 4,57% Số nữ giới thực hiện tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác từ năm 2000 đến năm 2009 là 2727 người chiếm tỉ lệ 3,91% trong tổng số bị cáo bị xét xử về tội phạm này Các tội phạm bạo lực do nữ giới thực hiện thường xảy ra trong gia đình hoặc trong sinh hoạt hàng ngày Động cơ phạm tội chủ yếu là do mâu thuẫn, thù tức và ghen tuông và nạn nhân của các tội phạm này thường là người chồng, người hàng xóm hoặc người ruột thịt Do đặc điểm giới tính trong các tội phạm bạo lực, nữ giới ít
sử dụng vũ khí, hung khí tấn công trực diện
mà thường dùng thuốc độc để giết người, sử dụng axit để gây thương tích hoặc thuê người giết, gây thương tích cho người khác
Một đặc điểm của tội phạm do nữ giới thực hiện là thường một mình thực hiện tội phạm Tuy nhiên, trong những năm gần đây
nữ giới có xu hướng tham gia đồng phạm nhiều hơn và tỉ lệ phạm tội có tổ chức tăng rất nhanh Đặc biệt là đã xuất hiện những băng nhóm tội phạm do nữ giới cầm đầu Đặc điểm đặc trưng của tội phạm do nữ giới thực hiện
là gắn liền với nghề nghiệp của họ để phạm tội Trong các tội phạm chức vụ do nữ giới thực hiện thì tỉ lệ nữ giới phạm tội ít hơn nhiều so với nam giới Số liệu thống kê bị cáo xét xử sơ thẩm về các tội phạm chức vụ
Trang 7từ năm 2000 đến năm 2009 cho thấy số bị
cáo nữ là 657 người chiếm tỉ lệ 9,29% trong
tổng số bị cáo bị xét xử về các tội phạm này
và tội tham ô tài sản là phổ biến nhất Trong
các vụ án này nữ giới chủ yếu là kế toán, thủ
quỹ dùng thủ đoạn sửa chữa giấy tờ, sổ sách,
lập chứng từ khống, thông đồng quyết toán
sai hoặc lợi dụng sơ hở của pháp luật, của
công tác quản lí để chiếm đoạt tài sản của
Nhà nước gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Về địa điểm xảy ra tội phạm, theo số liệu
của Cục thống kê Viện kiểm sát nhân dân tối
cao cho thấy nữ giới thực hiện tội phạm chủ
yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ
14,28%, Hà Nội chiếm tỉ lệ 8,77% (chưa tính
tỉnh Hà Tây cũ), Hải Phòng chiếm tỉ lệ 2,42%
và ở một số tỉnh khác ví dụ như Tây Ninh
chiếm tỉ lệ 3,98%, Quảng Ninh chiếm tỉ lệ
3,17%, Kiên Giang chiếm tỉ lệ 2,75%, Nghệ
An chiếm tỉ lệ 2,53%, Đồng Nai chiếm tỉ lệ
2,50%, Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm tỉ lệ 2,18%,
Sơn La chiếm tỉ lệ 2,18% Nữ giới thực hiện
tội phạm chủ yếu ở các thành phố lớn theo
chúng tôi là do thành phố có nhiều yếu tố
thuận lợi cho tội phạm, như có nhiều khách
sạn nhà hàng, có nhiều siêu thị, có nhiều tài
sản Những tỉnh khác nêu trên tuy không có
nhiều tài sản như thành phố lớn nhưng lại có vị
trí địa lí là có đường biên giới biển hoặc đất
liền giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia,
thuận lợi cho các tội phạm kinh tế và tội phạm
có liên quan đến tệ nạn xã hội như ma tuý, mại
dâm, mua bán phụ nữ phát triển Đây là các tội
phạm có số lượng nữ giới phạm tội rất phổ biến
Tóm lại, vị trí của nữ giới trong xã hội đã
và đang thay đổi, đã ảnh hưởng đáng kể đến
tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện Số
tội phạm do nữ giới thực hiện đang gia tăng,
tuy nhiên so với nam giới thì số lượng nữ giới
phạm tội vẫn thấp hơn khoảng 10 lần, mặc dù dân số nữ cao hơn nam Tình hình tội phạm
do nữ giới thực hiện khác với tình hình tội phạm do nam giới thực hiện bởi mối tương quan trong các tội phạm vụ lợi, bạo lực, cũng như một số tội phạm khác Tình hình tội phạm
do nữ giới thực hiện có đặc trưng riêng thể hiện đặc trưng trong cuộc sống của nữ giới; vị trí vai trò của nữ giới trong xã hội; nữ giới thực hiện chủ yếu các tội phạm có liên quan đến tài sản, tội phạm có liên quan đến mua bán trao đổi Trong cơ cấu tội phạm do nữ giới thực hiện có 4 tội chiếm tỉ lệ cao đó là: buôn bán ma tuý, đánh bạc, trộm cắp tài sản, chứa và môi giới mại dâm Trong những năm gần đây nổi lên hai xu hướng chính trong tội phạm nữ:
Một là tăng mức độ phạm tội trong lĩnh
vực kinh tế và các tội phạm xâm phạm sở hữu như: buôn bán hàng cấm, hàng giả; làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hai là tăng mức độ phạm tội các tội rất
nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng và tội phạm có tổ chức như: giết người; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý; buôn lậu./
(1) Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009 thì năm 2008 tổng dân số là 85.122,3 nghìn người trong đó: nam là 41.957,8 nghìn người chiếm 49,29%, nữ là 43.427,4 nghìn người chiếm 50,71% Nguồn: http://www-gso.gov.vn
(2) Thống kê hình sự của Interpol
(3) Viện nghiên cứu chiến lược và khoa học công an,
Bộ công an, Dự báo tình hình tội phạm và đề xuất các giải pháp phòng chống tội phạm đến năm 2005 và
2010, Hà Nội, 2002, tr 22, 24, 25, 26
(4) Bộ nội vụ CHLB Đức, Thống kê hình sự của Interpol năm 1997, 2006, 2007
(5), (6) Tính theo nguồn Phòng tổng hợp TANDTC