Một trong những điểm khác nhau cốt yếu nhất giữa hệ thống luật hành chính các nước trên thế giới chính là nằm ở việc xây dựng mô hình và thẩm quyền phán quyết sự vi phạm của quyền lự
Trang 1TS Ph¹m Hång Quang *
hẩm phán Toà án tối cao Nhật Bản Itsuo
Sonobe đã viết trong cuốn sách “Hệ
thống luật hành chính hiện đại”: “Hệ thống
luật hành chính của mỗi quốc gia khác nhau
bắt nguồn từ chính những đặc trưng cơ bản
của hệ thống pháp luật mà quốc gia đó sở hữu
Một trong những điểm khác nhau cốt yếu nhất
giữa hệ thống luật hành chính các nước trên
thế giới chính là nằm ở việc xây dựng mô hình
và thẩm quyền phán quyết sự vi phạm của
quyền lực hành chính, hay nói cách khác là
cách thức giám sát hoạt động quản lí hành
chính nhà nước bằng cơ chế tài phán hành
chính”.(1) Trong phạm vi bài viết này, tác giả
tập trung phân tích cách thức giám sát hoạt
động quản lí hành chính nhà nước (QLHCNN)
bằng cơ chế tài phán trên cơ sở học tập kinh
nghiệm của Nhật Bản - quốc gia chịu sự ảnh
hưởng mạnh mẽ của hai hệ thống pháp luật
tiêu biểu trên thế giới và chia sẻ nhiều kinh
nghiệm với Việt Nam trong việc tiếp nhận
pháp luật nước ngoài trong tiến trình hội nhập
1 Giám sát hoạt động QLHCNN bằng
cơ chế tài phán hành chính - Yêu cầu quan
trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam và yêu cầu hoàn thiện lí luận
luật hành chính trong tiến trình hội nhập
1.1 Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam dưới góc độ
luật hành chính và quản lí - Vấn đề mang
tính thời đại và thời sự
Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam bao gồm sáu đặc trưng hay yêu cầu cơ bản sau: 1) Nhà nước của dân, do dân và vì dân; 2) Mọi
tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 3) Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật và bảo đảm tính tối cao của luật pháp trong xã hội; 4) Nhà nước tôn trọng và bảo vệ triệt để quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, bảo đảm mối quan hệ thực sự dân chủ giữa Nhà nước và công dân; 5) Nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước nhưng có sự tách biệt rõ ràng giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 6) Nhà nước đặt dưới
Để thoả mãn các yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo các tiêu chí nêu trên, yêu cầu hoàn thiện cách thức giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền nói chung và hoạt động QLHCNN nói riêng thông qua cơ chế tài phán hành chính là tối cần thiết Đó thực sự là vấn đề mang tính
thời đại và luôn mới, bởi hai lí do: Một là
vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không thể đặt ngoài yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu từ
cuối thế kỉ XX cho đến nay; Hai là hoạt
T
* Giảng viên Khoa hành chính-nhà nước
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2động của cơ quan công quyền nói chung và
hoạt động QLHCNN nói riêng diễn ra hàng
ngày hàng giờ, luôn tiềm ẩn nguy cơ có thể
xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của
các cá nhân, tổ chức bất ki lúc nào, dù có thể
là vô tình hay cố ý Nói như học giả Mark
Aronson trong cuốn sách “Tài phán hành
chính - Giới hạn tính hợp pháp của quyền
lực công” thì giám sát hoạt động quản lí
hành chính thông qua cơ chế tài phán là vấn
đề cấp thiết nhằm đặt quyền lực hành chính
luôn ở trong khuôn khổ pháp lí và nhằm
ngăn ngừa cỗ máy hành chính quyền uy chạy
Dưới góc độ luật hành chính với nội
dung giám sát hoạt động QLHCNN bằng cơ
chế tài phán và dưới góc độ nghiên cứu về
quản lí và sự thay đổi thể chế, tác giả có một
vài bình luận về yêu cầu xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam như sau:
Trước hết, tác giả cho rằng việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam phải tiếp cận với lí luận về nhà nước
pháp quyền trên thế giới (Rule of Law,
Decey, 1885) đồng thời vẫn giữ được những
đặc trưng của Á Đông và phù hợp với thực
tiễn cách mạng và công cuộc đổi mới ở Việt
Nam Theo đó, lí luận luật hành chính Việt
Nam liên quan đến mảng tài phán hành
chính nhằm giám sát có hiệu quả hoạt động
của cơ quan công quyền cần phải có những
thay đổi nhất định, phù hợp với lí luận luật
hành chính hiện đại Kinh nghiệm của Nhật
Bản trong việc học hỏi kinh nghiệm nước
ngoài (Đức, Pháp, Mỹ) nhưng vẫn giữ được
những nét đặc trưng riêng, đặc biệt ở lĩnh
vực kiện tụng hành chính và thủ tục hành
chính, có giá trị tham khảo với Việt Nam trong giai đoan hiện nay
Thứ hai, tác giả ủng hộ quan điểm của
David Trubek trong bài viết: “Nhà nước pháp quyền trong trợ giúp phát triển” xuất bản tại Trường Đại học tổng hợp Nagoya, đã cho rằng: Trong việc giới thiệu và truyền bá những nội dung của nhà nước pháp quyền trong kỉ nguyên luật mới và phát triển hiện nay (New Law and Development), để tránh thất bại của Phong trào luật và phát triển trước đây (1960s-1970s), cần phải tiếp cận thể chế không chính thức của nhà nước pháp quyền và tránh ý tưởng một mô hình có thể
Lí luận về thể chế chính thức và không chính thức được khởi nguồn từ học giả North Douglas, trong đó ông có đề cập tầm quan trọng của sự thay đổi thể chế ngoài yếu tố chính thức như hiến pháp, luật pháp nhà nước, quyền lực nhà nước, các nguyên tắc kinh tế, hợp đồng, còn có các yếu tố không chính thức khác như quy ước xã hội, đạo đức,
Ủng hộ quan điểm nên tiếp cận thể chế không chính thức của nhà nước pháp quyền, tác giả viện dẫn lí luận và mô hình về sự thay đổi thể chế của học giả Nhật Bản Masahiko Aoki trong cuốn sách “Phân tích thể chế so sánh” Theo ông, để ngăn ngừa những khủng hoảng và cú sốc thay đổi đột ngột, các yếu tố trong thể chế cũ cần được thay đổi từ từ và phù hợp với những yếu tố
viết là: Việt Nam nên thận trọng trong việc
du nhập thể chế nhà nước pháp quyền hiện nay Là nước đang trong giai đoạn chuyển
Trang 3đổi nền kinh tế với nhiều biến động, Việt
Nam không nên tiếp nhận tất cả các yếu tố
của nhà nư ớc pháp quyền (thể chế chính
thức), sao chép hoàn toàn mô hình nhà nước
pháp quyền và cơ chế tài phán hành chính
nhằm giám sát quyền lực công giống như
các nước phương Tây, vì Việt Nam có
những yếu tố mang tính đặc thù và trong
điều kiện chưa chín muồi, trong khi các
nước phương Tây đã trải qua hàng trăm năm
kinh nghiệm Tiếp nhận thể chế không chính
thức của nhà nước pháp quyền có nghĩa là
bổ sung những yếu tố mới bên cạnh những
yếu tố đang tồn tại, những yếu tố này có thể
duy trì nhưng dần dần phải hoà hợp với
những yếu tố mới du nhập Trong trường
hợp những yếu tố cũ có thể tương phản với
yếu tố cốt lõi của nhà nước pháp quyền
nhưng không làm phương hại đến trật tự xã
hội và xâm hại quyền cá nhân, nó có thể
được chỉnh lí một cách từ từ và thận trọng
1.2 Giám sát hoạt động QLHCNN bằng
cơ chế tài phán – Nội dung lí luận cần hoàn
thiện của luật hành chính Việt Nam hiện nay
Việc giám sát hoạt động QLHCNN
thông qua cơ chế tài phán hành chính được
đánh dấu bởi sự ra đời và phát triển của mô
hình toà hành chính nằm trong hệ thống toà
án nhân dân năm 1996, cũng như luật tố tụng
hành chính, với tư cách là một ngành luật
độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Tác giả thừa nhận luật tố tụng hành chính là
ngành luật độc lập và đã được đưa vào giảng
dạy tại Trường Đại học Luật Hà Nội từ năm
1995 Tác giả cũng đồng ý với quan điểm
không xem vấn đề tài phán hành chính hay
luật tố tụng hành chính luôn là vấn đề của
luật hành chính bởi vì đây là hoạt động có tính chất tư pháp được thừa nhận ở một số
Tuy nhiên, nếu xem xét
cơ chế tài phán hành chính hay luật tố tụng hành chính tách rời với sự phát triển của luật hành chính Việt Nam (đặc biệt kể từ sau chính sách đổi mới 1986) và tách rời với việc nghiên cứu lí luận xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN như đã phân tích ở trên
sẽ là chưa có cái nhìn toàn diện Thực tế, nhiều nước trên thế giới vẫn ghi nhận nội dung giải quyết tranh chấp hành chính tại toà
án (tố tụng hành chính) hay nói cách khác là nội dung giám sát hoạt động quản lí hành chính bằng cơ chế tài phán như là chế định khắc phục hành chính (Administrative Remedy) cùng với nội dung giải quyết khiếu nại hành chính và xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước và nằm trong môn học luật hành chính (Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) Luật hành chính Việt Nam trước đây vì lí
do chiến tranh và yêu cầu phục vụ sự nghiệp cách mạng nên có thể nói ít phát triển ở khía cạnh bảo vệ triệt để các quyền của công dân trước sự xâm phạm của quyền lực công Lí luận về sự phân biệt giữa hành chính quản lí
và hành chính tài phán, vốn được xem như là hai mặt không thể tách rời của khái niệm hành chính đã được phổ biến ở các nước châu Âu lục địa có cơ chế tài phán hành chính phát triển như Pháp, Đức và ít nhiều cũng đã từng ảnh hưởng đến Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc với sự xuất hiện của mô hình Toà án hành chính Đông Dương Các nước theo hệ thống luật chung như Anh, Mỹ, Canada cũng có khuynh hướng thiết lập các
bộ phận chuyên trách trong toà án thường để
Trang 4giải quyết các vụ kiện hành chính, đặc biệt
trong các lĩnh vực bảo hiểm, thuế, phúc lợi
xã hội Nhật Bản chịu ảnh hưởng của pháp
luật Đức nên lí luận về tài phán hành chính
không hoàn toàn xa lạ mà trái lại đã rất phát
triển từ cuối thế kỉ XIX, với sự ra đời của Toà
án hành chính tối cao ở Tokyo (1890) Mặc
dù sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Toà án
này đã bị xoá bỏ nhưng mảng lí luận này vẫn
rất phát triển, minh chứng bằng việc giải
quyết vụ án hành chính vẫn tuân theo trình tự
tố tụng riêng biệt được quy định trong Luật
kiện tụng hành chính Hàn Quốc, Nga và hầu
như các nước XHCN Đông Âu trước đây đều
đã thiết lập toà án hành chính và việc giám sát
hoạt động của cơ quan công quyền bằng cơ
chế tài phán được xem là nội dung tất yếu mà
luật hành chính cần phải chú trọng trong tiến
trình xây dựng nhà nước pháp quyền và hội
nhập quốc tế Nhà luật học so sánh Tom
Ginsburg trong cuốn sách xuất bản năm 2003
với tiêu đề “Tài phán trong chế độ dân chủ
mới” (Judical Review and New Democracies)
đã nhấn mạnh: Việc phát triển lí luận về tài
phán hành chính hiện nay được xem là một
bộ phận mở rộng của luật hành chính mang
Trong tiến trình hội nhập và phát triển
hiện nay, các chuyên gia luật hành chính
Việt Nam không thể không tiếp cận và đi
theo dòng chảy của sự phát triển luật hành
chính hiện đại Thông qua việc học hỏi kinh
nghiệm nước ngoài về xây dựng nhà nước
pháp quyền, lí luận về tài phán hành chính,
đặc biệt trong việc xây dựng mô hình và
thẩm quyền cơ quan tài phán, các học giả
Việt Nam có khuynh hướng xây dựng, khái
niệm hoá các vấn đề lí luận liên quan đến lĩnh vực này phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới đồng thời đảm bảo phù hợp với năng lực nhận thức và điều kiện
áp dụng ở Việt Nam
Như vậy, để hoàn thiện chế định giám sát hoạt động QLHCNN thông qua cơ chế tài phán hành chính hiện nay, xét dưới góc độ lí luận luật hành chính và lí luận về cấy ghép
luật công Việt Nam nên tiếp cận từ cách nhìn của hệ thống luật châu Âu lục địa và cố gắng duy trì những giá trị văn hoá pháp lí châu Á Việc tiếp nhận những điểm hợp lí của pháp luật trên thế giới, việc quay trở về các gia đình luật truyền thống đang diễn ra ở các nước trong quá trình cải cách hiện nay rõ ràng không là ngoại lệ đối với Việt Nam Một số học giả cảnh báo Việt Nam nên tránh việc xây
của các nư ớc mà không có sự chọn lọc, giữ
được bản sắc riêng và những ưu việt vốn có
2 Giám sát hoạt động QLHCNN bằng
cơ chế tài phán hành chính ở Nhật Bản: Kinh nghiệm và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Nhật Bản đã trải qua 120 năm kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện chế định giám sát hoạt động QLHCNN bằng cơ chế tài phán, kể từ khi Toà án hành chính độc lập được thành lập ở Tokyo theo Hiến pháp Minh Trị năm 1889
Ảnh hưởng của hệ thống luật châu Âu lục địa với luật hành chính Nhật Bản xét dưới góc độ lí luận, trước hết phải nói đến lí luận của Otto Mayer trong cuốn sách “Luật hành chính Đức” đã thu hút rất nhiều học giả trẻ N hật Bản sang Đức du học, điển hình là
Trang 5Tatsukichi Minobe (1873 - 1948), người tiền
phong trường phái luật hành chính trước Đại
chiến thế giới lần thứ II Lí luận về nhà nước
pháp quyền (Rechtsstaat), tính độc lập toà án,
về hành vi hành chính (Verwaltungsakt hay
administrative action), về sự phân biệt rạch ròi
giữa luật công và luật tư, về sự phân chia hành
chính cai trị và hành chính phục vụ, nguyên
tắc được bảo vệ bởi luật thành văn (reservation
of statute-law) là những lí luận cơ bản của
luật hành chính Đức được truyền bá rộng rãi ở
Nhật Bản Bên cạnh đó, lí luận luật hành chính
Pháp cũng có những ảnh hưởng gián tiếp tới
các học giả luật hành chính của Nhật Bản, như
khái niệm hành chính ở Pháp bao gồm hai vấn
đề không thể tách rời, đó là vấn đề quản lí và
vấn đề tài phán, từ đó cơ quan tài phán hành
chính nên thuộc nhánh hành pháp, hoặc lí
thuyết về hành vi của chính phủ (acts of
government), quyền tự định đoạt của hành
chính (administrative discretion)…
Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, toà án
hành chính độc lập theo mô hình Đức đã bị
xoá bỏ theo Hiến pháp năm 1947, thay vào đó
là hệ thống toà án tư pháp chuyên làm nhiệm
vụ xét xử giống như hệ thống toà án của Mỹ
Điều này ảnh hưởng bởi lí luận về nhà nước
pháp quyền và độc lập tư pháp, lí luận về nhất
hệ tài phán khởi nguồn từ học giả nổi tiếng
người Anh Decey cuối thế kỉ XVIII
Mặc dù có sự pha trộn giữa hai hệ thống
pháp luật tiêu biểu, sự phát triển của chế
định giám sát hoạt động QLHCNN bằng cơ
chế tài phán của Nhật Bản vẫn có những nét
riêng và có giá trị tham khảo với Việt Nam ở
một số điểm như sau:
Trước hết, cần phải khẳng định đây là
chế định quan trọng của luật hành chính Nhật Bản, nằm ở phần thứ III với tên gọi là khắc phục hành chính Luật kiện tụng hành chính Nhật Bản không được tách ra thành môn học riêng như luật tố tụng hành chính Việt Nam Giám sát hoạt động QLHCNN ở Nhật Bản được thực hiện thông qua cơ chế tài phán hành chính (toà án), cơ chế giải quyết khiếu nại (cơ quan hành chính nhà nước cấp trên), cơ chế kiện bồi thường nhà nước (toà án) và đây chính là ba nội dung quan trọng của chế định khắc phục hành chính Cơ sở pháp lí để toà án hay cơ quan hành chính áp dụng để giải quyết vụ việc đều là các văn bản luật có giá trị pháp lí cao và có lịch sử ra đời
từ rất lâu như Luật kiện tụng hành chính (1948, 1962, 2005), Luật bồi thường nhà nước (1947), Luật khiếu nại hành chính (1962, 2006) Dự án trợ giúp pháp lí nước ngoài của Nhật Bản thông qua tổ chức JICA có nhiều
hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước, tiếp đến là các đề án tách riêng Luật khiếu nại hành chính và ban hành Luật
tố tụng hành chính Tuy nhiên, tính chưa thống nhất trong hệ thống lí luận của luật hành chính Việt Nam đã dẫn tới việc xé lẻ các nội dung của chế định khắc phục hành chính của Nhật Bản có thể áp dụng ở Việt Nam, như chế định bồi thường nhà nước và công việc nghiên cứu, giảng dạy môn luật này thuộc chuyên ngành luật dân sự
Hai là Việt Nam có thể học tập Nhật Bản
trong việc xây dựng hệ thống toà án vùng Toà án N hật Bản hiện nay bao gồm bốn cấp:
450 toà án rút gọn, 50 toà án quận được đặt
Trang 6ở 47 đơn vị hành chính trong cả nước trong
đó vùng Hokkaido có 4 toà án, 8 toà án phúc
thẩm đặt tại Tokyo, Osaka, Nagoya, Hiroshima,
Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takematsu và
Toà án tối cao đặt tại Tokyo Về nguyên tắc,
toà án tư pháp có nhiệm vụ giải quyết vụ án
hành chính, tuy nhiên trong xu hướng cải
cách hiện nay, một số toà án quận như Tokyo,
Osaka, Nagoya, Yokohama, Saitama, Chiba,
Kyoto và Kobe có thêm phân toà đặc biệt
chuyên xét xử hành chính Như vậy, có vẻ
như Nhật Bản giống với Việt Nam và Trung
Quốc trong việc thành lập mô hình toà hành
chính nằm trong hệ thống toà án nhân dân
Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn là các toà án
của Nhật Bản không phân chia theo địa giới
hành chính và Điều 12 Luật kiện tụng hành
chính quy định toà án có thẩm quyền giải
quyết thường là toà án nơi có bất động sản
hay trụ sở của chủ thể bị kiện nhưng ở vị trí
cao hơn, không phụ thuộc vào quyền lực
quản lí địa phương như trường hợp thẩm
phán toà cấp tỉnh Việt Nam phán quyết tính
hợp pháp của các quyết định bị cho là trái
pháp luật của chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh
Ba là về nội dung thẩm quyền giám sát
hành chính thông qua cơ chế tài phán (kênh
toà án) có một số kinh nghiệm của Nhật Bản
mà Việt Nam nên tham khảo:
Thứ nhất, toà án Nhật Bản không bị giới
hạn bởi các vụ việc hành chính mang tính liệt
kê Tuy nhiên, các quyết định hành chính có thể
được kiện ra toà phải thoả mãn các đặc trưng
của một quyết định hành chính (shobunsei)
như: tính quyền lực công; hiệu lực pháp lí, có
sự tác động trực tiếp và chính xác với người
khởi kiện, mối quan hệ không phụ thuộc giữa
các quyết định này rất đa dạng trong các văn bản pháp luật khác nhau, như giấy phép (permission), giấy đăng kí (patent), chấp thuận (approval), cấm đoán (prohibition) hoặc
xử phạt (sanction) Hiện nay, vấn đề còn gây nhiều tranh cãi là các hướng dẫn hành chính (administrative guidance hay gyosei shido)
có thể bị xem xét tính hợp pháp bởi toà án hay không Để giải quyết sự tranh cãi này, Luật thủ tục hành chính đã bổ sung trong Điều 2 các hướng dẫn hành chính như gợi ý việc thực hiện các chính sách, các bước tiến hành trong việc xây dựng, kinh doanh phải bảo đảm được tính tự nguyện của đối tượng khi thực hiện Một hướng dẫn sẽ không còn
là hướng dẫn khi nó mang tính bắt buộc phải thực hiện Như vậy, các toà án địa phương trong từng trường hợp cụ thể có thể xem xét một hướng dẫn hành chính dư ới dạng thông báo (notice), cảnh báo (warning), chỉ dẫn (instruction) có thoả mãn điều kiện của quyết định hành chính hay không
Thứ hai, về việc phán quyết tính hợp
pháp của các văn bản quy phạm pháp luật hành chính Mặc dù trong luật không quy định rõ thẩm quyền của toà án, tuy nhiên Điều 81 Hiến pháp quy định: Toà án tối cao
là toà án có thẩm quyển cuối cùng có quyền phán quyết bất kể đạo luật, pháp lệnh, nghị định hay quy định nào có hợp hiến hay không Như vậy, mặc dù không có toà án Hiến pháp, Nhật Bản cũng thừa nhận quyền tài phán đối với văn bản quy phạm pháp luật được trao cho Toà án tối cao Về nguyên tắc, người dân không thể khởi kiện một quy phạm pháp luật ra toà án, tuy nhiên, trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính cụ thể, toà án có quyền xem xét tính hợp hiến và hợp
Trang 7pháp của các quy phạm pháp luật mà dựa vào
đó quyết định hành chính bị kiện được ban
hành Thẩm quyền phán quyết cuối cùng
thuộc về Toà án tối cao
Thứ ba, Luật kiện tụng hành chính Nhật
Bản (1962) đã huỷ bỏ yêu cầu tiền tố tụng,
tức là phải khiếu nại lên cơ quan hành chính
đã ban hành quyết định trước khi khởi kiện
ra toà như các quy định trước đó Về nguyên
tắc, người dân có thể kiện ra toà án bất kể
lúc nào Tuy nhiên, một số luật đặc biệt cũng
quy định ngoại lệ phải qua bước khiếu nại
nhưng Luật kiện tụng hành chính cho phép
trong trường hợp quá ba tháng mà quyết
định giải quyết khiếu nại không được ban
hành hoặc trong trường hợp khẩn cấp nhằm
ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, người dân
có thể kiện ra toà án
Thứ tư, Luật kiện tụng hành chính sửa
đổi năm 2004 quy định rõ bốn loại kiện tụng
hành chính: 1) Kiện tụng các vụ việc công
(Public litgation); 2) Kiện tụng về thẩm
quyền giữa các cơ quan (Agency litigation);
3) Kiện tụng giữa các bên (Party litigation)
và 4) Kiện tụng yêu cầu huỷ bỏ, công nhận
hay gắn liền với các nghĩa vụ nhất định
(Kokoku appeal litigation), trong đó hai loại
kiện tụng đầu được gọi là kiện tụng mang
tính khách quan và hai loại còn lại là kiện
tụng mang tính chủ quan Kiện tụng yêu cầu
huỷ bỏ, công nhận hay gắn liền với các
nghĩa vụ nhất định là loại kiện tụng phổ biến
và quan trọng nhất, trong đó tập trung nhiều
nhất là kiện tụng huỷ bỏ các quyết định hoặc
hành vi hành chính trái luật Luật mới sửa
đổi bổ sung hai trường hợp tại Điều 3, đó là
vụ kiện yêu cầu cơ quan hành chính phải
thực hiện một nghĩa vụ nhất định (Gimutsuke
no uttae, khoản 6) và vụ kiện yêu cầu cơ quan hành chính phải dừng việc thực hiện hành vi nhất định (Sashitome no uttae, khoản 7) Về điều kiện để khởi kiện yêu cầu cơ quan hành chính phải dừng thực hiện hành vi nhất định, theo khoản 4 Điều 37, người khởi kiện và toà
án phải chứng minh được những thiệt hại lớn (grave loss) có thể xảy ra nếu cơ quan hành chính không dừng thực hiện hành vi Tuy nhiên, luật cũng chưa quy định rõ thế nào là thiệt hại lớn và trao quyền tự quyết cho toà án, đây cũng là điểm còn gây nhiều tranh cãi
Thứ năm, liên quan đến thẩm quyền ra
phán quyết của toà án trong từng giai đoạn, Luật kiện tụng hành chính Nhật Bản xác định rõ toà án có quyền: 1) Bác bỏ đơn khởi kiện (khi tiếp nhận đơn); 2) Bác bỏ yêu cầu (khi đã thụ lí giải quyết và nghị án); 3) Chấp nhận yêu cầu (huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định trái pháp luật) Về nguyên tắc, quyết định trái pháp luật sẽ bị toà án tuyên huỷ và không còn hiệu lực pháp lí Tuy nhiên, Điều 31 của Luật có tên gọi “Phán quyết hoàn cảnh” được coi như ngoại lệ, theo đó trong trường hợp quyết định hành chính rõ ràng là trái pháp luật nhưng sự huỷ
bỏ nó có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích công, toà án có quyền bác bỏ việc khởi kiện mặc dầu phải tuyên bố tính bất hợp pháp của quyết định bị kiện trong nội dung của bản án
Thứ sáu, về thẩm quyền yêu cầu thi hành
bản án, khoản 1 Điều 33 của Luật quy định rõ Quyết định hành chính bị toà án tuyên huỷ sẽ không còn giá trị pháp lí và buộc cơ quan hành chính cũng như các bên có liên quan phải tuyệt đối tuân theo Khoản 2 Điều này cũng yêu cầu cơ quan hay cá nhân ban hành văn bản sai thẩm quyền phải sửa chữa lại như
Trang 8nội dung bản án đã tuyên trong thời hạn nhất
định Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là luật của
Nhật Bản cũng không cho phép toà án can
thiệp quá sâu vào hoạt động quản lí hành
chính, chẳng hạn như đối với vụ kiện liên
quan đến việc chi trả tiền phúc lợi xã hội, toà
án có thể buộc cơ quan hành chính phải thanh
toán theo hạn định thời gian, nhưng cho phép
cơ quan hành chính tự tính toán khoản tiền
phải chi trả theo đúng quy định của pháp luật
Cuối cùng, Điều 21 của Luật cho phép
toà án đang thụ lí, theo đơn kiện của người
khởi kiện có quyền cho phép họ thay đổi yêu
cầu sang kiện nhà nước hay cơ quan công
quyền có liên quan đến vụ việc đang giải
quyết mà không cần thiết phải mở vụ án mới
Ở Nhật Bản, các vụ kiện mà trong đó một
bên đương sự yêu cầu nhà nước hoặc chính
quyền địa phương bồi thường nếu gây ra
những thiệt hại nhất định dựa theo quy định
của Luật bồi thường nhà nước, Luật kiện
tụng hành chính, Luật tố tụng dân sự và nó
cũng được xem như là một vụ kiện dân sự
Tóm lại, dưới góc độ nghiên cứu lí luận
luật hành chính hiện đại, kết hợp với tham
khảo kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt là
Nhật Bản - quốc gia thành công trong việc
tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài và hiện tại
có nhiều dự án trợ giúp pháp lí tích cực đối
với Việt Nam, tác giả bài viết nhấn mạnh
tầm quan trọng của yêu cầu hoàn thiện chế
định giám sát hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước bằng cơ chế tài phán, trong
đó ủng hộ quan điểm nên xây dựng nhiều
kênh giải quyết các tranh chấp hành chính (cơ
quan giải quyết khiếu nại, toà án, cơ quan tài
phán hành chính), giúp người dân có quyền tự
do lựa chọn tuyệt đối con đường giải quyết
hiệu quả nhất Tác giả cũng đồng ý quan điểm không cơ quan nào có thể thay thế được vai trò của toà án trong việc đưa ra phán quyết cuối cùng nhằm đảm bảo độc lập tư pháp - nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay./
(1).Xe m: Itsuo Sonobe - Thẩ m phán tối cao Nhật Bản,
Gendai Gyoseihou Taik ei Quyển 1, 1983, tr 121 (2).Xe m: Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam,
2007, tr 229 - 311
( 3).Xe m: Mark Aronson & Bruce Dyer, Tài phán hành chính - Giới hạn tính hợp pháp của quyền lực công, 2000, tr 2
(4).Xe m: David Trubek, “ Nhà nước pháp quyền trong trợ giúp phát triển: Quá khứ, hiện tạ i và tương lai”
trích trong Vai trò của pháp luật trong sự phát triển
(The Role of Law in the Development), 2005, tr 15
(5).Xe m: North Douglas, Thể chế, sự thay đổi thể chế
và vận hành k inh tế (Institution, Institutional Change
and Economic Performance), 1990, tr 14
(6).Xe m: A o ki Masah iko , Tow ard A C o mpa rat iv e
In st i t utio nal Analysis, 2001, tr 250 - 253
(7).Xem: David Nelken, “Legal Transplants and Beyond:
Of Discipline and Metapors ”, trích trong A Hard ing
and E Orucu, Comparative Law in the 21 st Century, 2002,
tr 27; Phạ m Hồng Quang, “Hoàn thiện chế định tài phán hành chính ở Việt Na m trong tiến trình hội
nhập”, trích trong Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, sách chuyên
khảo, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009, tr 143
(8).Xe m: To m Ginsburg, Tài phán trong chế độ dân chủ mới, (Judicia l Review in Ne w De moc racies),
2003, tr 4
(9) Alan Watson, legal transplant, cấy ghép một cách
tự nguyện (voluntary transplant) trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khác với cấy ghép ép buộc trong giai đoạn thuộc địa trước đây
(10) M ishmash Xe m: John Gillespie, Khái niệm luật
ở Việt Nam (Concepts of Law in Vietnam), 2004, tr 150 (11).Xem: Ishikawa Toshiyuki, The Introductory Japanese Admini strative Law , Ha jimete no Gyoseihou , 2006,
tr 67 - 72