Đó chính là quá trình nhận thức lý tínhcủa con người mà đặc trưng là quá trình tư duy.- Khái niệm: + Là một quá trình nhận thức + Phản ánh những thuộc tính bên trong, thuộc tính bản chất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
BỘ MÔN TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC
BÀI TẬP NHÓM CUỐI KỲ MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Chủ đề: Tư duy, tưởng tượng và ứng dụng trong cuộc sống
Trang 3hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng Đó chính là quá trình nhận thức lý tínhcủa con người mà đặc trưng là quá trình tư duy.
- Khái niệm:
+ Là một quá trình nhận thức
+ Phản ánh những thuộc tính bên trong, thuộc tính bản chất, những mối liên
hệ và quan hệ mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó tachưa biết
Ví dụ: Để biết hoa hồng thuộc hoa đơn tính hay lưỡng tính, thuộc loại giống hồng nào,
thành phần hoá học của mùi thơm, cách trồng và chăm sóc, con người cần phải tư duy,chứ không thể dựa vào cảm giác, tri giác
- Đặc điểm:
+ Tính có vấn đề:
● Nảy sinh từ hiện thực khách quan
● Chỉ nảy sinh từ những cái ta chưa biết, đang thắc mắc, và có nhu cầugiải quyết
● Mâu thuẫn phải nằm trong giới hạn nhận thức cá nhân
Ví dụ: Khi giải một bài toán khó, tư duy sẽ xuất hiện bởi bài toán khó là một tình huống
có vấn đề, chủ thể có nhu cầu giải quyết và có những tri thức liên quan đến đối tượng
+ Tính khái quát: Phản ánh những đặc điểm chung nhất, bản chất của sự vật,hiện tượng
Trang 4Ví dụ: Khi tính diện tích hình chữ nhật, công thức được sử dụng là S = (a x b) Công thức
này được dùng trong nhiều trường hợp dù cho trong mỗi trường hợp, a và b có thể lànhững con số khác nhau
+ Tính gián tiếp: Sử dụng kinh nghiệm của bản thân và công cụ, máy móc đểphát hiện ra bản chất, quy luật của sự vật
Ví dụ: Dựa trên những dữ liệu thiên văn, khí hậu thu thập được, con người dự báo được
bão
+ Có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: lấy ngôn ngữ làm phương tiện cố định
và thể hiện các sản phẩm của tư duy
● Nếu không có ngôn ngữ thì sản phẩm của tư duy không có gì để biểuđạt và người khác không thể tiếp nhận, các thao tác của tư duy cũngkhông thể diễn ra được
● Nếu không có tư duy (với sản phẩm của nó) thì ngôn ngữ chỉ là mộtchuỗi âm thanh vô nghĩa, không có nội dung
Ví dụ: Trong quá trình tư duy giải bài tập toán thì phải sử dụng các công thức, kí hiệu,
khái niệm được biểu hiện dưới dạng ngôn ngữ, nếu không có ngôn ngữ thì chính bản thânngười đang tư duy cũng không thể giải được bài tập
+ Có quan hệ với nhận thức cảm tính:
● Nhận thức cảm tính là cơ sở, là nơi cung cấp nguyên liệu cho tư duy
Tư duy dựa vào nhận thức cảm tính, không tách rời nhận thức cảmtính và thường bắt đề từ nhận thức cảm tính
● Ảnh hưởng đến kết quả của nhận thức cảm tính
Ví dụ: Khi tư duy thiết kế nội thất cho căn nhà thì cảm giác, tri giác sẽ giúp cho bản thiết
kế đó có màu sắc, ánh sáng hài hòa, trang trí nội thất đẹp mắt
- Các giai đoạn của tư duy:
Trang 5- Các thao tác của tư duy:
+ Trừu tượng và khái quát hóa:
● Trừu tượng hóa: dùng trí óc gạt bỏ những mặt, những thuộc tínhkhông cần thiết, giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư duy
● Khái quát hóa: hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm,một loại theo thuộc tính, quan hệ chung nhất định
Trang 62, Tưởng tượng
Trong thực tế, không phải bất cứ tình huống có vấn đề nào ta cũng đề giải quyết bằng tưduy Có nhiều trường hợp, khi đứng trước tình huống có vấn đề con người không thểdùng tư duy để giải quyết được mà phải dùng một quá trình nhận thức khác gọi là tưởngtượng
- Đặc điểm:
+ Xuất hiện trước tình huống, có tính không rõ ràng
+ Giải quyết vấn đề không theo trật tự
+ Hình ảnh tưởng tượng mang tính khái quát và đại diện cao hơn so với trínhớ
+ Liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính
- Các loại tưởng tượng:
+ Tưởng tượng tích cực và tưởng tượng tiêu cực
● Tưởng tượng tích cực là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnhnhằm đáp ứng những nhu cầu và kích thích tính tích cực thực sự củacon người Tưởng tượng tích cực bao gồm tưởng tượng tái tạo vàtưởng tượng sáng tạo:
Trang 7* Tưởng tượng tái tạo là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh mớiđối với cá nhân người tưởng tượng dựa trên sự mô tả của ngườikhác.
Ví dụ: Học sinh sau khi đọc xong “Người lái đò sông Đà” sẽ tưởng tượng ra hình ảnh
người lái đò trên nền cảnh tượng sông Đà hùng vĩ
* Tưởng tượng sáng tạo là loại tưởng tượng xây dựng hình ảnh mớimột cách độc lập Hình ảnh này chẳng những mới đối với cá nhânngười tưởng tượng mà còn mới đối với cả xã hội Loại tưởng tượngnày có giá trị cao đối với sự tiến bộ của loài người
Ví dụ: Xi-ôn-cốp-xki sáng tạo ra mô hình tàu vũ trụ.
→ Tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo có quan hệ chặt chẽ với nhau Những cáimới chỉ xuất hiện khi yêu cầu phát triển đã chín muồi và bao giờ cũng xuất hiện từ tronglòng cái cũ Cho nên không thể tưởng tượng sáng tạo khi chưa có tưởng tượng tái tạo mộtcách nhuần nhuyễn
● Tưởng tượng tiêu cực là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnhkhông thể hiện thực hóa trong cuộc sống Loại tưởng tượng này cóthể có chủ định hoặc không có chủ định Trong tưởng tượng tiêucực, mặc dù có chủ định - có sự tham gia của ý thức nhưng khônggắn liền với ý chí để hiện thực hóa hình ảnh tưởng tượng trong cuộcsống Loại tưởng tượng không chủ định chủ yếu xảy ra khi không có
sự tham gia của ý thức như khi ngủ mơ, mộng du, mắc bệnh hoangtưởng
Ví dụ: Mơ mộng trở thành một nhà bác học nhưng lại thiếu cố gắng, lười học,
+ Ước mơ và lý tưởng:
● Ước mơ là hình ảnh tốt đẹp về tương lai, có sức hấp dẫn đặc biệt,giúp cho con người tăng thêm sức mạnh trong hoạt động Đây là loạitưởng tượng sáng tạo nhưng không trực tiếp hướng vào hoạt độngtrong hiện tại
● Lí tưởng là loại tưởng tượng tích cực có tính hiện thực cao hơn ước
mơ Đó là một hình ảnh chói lọi, rực sáng, cụ thể, hấp dẫn của sựmong muốn trong tương lai Nó là một động cơ mạnh mẽ thúc đẩycon người vươn tới tương lai tươi sáng, đẹp đẽ
Trang 8- Các cách sáng tạo của tưởng tượng:
+ Thay đổi kích thước, số lượng của sự vật hay thành phần của sự vật
Ví dụ: người khổng lồ, người tí hon, tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay,
+ Nhấn mạnh các chi tiết, thành phần, thuộc tính của sự vật
Ví dụ: tranh biếm họa, phương pháp cường điệu trong tác phẩm văn học,
+ Chắp ghép (kết dính): Ghép các bộ phận của nhiều sự vật, hiện tượng khácnhau tạo ra hình ảnh mới
Ví dụ: các sinh vật trong thần thoại như rồng (đầu sư tử, mình rắn, chi thú), Nue (đầu khỉ,
chân hổ, thân chồn, đuôi rắn), người sói (nửa người nửa sói),
+ Liên hợp: tạo ra hình ảnh mới bằng cách liên hợp các bộ phận của nhiều sựvật khác nhau, nhưng các bộ phận đều được cải biến và sắp xếp trong mốitương quan mới
Ví dụ: xe tăng lội nước, thủy phi cơ,
+ Điển hình hóa: tạo ra hình ảnh mới phức tạp nhất, trong đó các thuộc tínhđiển hình, các đặc điểm điển hình của nhân cách như là một đại diện chogiai cấp hay tầng lớp xã hội nhất định
Ví dụ: Chí Phèo (truyện ngắn Chí Phèo - tác giả Nam Cao): tượng trưng cho người nông
dân tha hóa do đói nghèo, ông Hai (truyện ngắn Làng - tác giả Kim Lân): tượng trưngcho người nông dân một lòng theo cách mạng,
+ Loại suy: sáng tạo hình ảnh mới trên cơ sở mô phỏng, bắt chước những chitiết, những bộ phận, những sự vật có thật
Ví dụ: máy bay - chim, kìm - tay người,
- Vai trò:
+ Cho phép con người hình dung được kết quả trung gian và cuối cùng củalao động
+ Hướng con người về tương lai, kích thích con người hoạt động
+ Ảnh hưởng đến việc học tập, giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách
3 Quan hệ giữa tư duy và tưởng tượng:
- Giống nhau:
+ Đều phản ánh cái mới, những cái chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân
Trang 9+ Đều là mức độ cao của quá trình nhận thức (đều nằm trong bậc thang nhậnthức lý tính).
+ Đều mang tính khái quát và phản ánh gián tiếp; có quan hệ chặt chẽ vớingôn ngữ và nhận thức cảm tính; lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra tínhđúng đắn
+ Đều được nảy sinh trước tình huống có vấn đề và đều hướng vào giải quyếtcác tình huống có vấn đề
Về phương thức phản ánh Phản ánh cái mới thông qua
khái niệm, suy lý theo mộtlogic nhất định
Phản ánh cái mới bằngcách nhào nặn, chắp ghépthành những hình ảnh mớidựa trên những biểu tượng
đã cóSản phẩm Khái niệm, phán đoán, suy
Trang 10II, ỨNG DỤNGTÌNH HUỐNG SỐ 1:
Âm thanh của tư duy
Nhà nhân chủng học người Mỹ Betty Hart và Toddy R Risley đã tiến hành một cuộckhảo sát mà ở đó, họ dành thời gian để quan sát các gia đình thuộc nhiều thành phần kinh
tế trong xã hội trong bốn năm Họ quan sát số lượng và các loại từ mà các bậc cha mẹ nóivới con họ từ khi chúng sinh ra cho tới khi 4 tuổi
Đặc biệt, các từ ngữ phát ra từ tivi không được tính đến
Kết quả thu nhận được: một đứa trẻ sinh ra trong gia đình trí thức nghe được 48 triệu từcho đến năm 4 tuổi Trong khi đó, một đứa trẻ trong gia đình nhận trợ cấp chỉ nghe được
13 triệu từ Đặc biệt, trẻ em sống trong gia đình trợ cấp ghi nhận mức IQ trung bình là 75
và trẻ em sống trong gia đình có bố/mẹ là giáo sư có mức IQ trung bình là 119 Trẻ emtrong gia đình lao động đạt mức 99
(Trích Mapping Ignorance, “Surviving ‘the early catastrophe’”, dựa trên nghiên cứu
năm 1995 của Betty Hart và Toddy R Risley)
Trang 11Đối tượng chính của cuộc khảo sát là các em bé từ khi sinh ra đến khi bốn tuổi Đây làkhoảng thời gian quan trọng giúp trẻ bắt đầu hình thành và phát triển tư duy của bản thânthông qua quá trình phân tích - tổng hợp, so sánh và trừu tượng hóa và khái quát hóa.Trong quá trình này, trẻ dần dần sử dụng khả năng ngôn ngữ mà chúng học được từ thếgiới xung quanh để có thể biểu đạt khả năng tư duy của mình Đặc biệt, qua thí nghiệm,
có thể thấy: trẻ càng tiếp thu và sử dụng được nhiều từ vựng, trí thông minh của trẻ càngcao Điều này đã cho thấy ngôn ngữ chính là phương tiện giúp tư duy phát triển Nếukhông có ngôn ngữ, quá trình tư duy sẽ khó có thể diễn ra được
Các nhà nghiên cứu còn cho rằng: Sở dĩ có sự khác biệt trong chỉ số IQ giữa các nhómgia đình là bởi cách các bậc phụ huynh giao tiếp với con cái của họ Ví dụ, nhóm gia đìnhtrí thức luôn cố gắng giúp trẻ phát triển tư duy phản biện dựa trên việc liên tục đặt ra cáccâu hỏi và tạo ra những cuộc thảo luận về những ý tưởng trừu tượng Họ luôn cố gắngdạy con trẻ những kỹ năng mà họ cho là cần thiết trong cuộc sống Mặt khác, những bố
mẹ sống trợ cấp dạy con họ sự cần thiết của việc vâng lời, sống theo mong đợi của mọingười, và bày tỏ lòng kính trọng với bậc trên Như vậy, cả hai nhóm gia đình đều đang cốgắng dạy con học cách đối mặt với thế giới mà họ biết theo trải nghiệm cá nhân của họ
2 Một số giải pháp góp phần thúc đẩy khả năng tư duy thông qua phương tiện ngônngữ:
- Cha mẹ nên dành nhiều thời gian để trò chuyện cùng con cái Theo một nghiêncứu, những trẻ em nói chuyện với cha mẹ thường xuyên có vùng ngôn ngữ vậnđộng phát triển mạnh mẽ hơn Đây là vùng não tập trung sản xuất lời nói và xử lýngôn ngữ Khi trẻ trò chuyện nhiều, vùng ngôn ngữ vận động sẽ hoạt động tíchcực Qua đó, những đứa trẻ được giao tiếp thường xuyên sẽ đạt điểm cao trong cácbài kiểm tra về ngôn ngữ cũng như các bài kiểm tra tư duy
- Cha mẹ nên khuyến khích trẻ đặt câu hỏi Trẻ có đặt câu hỏi nghĩa là tư duy củatrẻ đang phát triển, trẻ ham muốn học hỏi và tiếp nhận kiến thức Vì vậy, cha mẹnên khuyến khích con đặt câu hỏi bằng cách cố gắng giải đáp các câu hỏi mà conđặt ra, đồng thời, đặt thêm câu hỏi mở ngược lại cho con giải đáp, ví dụ: “Tại saocon lại nghĩ thế?”, “Cha/mẹ muốn nghe suy nghĩ của con về vấn đề này” … Việctừng bước gợi ý để trẻ tự hoàn thiện câu trả lời sẽ là cách hữu hiệu giúp trẻ hiểusâu và hiểu đúng vấn đề hơn
Trang 12- Cha mẹ nên hình thành thói quen đọc sách cho trẻ Trên thị trường hiện nay cónhiều sách phát triển tư duy ví dụ như “Bản đồ tư duy cho trẻ thông minh” - TonyBuzan, “Dạy con tư duy” - Deeper Ocean, “Những Tuyệt Chiêu Dạy Trẻ Tư Duy”– Maria Chesley Fisk … Việc trẻ được tạo thói quen đọc sách từ sớm sẽ giúp tăngkhả năng đọc hiểu và tiếp nhận thông tin và xử lý vấn đề.
Trang 13TÌNH HUỐNG SỐ 2:
Chuyện quả táo của Newton
Vào một ngày mùa thu, Newton ngồi đọc sách trong vườn hoa, bỗng nhiên một quả táotrên cây rơi xuống “bịch” một tiếng trúng đầu Ông xoa đầu, nhìn quả táo chín lăn xuốngvũng bùn Quả táo đã cho ông một gợi ý làm ông nghĩ miên man
“Quả táo chín rồi, tại sao lại rơi xuống đất? Tại vì gió thổi chăng? Không phải, khoảngkhông rộng mênh mông, tại sao lại phải rơi xuống mà không bay lên trời? Như vậy tráiđất có cái gì hút nó sao? Mọi vật trên trái đất đều có sức nặng, hòn đá ném đi rốt cuộc lạirơi xuống đất, trọng lượng của mọi vật có phải là kết quả của lực hút trái đất không?”Sau này, Newton rút ra kết luận: Mọi vật đều chịu sức hút của trái đất, mặt trăng cũngchịu sức hút của trái đất, đồng thời trái đất cũng chịu sức hút của mặt trăng; trái đất chịusức hút của mặt trời, mặt trời đồng thời cũng chịu sức hút của trái đất Nói một cách khác
là vạn vật trong vũ trụ đều có lực hấp dẫn lẫn nhau, vì có loại lực hấp dẫn này mà mặttrăng mới quay quanh trái đất, trái đất mới quay quanh mặt trời
Chuyện quả táo rơi xuống đất chứng tỏ trái đất có lực hút quả táo, đương nhiên quả táocũng có lực hút của quả đất, nhưng lực hút của trái đất đối với quả táo lớn nên quả táo rơixuống đất Nếu ta coi mặt trăng là một quả táo khổng lồ, như vậy trái đất cũng có lực hút
nó, vậy tại sao nó không rơi xuống mặt đất? Vì mặt trăng là một quả táo lớn, sức hút củatrái đất đối với nó không đủ để làm nó rơi xuống đất, chỉ có thể làm nó quay quanh tráiđất mà thôi Đối với mặt trời thì trái đất cũng là một quả táo khổng lồ, nó quay quanh mặttrời
Vào buổi tối khi nhìn lên bầu trời thấy vô vàn những vì sao đang nhấp nháy, giữa chúngđều có lực hút lẫn nhau Đây chính là định luật “Vạn vật hấp dẫn” nổi tiếng của Newton
(Trích Chuyện quả táo của Newton – Nguồn gốc ra đời Định luật vạn vật hấp dẫn, 2018).
Trang 141 Dựa theo kiến thức đã học, phân tích các thao tác cơ bản của tư duy trong tìnhhuống trên:
- Phân tích - tổng hợp:
+ Phân tích: Trong quá trình nghe, cảm nhận tiếng “bịch” của quả táo rơi trúngđầu và quan sát quả táo lăn xuống vũng bùn, Newton đã dùng trí óc để phânchia đối tượng thành nhiều phần khác nhau; từ đó đi sâu vào tìm hiểu từngphần Trước hết, ông tự hỏi mình “Quả táo chín rồi, tại sao lại rơi xuống đất?Tại vì gió thổi chăng?”, sau một quá trình tư duy ông lại tự phủ nhận và tiếptục thắc mắc “Tại sao lại phải rơi xuống mà không bay lên trời? Như vậy tráiđất có cái gì hút nó sao? Mọi vật trên trái đất đều có sức nặng, hòn đá ném đirốt cuộc lại rơi xuống đất, trọng lượng của mọi vật có phải là kết quả của lựchút trái đất không?” Như vậy, Newton đã tiến hành phân tích vấn đề để từngbước tìm ra hướng giải quyết mới
+ Tổng hợp: Sau quá trình phân tích, ông đã hợp nhất các thuộc tính, bộ phậnđược tách rời thành một chỉnh thể: Chuyện quả táo rơi xuống đất chứng tỏtrái đất có lực hút quả táo, đương nhiên quả táo cũng có lực hút của quả đất,nhưng lực hút của trái đất đối với quả táo lớn nên quả táo rơi xuống đất
- So sánh: Newton đã tư duy để xác định sự giống hay khác nhau, sự đồng nhấthay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau của sự vật, hiệntượng Ông bắt đầu so sánh mặt trăng với quả táo: “Nếu coi mặt trăng là mộtquả táo khổng lồ, như vậy trái đất cũng có lực hút nó, vậy tại sao nó khôngrơi xuống mặt đất?”
- Trừu tượng và khái quát hóa:
+ Trừu tượng hóa: Newton đã áp dụng phương pháp gạt bỏ những mặt thuộctính, những liên hệ không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho
tư duy: “Quả táo chín rồi, tại sao lại rơi xuống đất? Tại vì gió thổi chăng?Không phải” Ông cho rằng sức hút của trái đất không đủ để làm mặt trăngrơi xuống đất, chỉ có thể làm nó quay quanh trái đất mà thôi
+ Khái quát hóa: Bằng cách hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành mộtnhóm, một loại theo những thuộc tính, những quan hệ chung nhất định,Newton đã đi đến kết luận: “Mọi vật đều chịu sức hút của trái đất, mặt trăng