Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành không có những quy định cụ thể tạo cơ sở pháp lí để áp dụng phương thức bầu dồn phiếu khi bãi nhiệm, miễn nhiệm và bầu bổ sung thành viên HĐQT, gây nên n
Trang 1Ths §ç Quèc QuyÒn *
uật doanh nghiệp năm 2005 quy định
thẩm quyền thành lập hội đồng quản trị
(HĐQT) thuộc về đại hội đồng cổ đông
(ĐHĐCĐ), được thực hiện thông qua bầu cử
với phương thức bầu dồn phiếu Tính hợp lí
của phương thức bầu dồn phiếu thể hiện chủ
yếu ở việc phương thức này bảo đảm cho tất
cả các phiếu bầu đều có hiệu lực khi bầu các
thành viên HĐQT, phù hợp với nguyên tắc
biểu quyết đối vốn tại ĐHĐCĐ Mặc dù vậy,
quy định về phương thức bầu dồn phiếu tại
Luật doanh nghiệp năm 2005 còn có điểm
chưa hợp lí Bên cạnh đó, pháp luật hiện
hành không có những quy định cụ thể tạo cơ
sở pháp lí để áp dụng phương thức bầu dồn
phiếu khi bãi nhiệm, miễn nhiệm và bầu bổ
sung thành viên HĐQT, gây nên nhiều khó
khăn, lúng túng và vướng mắc cho các
CTCP khi giải quyết các vấn đề có liên quan
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin
bình luận về các khía cạnh nêu trên để chỉ ra
các khuyết thiếu của pháp luật cần được
hoàn thiện trong trong thời gian tới
1 Tính phù hợp và tính khoa học của
phương thức bầu dồn phiếu
Luật doanh nghiệp năm 2005 (điểm c
khoản 2 Điều 96) quy định ĐHĐCĐ có thẩm
quyền “Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành
viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm
soát”; khoản 3 Điều 104 quy định “Việc biểu
quyết bầu thành viên HĐQT và ban kiểm soát
phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của hội đồng quản trị hoặc ban kiểm soát và cổ đông
có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên”
Quy định trên được hiểu như sau: Giả sử, CTCP đã phát hành 1.000 cổ phần phổ thông,
số thành viên HĐQT là 5 người, cổ đông A đang sở hữu 100 cổ phần phổ thông (10% số
cổ phần đã phát hành có quyền biểu quyết) Như vậy, tổng số phiếu bầu (khi bầu thành viên HĐQT) là 5 x 1.000 cổ phần = 5.000 phiếu bầu, A có số phiếu bầu là 5 x 100 cổ phần = 500 phiếu bầu (10% tổng số phiếu bầu) Thực hiện phương thức bầu dồn phiếu,
cổ đông A bầu 100 phiếu cho ứng cử viên thứ nhất (2%) và 400 phiếu cho ứng cử viên thứ hai (8%) Các cổ đông khác đều có số phiếu biểu quyết và có quyền bỏ phiếu tương
tự như cổ đông A Cổ đông được quyền bầu tương ứng số cổ phần mà mình đang sở hữu Mỗi cổ phần có một phiếu biểu quyết, phiếu bầu đã được cổ đông dành cho ứng cử viên này thì phiếu đó không được sử dụng một lần nữa để bầu ứng cử viên khác Như vậy, tất cả các phiếu bầu đối vốn của cổ đông đều
có hiệu lực, ứng cử viên sẽ trúng cử là thành
L
* Học viện tài chính
** Công ti luật TNHH Biển Bắc
Trang 2viên HĐQT bởi sự tín nhiệm theo số cổ phần
thuộc sở hữu của các cổ đông
Luật doanh nghiệp năm 1999(1)
quy định trong CTCP, ĐHĐCĐ có thẩm quyền bầu,
miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT,
thành viên ban kiểm soát (khoản 2 Điều 70)
nhưng không có quy định hướng dẫn tương
tự như nội dung của khoản 3 Điều 104 Luật
doanh nghiệp năm 2005, dẫn đến việc các
CTCP tổ chức bầu thành viên HĐQT theo
những cách thức khác nhau, thậm chí là sai
trái Trước đây, khi Luật doanh nghiệp năm
2005 chưa có hiệu lực, số CTCP đã áp dụng
theo tinh thần của phương thức bầu dồn
phiếu chỉ là cá biệt Trường hợp phổ biến là
các CTCP đã áp dụng cách thức bầu thành
viên HĐQT theo cách thức bầu cử phổ thông
đầu phiếu nhưng kết quả trúng cử lại tính
theo tỉ lệ cổ phần tán thành, dẫn đến các cổ
đông lớn thao túng cuộc bỏ phiếu, làm mất
hiệu lực phiếu bầu của (nhóm) cổ đông sở
hữu ít cổ phần (mà tập quán thường gọi là cổ
đông thiểu số) Thật vậy, nếu vận dụng khoản
2 Điều 77(2)
Luật doanh nghiệp năm 1999 quy
định điều kiện để nghị quyết của ĐHĐCĐ
được thông qua để tính kết quả bầu thành
viên HĐQT thì (nhóm) cổ đông sở hữu đến
49% tổng số cổ phần đã phát hành có quyền
biểu quyết cũng không thể cử được đại diện
của mình tham gia HĐQT Phương thức bầu
dồn phiếu tại Luật doanh nghiệp năm 2005
đã khắc phục được nhược điểm của Luật
doanh nghiệp năm 1999 Như vậy, trước hết
chúng ta có thể khẳng định rằng: Phương thức
bầu dồn phiếu là phù hợp, bảo đảm nguyên tắc
biểu quyết đối vốn khi bầu thành viên HĐQT;
quy định của khoản 3 Điều 104 Luật doanh
nghiệp năm 2005 đã giúp cho phương thức
này được hiểu và vận dụng thống nhất Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP(3)
đã
hướng dẫn rõ hơn tại Điều 29: “1 Phương thức dồn phiếu bầu quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Luật doanh nghiệp được áp dụng đối với tất cả các công ti cổ phần, gồm cả các công ti niêm yết, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác” và “2 Trước và trong cuộc họp đại hội đồng cổ đông, các cổ đông có quyền cùng nhau lập nhóm để đề cử và dồn phiếu bầu cho người do họ đề cử”
Vấn đề mà chúng tôi cho rằng cần được bàn thêm là tính khoa học của phương thức bầu dồn phiếu theo quy định này Trong ví
dụ trên, để tính tổng số phiếu bầu thành viên HĐQT và số phiếu bầu của mỗi cổ đông, chúng ta cần nhân với 5 Đây là quy định thật sự khó hiểu, bởi cách thức đó hoàn toàn không có gì khác khi số nhân là 1 hoặc 1 vạn, có chăng chỉ khác nhau về số đếm Nếu
số nhân là 1 (thay vì số nhân là 5 như khi áp dụng quy định hiện hành), khi CTCP có 1.000 cổ phần thì tổng số phiếu bầu là 1.000,
cổ đông A có 100 phiếu bầu (10%), cổ đông
A bầu cho ứng cứ viên thứ nhất 20 phiếu (đạt 2%) và ứng cử viên thứ hai là 80 phiếu (đạt 8%) - kết quả hoàn toàn giống với khi nhân với 5 hay nhân với 1 vạn Phân số toán học sẽ không thay đổi giá trị nếu như tử số
và mẫu số cùng được nhân với một số Việc lựa chọn số nhân là 1 (tức là không cần thực hiện bất kì một phép nhân nào) sẽ là khoa học vì khi con số nhỏ thì việc đếm và chia tỉ
lệ % đơn giản hơn và đặc biệt là không cần thiết phải tạo ra một cách thức riêng biệt khi ĐHĐCĐ bầu thành viên HĐQT (cũng như thành viên ban kiểm soát) so với việc quyết
Trang 3định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền mà
hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền của
cổ đông được bỏ phiếu bầu cho tất cả các
thành viên HĐQT Điểm a khoản 1 Điều 79
Luật doanh nghiệp năm 2005 đã quy định:
“ mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu
biểu quyết” Thiết nghĩ, khoản 3 Điều 104
Luật doanh nghiệp năm 2005 cần được sửa
đổi với nội dung: “Việc biểu quyết bầu
thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm
soát phải thực hiện theo phương thức bầu
dồn phiếu, theo đó cổ đông có quyền dồn hết
số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số
ứng cử viên Người trúng cử thành viên hội
đồng quản trị hoặc thành viên ban kiểm soát
được xác định theo số phiếu bầu tính từ cao
xuống thấp, bắt đầu từ ứng cử viên có số
phiếu bầu cao nhất cho đến khi đủ số thành
viên đã được đại hội đồng cổ đông quyết
định Trường hợp có từ hai ứng cử viên trở
lên đạt cùng số phiếu bầu như nhau cho
thành viên cuối cùng của hội đồng quản trị
hoặc ban kiểm soát thì sẽ tiến hành bầu lại
trong số các ứng cử viên có số phiếu bầu
ngang nhau hoặc lựa chọn theo tiêu chí quy
chế bầu cử hoặc điều lệ công ti”
2 Pháp luật hiện hành không có cơ sở
pháp lí để áp dụng phương thức bầu dồn
phiếu cho việc bãi nhiệm, miễn nhiệm và
bầu bổ sung thành viên HĐQT
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005,
thành viên HĐQT bị bãi nhiệm, miễn nhiệm
trong các trường hợp: 1) Không có đủ tiêu
chuẩn và điều kiện là thành viên HĐQT; 2)
Không tham gia các hoạt động của HĐQT
trong 6 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả
kháng; 3) Có đơn xin từ chức Ngoài ra,
thành viên HĐQT có thể bị miễn nhiệm bất cứ
lúc nào theo quyết định của ĐHĐCĐ.(4)
Quyết định của Bộ tài chính số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 về việc ban hành Quy chế quản trị công ti áp dụng cho các công ti niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán/trung tâm giao dịch chứng khoán quy định: Trong trường hợp một thành viên HĐQT bị mất tư cách thành viên theo quy định của pháp luật
và điều lệ công ti, bị cách chức hoặc vì một
lí do nào đó không thể tiếp tục làm thành viên HĐQT, HĐQT có thể bổ nhiệm người khác thay thế Thành viên HĐQT thay thế trong trường hợp này phải được biểu quyết
thông qua tại ĐHĐCĐ gần nhất
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2005
và các văn bản hướng dẫn thi hành (cả Nghị định của Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP và Nghị định của Chính phủ số 139/2007/NĐ-CP trước đây) hoàn toàn không có quy định hướng dẫn chi tiết về cách thức, thủ tục chấm dứt tư cách thành viên HĐQT cũng như không có quy định về việc áp dụng phương thức bầu dồn phiếu để ĐHĐCĐ bãi nhiệm, miễn nhiệm và bầu bổ sung thành viên HĐQT Đây là khiếm khuyết đáng kể của pháp luật hiện hành, có thể làm nảy sinh những vấn đề pháp lí phức tạp khi giải quyết các vấn đề có liên quan
Thứ nhất, ai có quyền bãi miễn, miễn
nhiệm thành viên HĐQT và bầu thành viên
HĐQT thay thế?
Thẩm quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT thuộc về ĐHĐCĐ như quy định tại điểm c khoản 2 Điều 96 Luật doanh nghiệp năm 2005 Vậy ĐHĐCĐ quyết định bãi, miễn thành viên HĐQT theo cách thức nào? Phương thức bầu dồn phiếu được
áp dụng để bầu thành viên HĐQT, nghĩa là
Trang 4cổ đông chỉ được sử dụng phiếu bầu một lần,
đã bầu ứng cử viên này sẽ không được bầu
cho ứng cử viên khác Về bản chất, cổ đông
tương ứng với số cổ phần đang sở hữu có
quyền độc lập lựa chọn thành viên HĐQT
(đại diện) cho mình quản lí công ti Vậy, khi
bãi miễn thành viên HĐQT, ĐHĐCĐ bãi
miễn theo cách thức nào? Một cổ đông trước
đó sử dụng toàn bộ phiếu bầu của mình bầu
cho thành viên HĐQT A, nay có được biểu
quyết để bãi miễn thành viên HĐQT B hoặc
C hay không? Nếu có thì rõ ràng là không
hợp lí và luôn là sự bất lợi cho (nhóm) cổ
đông thiểu số Thật vậy, HĐQT được bầu
gồm 5 thành viên (A, B, C, D và M) với
nhiệm kì 5 năm, 4 thành viên (A, B, C, D) do
một nhóm cổ đông sở hữu 82% cổ phần lựa
chọn, 1 thành viên (M) do nhóm cổ đông sở
hữu 18% cổ phần lựa chọn Thật là phi lí nếu
đến phiên họp thường niên của ĐHĐCĐ ngay
sau đó, thành viên M bị ĐHĐCĐ bãi miễn
theo quyết định của nhóm cổ đông sở hữu
82% cổ phần, vì nó vô hiệu hoá và tước bỏ
quyền biểu quyết của (nhóm) cổ đông thiểu
số sở hữu 18% còn lại Câu hỏi nêu ra chưa
được trả lời, dẫn đến quy định của Luật
doanh nghiệp năm 2005 về bãi, miễn thành
viên HĐQT không thể thực hiện được Vấn
đề tương tự cũng được đặt ra khi ĐHĐCĐ
bầu bổ sung thành viên HĐQT do có thành
viên HĐQT chấm dứt tư cách trước khi hết
nhiệm kì: Những cổ đông nào sẽ được bỏ
phiếu để bầu bổ sung? Pháp luật cần có
hướng dẫn chi tiết về vấn đề này với mục
tiêu bảo đảm hiệu lực của tất cả các phiếu
bầu của các cổ đông Chúng tôi cho rằng chỉ
cổ đông nào đã bỏ phiếu bầu thành viên
HĐQT thì mới có quyền bãi miễn thành viên
HĐQT đã được bầu đó Trường hợp cần phải bãi miễn thành viên HĐQT, công ti (ĐHĐCĐ hoặc HĐQT) sẽ thông báo đến (nhóm) cổ đông đã bầu thành viên HĐQT đó để chứng minh về sự cần thiết phải bãi, miễn vì lợi ích của công ti và lợi ích của chính các cổ đông
đã bỏ phiếu bầu, qua đó vận động (nhóm) cổ đông bãi miễn thành viên HĐQT mà họ đã bầu và lựa chọn người khác thay thế tham gia HĐQT Đối với trường hợp phải bầu bổ sung theo quy định của pháp luật, chỉ những
cổ đông đã bầu người trước đó mới có quyền lựa chọn thành viên HĐQT thay thế
Thứ hai, Quyết định của Bộ tài chính số
12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 quy định cho HĐQT được bổ nhiệm tạm thời thành viên HĐQT là không hợp lí và trái Luật
doanh nghiệp năm 2005
Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 quy định cho HĐQT thẩm quyền
có thể bổ nhiệm thành viên HĐQT thay thế trong trường hợp một thành viên bị mất tư cách thành viên theo quy định của pháp luật
và điều lệ công ti, bị cách chức hoặc vì một lí
do nào đó không thể tiếp tục làm thành viên HĐQT Việc thay thế thành viên HĐQT trong trường hợp này phải được biểu quyết thông qua tại cuộc họp gần nhất của ĐHĐCĐ Quy định của văn bản dưới luật này cũng không rõ ràng, thiếu chính xác vì không có cơ sở thực
tế và trái với Luật doanh nghiệp năm 2005 Bởi lẽ, quy định cho HĐQT được quyền bổ nhiệm thành viên HĐQT thay thế là thật sự khó hiểu vì không xuất phát từ quyền quyết định của các cổ đông (ngay cả khi đó chỉ là giải pháp tình thế) Điều này không được Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định cho phép mà ngược lại Luật doanh nghiệp năm
Trang 52005 lại có quy định về việc HĐQT vẫn hoạt
động bình thường nếu số lượng thành viên
HĐQT bị khuyết thiếu (giảm) nhỏ hơn hoặc
bằng 1/3 so với quy định tại điều lệ công ti
Chỉ trong trường hợp số thành viên HĐQT bị
giảm quá 1/3 so với quy định tại điều lệ công
ti thì HĐQT mới phải triệu tập cuộc họp
ĐHĐCĐ (trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày
số thành viên bị giảm quá 1/3) để bầu bổ sung
thành viên HĐQT Trong các trường hợp
khác, ĐHĐCĐ bầu thành viên mới thay thế
thành viên HĐQT đã bị miễn nhiệm, bãi
nhiệm tại cuộc họp gần nhất.(5)
Hơn nữa, nếu HĐQT đã bổ nhiệm một số thành viên HĐQT
bổ sung theo quy định tại Quyết định số
12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 thì tại
cuộc họp gần nhất, ĐHĐCĐ biểu quyết chấp
thuận hoặc không chấp thuận tư cách thành
viên HĐQT bổ sung theo nguyên tắc và cách
thức nào? Giả sử (nếu có) một cách thức hợp
lí và hợp pháp để ĐHĐCĐ biểu quyết về vấn
đề này, nếu thành viên đó không được chấp
thuận bởi ĐHĐCĐ thì các nghị quyết của
HĐQT được thông qua trước đó với sự biểu
quyết của thành viên HĐQT đó có hiệu lực
hay không? Đặc biệt là trong trường hợp sự
hiện diện của thành viên HĐQT quyết định
đến tính hợp lệ của cuộc họp HĐQT và nghị
quyết của HĐQT không được thông qua nếu
thiếu sự chấp thuận của đa số.(6)
Quy định của Luật doanh nghiệp năm
2005 về phương thức bầu dồn phiếu áp dụng
cho bầu thành viên HĐQT (cũng như thành
viên ban kiểm soát) CTCP là tiến bộ được
cộng đồng các nhà quản trị và các nhà
nghiên cứu hưởng ứng Song phương thức
bầu dồn phiếu lại bị chính pháp luật hiện
hành vô hiệu hoá vì chưa có cơ sở pháp lí
phù hợp hướng dẫn về việc áp dụng phương thức này để miễn nhiệm, bãi nhiệm và bầu
bổ sung thành viên HĐQT Sự khuyết thiếu này dẫn đến những khiếm khuyết của Luật doanh nghiệp năm 1999 vẫn chưa được khắc phục triệt để, quyền lợi của (nhóm) cổ đông thiểu số vẫn không được bảo vệ Thực tế, vấn đề bãi nhiệm, miễn nhiệm và bầu bổ sung thành viên HĐQT là vấn đề quan trọng, xảy ra thường xuyên trong đời sống pháp lí của các CTCP, dễ dẫn đến các tranh chấp nội
bộ gay gắt làm đình trệ hoạt động bình thường của các CTCP Với những vấn đề được đặt ra như trên, chúng tôi cho rằng các
cơ quan xây dựng pháp luật cần tiếp tục nghiên cứu những quy định bổ sung và thay thế bảo đảm tính đồng bộ, tính phù hợp với thực tiễn của pháp luật, góp phần tạo ra được
cơ sở pháp lí có tính hoàn thiện cao, hướng dẫn toàn diện cho hoạt động của các CTCP ở Việt Nam hiện nay./
(1) Luật doanh nghiệp số 13/1999/QH10 ngày 12/6/1999, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2000 đến ngày 01/07/2006
(2).Xem: Khoản 2 Điều 77 là điều luật duy nhất của Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định điều kiện thông qua nghị quyết của ĐHĐCĐ là được số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất
cả các cổ đông dự họp chấp thuận Vấn đề bầu thành viên HĐQT không thuộc các trường hợp áp dụng định túc số 65% quy định tại điểm b khoản 2 Điều 77 (3).Xem: Nghị định số 102/2010/NĐ-CP3 ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2010 thay thế Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007
(4).Xem: Điều 110 và 115 Luật doanh nghiệp năm 2005 (5).Xem: Điều 115 Luật doanh nghiệp năm 2005 (6).Xem: Khoản 8 Điều 112 Luật doanh nghiệp năm 2005