1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Giám sát hoạt động quản lí hành chính nhà nước bằng cơ chế tài phán kinh nghiệm của Nhật Bản và khả năng áp dụng ở Việt Nam " pptx

8 702 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 356,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những điểm khác nhau cốt yếu nhất giữa hệ thống luật hành chính các nước trên thế giới chính là nằm ở việc xây dựng mô hình và thẩm quyền phán quyết sự vi phạm của quyền lự

Trang 1

TS Ph¹m Hång Quang *

hẩm phán Toà án tối cao Nhật Bản Itsuo

Sonobe đã viết trong cuốn sách “Hệ

thống luật hành chính hiện đại”: “Hệ thống

luật hành chính của mỗi quốc gia khác nhau

bắt nguồn từ chính những đặc trưng cơ bản

của hệ thống pháp luật mà quốc gia đó sở hữu

Một trong những điểm khác nhau cốt yếu nhất

giữa hệ thống luật hành chính các nước trên

thế giới chính là nằm ở việc xây dựng mô hình

và thẩm quyền phán quyết sự vi phạm của

quyền lực hành chính, hay nói cách khác là

cách thức giám sát hoạt động quản lí hành

chính nhà nước bằng cơ chế tài phán hành

chính”.(1) Trong phạm vi bài viết này, tác giả

tập trung phân tích cách thức giám sát hoạt

động quản lí hành chính nhà nước (QLHCNN)

bằng cơ chế tài phán trên cơ sở học tập kinh

nghiệm của Nhật Bản - quốc gia chịu sự ảnh

hưởng mạnh mẽ của hai hệ thống pháp luật

tiêu biểu trên thế giới và chia sẻ nhiều kinh

nghiệm với Việt Nam trong việc tiếp nhận

pháp luật nước ngoài trong tiến trình hội nhập

1 Giám sát hoạt động QLHCNN bằng

cơ chế tài phán hành chính - Yêu cầu quan

trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN

Việt Nam và yêu cầu hoàn thiện lí luận

luật hành chính trong tiến trình hội nhập

1.1 Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước

pháp quyền XHCN Việt Nam dưới góc độ

luật hành chính và quản lí - Vấn đề mang

tính thời đại và thời sự

Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà

nước pháp quyền XHCN Việt Nam bao gồm sáu đặc trưng hay yêu cầu cơ bản sau: 1) Nhà nước của dân, do dân và vì dân; 2) Mọi

tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 3) Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật và bảo đảm tính tối cao của luật pháp trong xã hội; 4) Nhà nước tôn trọng và bảo vệ triệt để quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, bảo đảm mối quan hệ thực sự dân chủ giữa Nhà nước và công dân; 5) Nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước nhưng có sự tách biệt rõ ràng giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 6) Nhà nước đặt dưới

Để thoả mãn các yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo các tiêu chí nêu trên, yêu cầu hoàn thiện cách thức giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền nói chung và hoạt động QLHCNN nói riêng thông qua cơ chế tài phán hành chính là tối cần thiết Đó thực sự là vấn đề mang tính

thời đại và luôn mới, bởi hai lí do: Một là

vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không thể đặt ngoài yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu từ

cuối thế kỉ XX cho đến nay; Hai là hoạt

T

* Giảng viên Khoa hành chính-nhà nước

Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

động của cơ quan công quyền nói chung và

hoạt động QLHCNN nói riêng diễn ra hàng

ngày hàng giờ, luôn tiềm ẩn nguy cơ có thể

xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của

các cá nhân, tổ chức bất ki lúc nào, dù có thể

là vô tình hay cố ý Nói như học giả Mark

Aronson trong cuốn sách “Tài phán hành

chính - Giới hạn tính hợp pháp của quyền

lực công” thì giám sát hoạt động quản lí

hành chính thông qua cơ chế tài phán là vấn

đề cấp thiết nhằm đặt quyền lực hành chính

luôn ở trong khuôn khổ pháp lí và nhằm

ngăn ngừa cỗ máy hành chính quyền uy chạy

Dưới góc độ luật hành chính với nội

dung giám sát hoạt động QLHCNN bằng cơ

chế tài phán và dưới góc độ nghiên cứu về

quản lí và sự thay đổi thể chế, tác giả có một

vài bình luận về yêu cầu xây dựng Nhà nước

pháp quyền XHCN Việt Nam như sau:

Trước hết, tác giả cho rằng việc xây

dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt

Nam phải tiếp cận với lí luận về nhà nước

pháp quyền trên thế giới (Rule of Law,

Decey, 1885) đồng thời vẫn giữ được những

đặc trưng của Á Đông và phù hợp với thực

tiễn cách mạng và công cuộc đổi mới ở Việt

Nam Theo đó, lí luận luật hành chính Việt

Nam liên quan đến mảng tài phán hành

chính nhằm giám sát có hiệu quả hoạt động

của cơ quan công quyền cần phải có những

thay đổi nhất định, phù hợp với lí luận luật

hành chính hiện đại Kinh nghiệm của Nhật

Bản trong việc học hỏi kinh nghiệm nước

ngoài (Đức, Pháp, Mỹ) nhưng vẫn giữ được

những nét đặc trưng riêng, đặc biệt ở lĩnh

vực kiện tụng hành chính và thủ tục hành

chính, có giá trị tham khảo với Việt Nam trong giai đoan hiện nay

Thứ hai, tác giả ủng hộ quan điểm của

David Trubek trong bài viết: “Nhà nước pháp quyền trong trợ giúp phát triển” xuất bản tại Trường Đại học tổng hợp Nagoya, đã cho rằng: Trong việc giới thiệu và truyền bá những nội dung của nhà nước pháp quyền trong kỉ nguyên luật mới và phát triển hiện nay (New Law and Development), để tránh thất bại của Phong trào luật và phát triển trước đây (1960s-1970s), cần phải tiếp cận thể chế không chính thức của nhà nước pháp quyền và tránh ý tưởng một mô hình có thể

Lí luận về thể chế chính thức và không chính thức được khởi nguồn từ học giả North Douglas, trong đó ông có đề cập tầm quan trọng của sự thay đổi thể chế ngoài yếu tố chính thức như hiến pháp, luật pháp nhà nước, quyền lực nhà nước, các nguyên tắc kinh tế, hợp đồng, còn có các yếu tố không chính thức khác như quy ước xã hội, đạo đức,

Ủng hộ quan điểm nên tiếp cận thể chế không chính thức của nhà nước pháp quyền, tác giả viện dẫn lí luận và mô hình về sự thay đổi thể chế của học giả Nhật Bản Masahiko Aoki trong cuốn sách “Phân tích thể chế so sánh” Theo ông, để ngăn ngừa những khủng hoảng và cú sốc thay đổi đột ngột, các yếu tố trong thể chế cũ cần được thay đổi từ từ và phù hợp với những yếu tố

viết là: Việt Nam nên thận trọng trong việc

du nhập thể chế nhà nước pháp quyền hiện nay Là nước đang trong giai đoạn chuyển

Trang 3

đổi nền kinh tế với nhiều biến động, Việt

Nam không nên tiếp nhận tất cả các yếu tố

của nhà nư ớc pháp quyền (thể chế chính

thức), sao chép hoàn toàn mô hình nhà nước

pháp quyền và cơ chế tài phán hành chính

nhằm giám sát quyền lực công giống như

các nước phương Tây, vì Việt Nam có

những yếu tố mang tính đặc thù và trong

điều kiện chưa chín muồi, trong khi các

nước phương Tây đã trải qua hàng trăm năm

kinh nghiệm Tiếp nhận thể chế không chính

thức của nhà nước pháp quyền có nghĩa là

bổ sung những yếu tố mới bên cạnh những

yếu tố đang tồn tại, những yếu tố này có thể

duy trì nhưng dần dần phải hoà hợp với

những yếu tố mới du nhập Trong trường

hợp những yếu tố cũ có thể tương phản với

yếu tố cốt lõi của nhà nước pháp quyền

nhưng không làm phương hại đến trật tự xã

hội và xâm hại quyền cá nhân, nó có thể

được chỉnh lí một cách từ từ và thận trọng

1.2 Giám sát hoạt động QLHCNN bằng

cơ chế tài phán – Nội dung lí luận cần hoàn

thiện của luật hành chính Việt Nam hiện nay

Việc giám sát hoạt động QLHCNN

thông qua cơ chế tài phán hành chính được

đánh dấu bởi sự ra đời và phát triển của mô

hình toà hành chính nằm trong hệ thống toà

án nhân dân năm 1996, cũng như luật tố tụng

hành chính, với tư cách là một ngành luật

độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Tác giả thừa nhận luật tố tụng hành chính là

ngành luật độc lập và đã được đưa vào giảng

dạy tại Trường Đại học Luật Hà Nội từ năm

1995 Tác giả cũng đồng ý với quan điểm

không xem vấn đề tài phán hành chính hay

luật tố tụng hành chính luôn là vấn đề của

luật hành chính bởi vì đây là hoạt động có tính chất tư pháp được thừa nhận ở một số

Tuy nhiên, nếu xem xét

cơ chế tài phán hành chính hay luật tố tụng hành chính tách rời với sự phát triển của luật hành chính Việt Nam (đặc biệt kể từ sau chính sách đổi mới 1986) và tách rời với việc nghiên cứu lí luận xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN như đã phân tích ở trên

sẽ là chưa có cái nhìn toàn diện Thực tế, nhiều nước trên thế giới vẫn ghi nhận nội dung giải quyết tranh chấp hành chính tại toà

án (tố tụng hành chính) hay nói cách khác là nội dung giám sát hoạt động quản lí hành chính bằng cơ chế tài phán như là chế định khắc phục hành chính (Administrative Remedy) cùng với nội dung giải quyết khiếu nại hành chính và xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước và nằm trong môn học luật hành chính (Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) Luật hành chính Việt Nam trước đây vì lí

do chiến tranh và yêu cầu phục vụ sự nghiệp cách mạng nên có thể nói ít phát triển ở khía cạnh bảo vệ triệt để các quyền của công dân trước sự xâm phạm của quyền lực công Lí luận về sự phân biệt giữa hành chính quản lí

và hành chính tài phán, vốn được xem như là hai mặt không thể tách rời của khái niệm hành chính đã được phổ biến ở các nước châu Âu lục địa có cơ chế tài phán hành chính phát triển như Pháp, Đức và ít nhiều cũng đã từng ảnh hưởng đến Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc với sự xuất hiện của mô hình Toà án hành chính Đông Dương Các nước theo hệ thống luật chung như Anh, Mỹ, Canada cũng có khuynh hướng thiết lập các

bộ phận chuyên trách trong toà án thường để

Trang 4

giải quyết các vụ kiện hành chính, đặc biệt

trong các lĩnh vực bảo hiểm, thuế, phúc lợi

xã hội Nhật Bản chịu ảnh hưởng của pháp

luật Đức nên lí luận về tài phán hành chính

không hoàn toàn xa lạ mà trái lại đã rất phát

triển từ cuối thế kỉ XIX, với sự ra đời của Toà

án hành chính tối cao ở Tokyo (1890) Mặc

dù sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Toà án

này đã bị xoá bỏ nhưng mảng lí luận này vẫn

rất phát triển, minh chứng bằng việc giải

quyết vụ án hành chính vẫn tuân theo trình tự

tố tụng riêng biệt được quy định trong Luật

kiện tụng hành chính Hàn Quốc, Nga và hầu

như các nước XHCN Đông Âu trước đây đều

đã thiết lập toà án hành chính và việc giám sát

hoạt động của cơ quan công quyền bằng cơ

chế tài phán được xem là nội dung tất yếu mà

luật hành chính cần phải chú trọng trong tiến

trình xây dựng nhà nước pháp quyền và hội

nhập quốc tế Nhà luật học so sánh Tom

Ginsburg trong cuốn sách xuất bản năm 2003

với tiêu đề “Tài phán trong chế độ dân chủ

mới” (Judical Review and New Democracies)

đã nhấn mạnh: Việc phát triển lí luận về tài

phán hành chính hiện nay được xem là một

bộ phận mở rộng của luật hành chính mang

Trong tiến trình hội nhập và phát triển

hiện nay, các chuyên gia luật hành chính

Việt Nam không thể không tiếp cận và đi

theo dòng chảy của sự phát triển luật hành

chính hiện đại Thông qua việc học hỏi kinh

nghiệm nước ngoài về xây dựng nhà nước

pháp quyền, lí luận về tài phán hành chính,

đặc biệt trong việc xây dựng mô hình và

thẩm quyền cơ quan tài phán, các học giả

Việt Nam có khuynh hướng xây dựng, khái

niệm hoá các vấn đề lí luận liên quan đến lĩnh vực này phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới đồng thời đảm bảo phù hợp với năng lực nhận thức và điều kiện

áp dụng ở Việt Nam

Như vậy, để hoàn thiện chế định giám sát hoạt động QLHCNN thông qua cơ chế tài phán hành chính hiện nay, xét dưới góc độ lí luận luật hành chính và lí luận về cấy ghép

luật công Việt Nam nên tiếp cận từ cách nhìn của hệ thống luật châu Âu lục địa và cố gắng duy trì những giá trị văn hoá pháp lí châu Á Việc tiếp nhận những điểm hợp lí của pháp luật trên thế giới, việc quay trở về các gia đình luật truyền thống đang diễn ra ở các nước trong quá trình cải cách hiện nay rõ ràng không là ngoại lệ đối với Việt Nam Một số học giả cảnh báo Việt Nam nên tránh việc xây

của các nư ớc mà không có sự chọn lọc, giữ

được bản sắc riêng và những ưu việt vốn có

2 Giám sát hoạt động QLHCNN bằng

cơ chế tài phán hành chính ở Nhật Bản: Kinh nghiệm và khả năng áp dụng ở Việt Nam

Nhật Bản đã trải qua 120 năm kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện chế định giám sát hoạt động QLHCNN bằng cơ chế tài phán, kể từ khi Toà án hành chính độc lập được thành lập ở Tokyo theo Hiến pháp Minh Trị năm 1889

Ảnh hưởng của hệ thống luật châu Âu lục địa với luật hành chính Nhật Bản xét dưới góc độ lí luận, trước hết phải nói đến lí luận của Otto Mayer trong cuốn sách “Luật hành chính Đức” đã thu hút rất nhiều học giả trẻ N hật Bản sang Đức du học, điển hình là

Trang 5

Tatsukichi Minobe (1873 - 1948), người tiền

phong trường phái luật hành chính trước Đại

chiến thế giới lần thứ II Lí luận về nhà nước

pháp quyền (Rechtsstaat), tính độc lập toà án,

về hành vi hành chính (Verwaltungsakt hay

administrative action), về sự phân biệt rạch ròi

giữa luật công và luật tư, về sự phân chia hành

chính cai trị và hành chính phục vụ, nguyên

tắc được bảo vệ bởi luật thành văn (reservation

of statute-law) là những lí luận cơ bản của

luật hành chính Đức được truyền bá rộng rãi ở

Nhật Bản Bên cạnh đó, lí luận luật hành chính

Pháp cũng có những ảnh hưởng gián tiếp tới

các học giả luật hành chính của Nhật Bản, như

khái niệm hành chính ở Pháp bao gồm hai vấn

đề không thể tách rời, đó là vấn đề quản lí và

vấn đề tài phán, từ đó cơ quan tài phán hành

chính nên thuộc nhánh hành pháp, hoặc lí

thuyết về hành vi của chính phủ (acts of

government), quyền tự định đoạt của hành

chính (administrative discretion)…

Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, toà án

hành chính độc lập theo mô hình Đức đã bị

xoá bỏ theo Hiến pháp năm 1947, thay vào đó

là hệ thống toà án tư pháp chuyên làm nhiệm

vụ xét xử giống như hệ thống toà án của Mỹ

Điều này ảnh hưởng bởi lí luận về nhà nước

pháp quyền và độc lập tư pháp, lí luận về nhất

hệ tài phán khởi nguồn từ học giả nổi tiếng

người Anh Decey cuối thế kỉ XVIII

Mặc dù có sự pha trộn giữa hai hệ thống

pháp luật tiêu biểu, sự phát triển của chế

định giám sát hoạt động QLHCNN bằng cơ

chế tài phán của Nhật Bản vẫn có những nét

riêng và có giá trị tham khảo với Việt Nam ở

một số điểm như sau:

Trước hết, cần phải khẳng định đây là

chế định quan trọng của luật hành chính Nhật Bản, nằm ở phần thứ III với tên gọi là khắc phục hành chính Luật kiện tụng hành chính Nhật Bản không được tách ra thành môn học riêng như luật tố tụng hành chính Việt Nam Giám sát hoạt động QLHCNN ở Nhật Bản được thực hiện thông qua cơ chế tài phán hành chính (toà án), cơ chế giải quyết khiếu nại (cơ quan hành chính nhà nước cấp trên), cơ chế kiện bồi thường nhà nước (toà án) và đây chính là ba nội dung quan trọng của chế định khắc phục hành chính Cơ sở pháp lí để toà án hay cơ quan hành chính áp dụng để giải quyết vụ việc đều là các văn bản luật có giá trị pháp lí cao và có lịch sử ra đời

từ rất lâu như Luật kiện tụng hành chính (1948, 1962, 2005), Luật bồi thường nhà nước (1947), Luật khiếu nại hành chính (1962, 2006) Dự án trợ giúp pháp lí nước ngoài của Nhật Bản thông qua tổ chức JICA có nhiều

hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước, tiếp đến là các đề án tách riêng Luật khiếu nại hành chính và ban hành Luật

tố tụng hành chính Tuy nhiên, tính chưa thống nhất trong hệ thống lí luận của luật hành chính Việt Nam đã dẫn tới việc xé lẻ các nội dung của chế định khắc phục hành chính của Nhật Bản có thể áp dụng ở Việt Nam, như chế định bồi thường nhà nước và công việc nghiên cứu, giảng dạy môn luật này thuộc chuyên ngành luật dân sự

Hai là Việt Nam có thể học tập Nhật Bản

trong việc xây dựng hệ thống toà án vùng Toà án N hật Bản hiện nay bao gồm bốn cấp:

450 toà án rút gọn, 50 toà án quận được đặt

Trang 6

ở 47 đơn vị hành chính trong cả nước trong

đó vùng Hokkaido có 4 toà án, 8 toà án phúc

thẩm đặt tại Tokyo, Osaka, Nagoya, Hiroshima,

Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takematsu và

Toà án tối cao đặt tại Tokyo Về nguyên tắc,

toà án tư pháp có nhiệm vụ giải quyết vụ án

hành chính, tuy nhiên trong xu hướng cải

cách hiện nay, một số toà án quận như Tokyo,

Osaka, Nagoya, Yokohama, Saitama, Chiba,

Kyoto và Kobe có thêm phân toà đặc biệt

chuyên xét xử hành chính Như vậy, có vẻ

như Nhật Bản giống với Việt Nam và Trung

Quốc trong việc thành lập mô hình toà hành

chính nằm trong hệ thống toà án nhân dân

Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn là các toà án

của Nhật Bản không phân chia theo địa giới

hành chính và Điều 12 Luật kiện tụng hành

chính quy định toà án có thẩm quyền giải

quyết thường là toà án nơi có bất động sản

hay trụ sở của chủ thể bị kiện nhưng ở vị trí

cao hơn, không phụ thuộc vào quyền lực

quản lí địa phương như trường hợp thẩm

phán toà cấp tỉnh Việt Nam phán quyết tính

hợp pháp của các quyết định bị cho là trái

pháp luật của chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh

Ba là về nội dung thẩm quyền giám sát

hành chính thông qua cơ chế tài phán (kênh

toà án) có một số kinh nghiệm của Nhật Bản

mà Việt Nam nên tham khảo:

Thứ nhất, toà án Nhật Bản không bị giới

hạn bởi các vụ việc hành chính mang tính liệt

kê Tuy nhiên, các quyết định hành chính có thể

được kiện ra toà phải thoả mãn các đặc trưng

của một quyết định hành chính (shobunsei)

như: tính quyền lực công; hiệu lực pháp lí, có

sự tác động trực tiếp và chính xác với người

khởi kiện, mối quan hệ không phụ thuộc giữa

các quyết định này rất đa dạng trong các văn bản pháp luật khác nhau, như giấy phép (permission), giấy đăng kí (patent), chấp thuận (approval), cấm đoán (prohibition) hoặc

xử phạt (sanction) Hiện nay, vấn đề còn gây nhiều tranh cãi là các hướng dẫn hành chính (administrative guidance hay gyosei shido)

có thể bị xem xét tính hợp pháp bởi toà án hay không Để giải quyết sự tranh cãi này, Luật thủ tục hành chính đã bổ sung trong Điều 2 các hướng dẫn hành chính như gợi ý việc thực hiện các chính sách, các bước tiến hành trong việc xây dựng, kinh doanh phải bảo đảm được tính tự nguyện của đối tượng khi thực hiện Một hướng dẫn sẽ không còn

là hướng dẫn khi nó mang tính bắt buộc phải thực hiện Như vậy, các toà án địa phương trong từng trường hợp cụ thể có thể xem xét một hướng dẫn hành chính dư ới dạng thông báo (notice), cảnh báo (warning), chỉ dẫn (instruction) có thoả mãn điều kiện của quyết định hành chính hay không

Thứ hai, về việc phán quyết tính hợp

pháp của các văn bản quy phạm pháp luật hành chính Mặc dù trong luật không quy định rõ thẩm quyền của toà án, tuy nhiên Điều 81 Hiến pháp quy định: Toà án tối cao

là toà án có thẩm quyển cuối cùng có quyền phán quyết bất kể đạo luật, pháp lệnh, nghị định hay quy định nào có hợp hiến hay không Như vậy, mặc dù không có toà án Hiến pháp, Nhật Bản cũng thừa nhận quyền tài phán đối với văn bản quy phạm pháp luật được trao cho Toà án tối cao Về nguyên tắc, người dân không thể khởi kiện một quy phạm pháp luật ra toà án, tuy nhiên, trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính cụ thể, toà án có quyền xem xét tính hợp hiến và hợp

Trang 7

pháp của các quy phạm pháp luật mà dựa vào

đó quyết định hành chính bị kiện được ban

hành Thẩm quyền phán quyết cuối cùng

thuộc về Toà án tối cao

Thứ ba, Luật kiện tụng hành chính Nhật

Bản (1962) đã huỷ bỏ yêu cầu tiền tố tụng,

tức là phải khiếu nại lên cơ quan hành chính

đã ban hành quyết định trước khi khởi kiện

ra toà như các quy định trước đó Về nguyên

tắc, người dân có thể kiện ra toà án bất kể

lúc nào Tuy nhiên, một số luật đặc biệt cũng

quy định ngoại lệ phải qua bước khiếu nại

nhưng Luật kiện tụng hành chính cho phép

trong trường hợp quá ba tháng mà quyết

định giải quyết khiếu nại không được ban

hành hoặc trong trường hợp khẩn cấp nhằm

ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, người dân

có thể kiện ra toà án

Thứ tư, Luật kiện tụng hành chính sửa

đổi năm 2004 quy định rõ bốn loại kiện tụng

hành chính: 1) Kiện tụng các vụ việc công

(Public litgation); 2) Kiện tụng về thẩm

quyền giữa các cơ quan (Agency litigation);

3) Kiện tụng giữa các bên (Party litigation)

và 4) Kiện tụng yêu cầu huỷ bỏ, công nhận

hay gắn liền với các nghĩa vụ nhất định

(Kokoku appeal litigation), trong đó hai loại

kiện tụng đầu được gọi là kiện tụng mang

tính khách quan và hai loại còn lại là kiện

tụng mang tính chủ quan Kiện tụng yêu cầu

huỷ bỏ, công nhận hay gắn liền với các

nghĩa vụ nhất định là loại kiện tụng phổ biến

và quan trọng nhất, trong đó tập trung nhiều

nhất là kiện tụng huỷ bỏ các quyết định hoặc

hành vi hành chính trái luật Luật mới sửa

đổi bổ sung hai trường hợp tại Điều 3, đó là

vụ kiện yêu cầu cơ quan hành chính phải

thực hiện một nghĩa vụ nhất định (Gimutsuke

no uttae, khoản 6) và vụ kiện yêu cầu cơ quan hành chính phải dừng việc thực hiện hành vi nhất định (Sashitome no uttae, khoản 7) Về điều kiện để khởi kiện yêu cầu cơ quan hành chính phải dừng thực hiện hành vi nhất định, theo khoản 4 Điều 37, người khởi kiện và toà

án phải chứng minh được những thiệt hại lớn (grave loss) có thể xảy ra nếu cơ quan hành chính không dừng thực hiện hành vi Tuy nhiên, luật cũng chưa quy định rõ thế nào là thiệt hại lớn và trao quyền tự quyết cho toà án, đây cũng là điểm còn gây nhiều tranh cãi

Thứ năm, liên quan đến thẩm quyền ra

phán quyết của toà án trong từng giai đoạn, Luật kiện tụng hành chính Nhật Bản xác định rõ toà án có quyền: 1) Bác bỏ đơn khởi kiện (khi tiếp nhận đơn); 2) Bác bỏ yêu cầu (khi đã thụ lí giải quyết và nghị án); 3) Chấp nhận yêu cầu (huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định trái pháp luật) Về nguyên tắc, quyết định trái pháp luật sẽ bị toà án tuyên huỷ và không còn hiệu lực pháp lí Tuy nhiên, Điều 31 của Luật có tên gọi “Phán quyết hoàn cảnh” được coi như ngoại lệ, theo đó trong trường hợp quyết định hành chính rõ ràng là trái pháp luật nhưng sự huỷ

bỏ nó có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích công, toà án có quyền bác bỏ việc khởi kiện mặc dầu phải tuyên bố tính bất hợp pháp của quyết định bị kiện trong nội dung của bản án

Thứ sáu, về thẩm quyền yêu cầu thi hành

bản án, khoản 1 Điều 33 của Luật quy định rõ Quyết định hành chính bị toà án tuyên huỷ sẽ không còn giá trị pháp lí và buộc cơ quan hành chính cũng như các bên có liên quan phải tuyệt đối tuân theo Khoản 2 Điều này cũng yêu cầu cơ quan hay cá nhân ban hành văn bản sai thẩm quyền phải sửa chữa lại như

Trang 8

nội dung bản án đã tuyên trong thời hạn nhất

định Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là luật của

Nhật Bản cũng không cho phép toà án can

thiệp quá sâu vào hoạt động quản lí hành

chính, chẳng hạn như đối với vụ kiện liên

quan đến việc chi trả tiền phúc lợi xã hội, toà

án có thể buộc cơ quan hành chính phải thanh

toán theo hạn định thời gian, nhưng cho phép

cơ quan hành chính tự tính toán khoản tiền

phải chi trả theo đúng quy định của pháp luật

Cuối cùng, Điều 21 của Luật cho phép

toà án đang thụ lí, theo đơn kiện của người

khởi kiện có quyền cho phép họ thay đổi yêu

cầu sang kiện nhà nước hay cơ quan công

quyền có liên quan đến vụ việc đang giải

quyết mà không cần thiết phải mở vụ án mới

Ở Nhật Bản, các vụ kiện mà trong đó một

bên đương sự yêu cầu nhà nước hoặc chính

quyền địa phương bồi thường nếu gây ra

những thiệt hại nhất định dựa theo quy định

của Luật bồi thường nhà nước, Luật kiện

tụng hành chính, Luật tố tụng dân sự và nó

cũng được xem như là một vụ kiện dân sự

Tóm lại, dưới góc độ nghiên cứu lí luận

luật hành chính hiện đại, kết hợp với tham

khảo kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt là

Nhật Bản - quốc gia thành công trong việc

tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài và hiện tại

có nhiều dự án trợ giúp pháp lí tích cực đối

với Việt Nam, tác giả bài viết nhấn mạnh

tầm quan trọng của yêu cầu hoàn thiện chế

định giám sát hoạt động của cơ quan hành

chính nhà nước bằng cơ chế tài phán, trong

đó ủng hộ quan điểm nên xây dựng nhiều

kênh giải quyết các tranh chấp hành chính (cơ

quan giải quyết khiếu nại, toà án, cơ quan tài

phán hành chính), giúp người dân có quyền tự

do lựa chọn tuyệt đối con đường giải quyết

hiệu quả nhất Tác giả cũng đồng ý quan điểm không cơ quan nào có thể thay thế được vai trò của toà án trong việc đưa ra phán quyết cuối cùng nhằm đảm bảo độc lập tư pháp - nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay./

(1).Xe m: Itsuo Sonobe - Thẩ m phán tối cao Nhật Bản,

Gendai Gyoseihou Taik ei Quyển 1, 1983, tr 121 (2).Xe m: Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam,

2007, tr 229 - 311

( 3).Xe m: Mark Aronson & Bruce Dyer, Tài phán hành chính - Giới hạn tính hợp pháp của quyền lực công, 2000, tr 2

(4).Xe m: David Trubek, “ Nhà nước pháp quyền trong trợ giúp phát triển: Quá khứ, hiện tạ i và tương lai”

trích trong Vai trò của pháp luật trong sự phát triển

(The Role of Law in the Development), 2005, tr 15

(5).Xe m: North Douglas, Thể chế, sự thay đổi thể chế

và vận hành k inh tế (Institution, Institutional Change

and Economic Performance), 1990, tr 14

(6).Xe m: A o ki Masah iko , Tow ard A C o mpa rat iv e

In st i t utio nal Analysis, 2001, tr 250 - 253

(7).Xem: David Nelken, “Legal Transplants and Beyond:

Of Discipline and Metapors ”, trích trong A Hard ing

and E Orucu, Comparative Law in the 21 st Century, 2002,

tr 27; Phạ m Hồng Quang, “Hoàn thiện chế định tài phán hành chính ở Việt Na m trong tiến trình hội

nhập”, trích trong Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, sách chuyên

khảo, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009, tr 143

(8).Xe m: To m Ginsburg, Tài phán trong chế độ dân chủ mới, (Judicia l Review in Ne w De moc racies),

2003, tr 4

(9) Alan Watson, legal transplant, cấy ghép một cách

tự nguyện (voluntary transplant) trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khác với cấy ghép ép buộc trong giai đoạn thuộc địa trước đây

(10) M ishmash Xe m: John Gillespie, Khái niệm luật

ở Việt Nam (Concepts of Law in Vietnam), 2004, tr 150 (11).Xem: Ishikawa Toshiyuki, The Introductory Japanese Admini strative Law , Ha jimete no Gyoseihou , 2006,

tr 67 - 72

Ngày đăng: 22/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w