1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình lịch sử việt nam (tập iv từ 1858 đến 1918) phần 2

195 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 4 Việt Nam từ 1885 đến cuối thế kỷ XIX
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Giáo trình lịch sử Việt Nam (tập IV từ 1858 đến 1918)
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 31,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợi dụng sự rối loạn của quân Pháp, lực lượng kháng chiến do Hoàng Đình Kinh cầm đầu và các lực lượng nghĩa quân ở vùng đổng bằng, trung du Bắc Kì nhanh chóng được tổ chức lại, vừa đánh

Trang 1

ChươNq 4

VIỆT NAM TỪ 1885 ĐẾN c u ố i THÊ KỈ XIX

NỘI DUNG CHƯƠNG

- Tinh hình Việt Nam sau các hiệp ước Hácmãng và Patơnốt Sự phân hoá trong nội bộ triều đình Huế Cuộc tấn công quân Pháp của phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu (tháng 7/1885)

- Vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành hạ chiếu Cần Cương Sĩ phu và nhân dân

cả nước hưởng ứng Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng ra khắp cả nước

- Thực dân Pháp tiếp tục chính sách bình định bằng quân sự và bước đầu thiết lập chế độ thuộc địa tại Việt Nam

- Những biến đổi về kinh tế - xã hội nước ta trong những năm cuối thế kỉ XIX

I NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐÂU TRANH CHỐNG CHÍNH SÁCH BÌNH ĐỊNH CỦA THỰC DÂN PHÁP

1 Tình hình Việt Nam sau các hiệp ước 1883 và 1884

a Nhà Nguyễn đâu hàng thực dân Pháp Nhân dân Việt Nam tiếp tục đứng lên chống xâm lược

Sau hai hiệp ước: Hácmăng (25/8/1883) và Patơnốt (6/6/1884), Nhà nước phong kiên Việt Nam độc lập đã bị sụp đổ hoàn toàn Các hiệp ước này đã xác định quyền thống trị của tư bản Pháp trên đất nước ta, đồng thời xác định luôn

vị trí tay sai của Nhà nước phong kiến Nguyễn đối với nền thống trị ấy

Liền sau Hiệp ước Patơnốt, thực dân Pháp đã rơi vào một tình thế khó xử, phải đối phó với một tình thế chính trị vô cùng rối ren

Thứ nhất: Sau khi nhà Nguyễn đầu hàng toàn bộ, phong trào kháng chiến

của nhân dân Việt Nam tiếp tục bùng nổ Các căn cứ, các trung tâm, các đạo nghĩa quân chống Pháp tiếp tục xuất hiện

Thứ hai: Tuy đã có Quy ước Thiên Tân (11/5/1884) nhưng quãn Thanh vẫn

dùng dằng chưa chịu rút khỏi lãnh thổ Bắc Kì Trong khi đó, phe chu chiến

166

Trang 2

trong triều đình Huế đang khẩn trương chuẩn bị, quyết một phen sống mái với quân thù.

Mười tám ngày sau khi Hiệp ước Patơnốt được kí kết, quân Pháp thua to ở cầu Quan Âm (23/6/1884) rồi' sau đó là trận Bắc Lộ (24/6/1884) khiến Nội các Pheri chao đảo Lợi dụng sự rối loạn của quân Pháp, lực lượng kháng chiến do Hoàng Đình Kinh cầm đầu và các lực lượng nghĩa quân ở vùng đổng bằng, trung du Bắc Kì nhanh chóng được tổ chức lại, vừa đánh địch bảo vệ xóm làng, vừa ngăn chặn các cuộc hành quân bình định liên miên của thực dân Pháp

Để đối phó với các lực lượng yêu nước trên chiến trường Bắc Kì, thực dân Pháp đã phải huy độhg đến một lực lượng quân đội lớn đông đến trên 2 vạn do các tướng lĩnh, các đô đốc sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm làm tư lệnh, đồng thời

ra sức sử dụng lực lượng nguỵ binh cũng như bọn phong kiến Nam triều, vừa đe doạ, vừa phủ dụ dân chúng

Tuy vậy, mọi nỗ lực của thực dân Pháp, từ Tướng Buê, Đô đốc Cuốcbê đến Tướng Milô đều bị thất bại

Cuối tháng 6/1884, các đạo nghĩa quân xuất hiện ngày càng nhiều ở đổng bằng và trung du Bắc Kì như Hà Nội, úng Hoà, Thanh Oai, Hoài Đức(l) Ngoài những khu vực quân Pháp lập đồn bốt, đóng quân thường trực, nhân dân hầu như vẫn làm chủ các địa phương còn lại

Sát gần Hà Nội như Hoài Đức, Vĩnh Thuận, nghĩa quân chống Pháp đã hoạt động không kể ngày đêm Tại Sơn Tây, nghĩa quân do Lê Quán Chi cầm đầu đã xây dựng căn cứ ở Bùi Xá Ở Bắc Ninh, từ ngày 12 đến 26 tháng 7 năm 1884, nghĩa quân kịch chiến với giặc ở căn cứ Ngọc Trì

Khắp lưu vực sông Thái Bình, nghĩa quân tung hoành ngang dọc Thực dân Pháp phải điều các chiến thuyền Lahasơ, Mátscơtông, Áccơbuy, Lamátxuy

đi thanh tảo, trấn áp nhưng không sao phá nổi các ổ đề kháng của quàn ta

Tại lưu vực sông Cầu, mọc lên hàng loạt căn cứ kháng chiến, mạnh nhất là các căn cứ ở Vạn Cót và Thượng Đồng Ngày 3/8/1884, địch huy động một lực lượng lớn gồm 400 tên đánh phá ác liệt rồi cho thiêu huỷ cả hai cãn cứ này.Tại Hà Nam, Nam Định, các toán nghĩa binh cùng hoạt động mạnh Họ có căn cứ Lai Thông Trong những tháng cuối năm 1884, thực dân Pháp phải giăng quân ra, đối phó hết sức vất vả với phong trào nhân dân kháng chiến ở vùng Chũ - Lục Nam (Bắc Giang) Sang đầu năm 1885, nghĩa quân hoạt động mạnh

(l) Đ ại N am Thực lục chính biên - đệ lục kỉ, NXB Khoa học xã hội, H 1997, Tr 57.

Trang 3

ở các tỉnh: Sơn Tây, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Bấc Ninh, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hoá Các đồn binh giặc ở vùng sông Thao, sông Đà cũng liên tiếp bị quấy rối Ngày 10/3/1885, nghĩa quân tập kích tàu Gácniê của địch trên sông Thao (gần Hưng Hoá) sau đó đánh lui tiểu đoàn Ximông khiên chúng phải cầu cứu tiểu đoàn Milô đến giải vây.

Trên khắp vùng trung du Bắc Kì, lực lượng kháng Pháp vẫn làm chủ tình thế Bên cạnh các toán nghĩa binh người Kinh, còn xuất hiện các nhóm nghĩa binh người Mường ở Hoà Bình, Phú Thọ, Thanh Hoá

Ngoài việc tổ chức các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, phong trào phản đối Hoà ước Hácmăng và Patơnốt tiếp tục dâng cao

Trước thái độ lấn lướt của thực dân Pháp và sự bạc nhược của triều đình Huế, đa số quan lại, tỉnh thần Bắc Kì đều không chịu phục tùng đám công sứ Pháp được cử đến theo Điều ước Hácmăng Để tỏ thái độ, nhiều người đã tử tiết như tri huyện Trần Đôn Có người trả lại ấn tín cho triều đình rồi mộ quân chống giặc như Tiễu phủ sứ Lương Tuấn Tú ở Cao Bằng - Thái Nguyên; Đô đốc

Tạ Hiện ở Nam Định, Tán tương quân thứ Sơn Tây Nguyễn Thiện Thuật, án sát Thái Bình Phạm Vũ Mẫn, Tri phủ Kiến Xương Hoàng Văn Huề, Tán lí quân thứ Bắc Ninh Nguyễn Cao, Tuần phủ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích, Bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp, Tuần phủ Lạng Sơn Lã Xuân Oai, Tham biện các

vụ Đỗ Huy Liệu

Cũng có người không chịu hợp tác với chính quyền của giặc, khước từ mọi chức tước của chúng như Tổng đốc Nguyễn Khuyến, Học sĩ Nguyễn Trực, sung quân thứ Sơn Tây Nguyễn Đức Nhuận, Thị độc học sĩ Thành Ngọc uẩn.Phong trào yêu nước chống Pháp và chống phong kiến đầu hàng trong những năm 80 của thế kỉ XIX tiếp tục nổ ra ở Nam Bộ (nơi thực dân Pháp

đã chiếm đóng từ năm 1867 và thiết lập một bộ máy cai trị, đàn áp bằng quân

sự hết sức khốc liệt) Năm 1882 tại Long An nổ ra vụ mưu khởi nghĩa của Nguyễn Văn Quá, Nguyễn Văn Xe, Huỳnh Văn Trịnh Năm 1885, Phan Văn Bường, Phan Văn Hớn tập hợp lực lượng nổi dậy, trừng trị tên đóc phủ tàn bạo, Trần Tử Ca

Chính phong trào chống xâm lược của nhân dân các địa phương đã trở thành cơ sở và nguồn cổ vũ quan trọng cho phái chủ chiến trong triều đình Huế, thúc đẩy họ mạnh dạn hành động và ra tay quyết liệt từ sau tháng 7/1883

Sự có mặt của quân Thanh đã làm nảy sinh xu hướng cầu cứu phona kiến Trung Hoa và là lí do khiến Tự Đức chư.1* chịu chấp nhận ngay một điều ước thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, giống như Điều ước ngày 12/8/1 §81 giữa Pháp

Trang 4

và Tuynidi Tuy nhiên, quân Thanh kéo sang Việt Nam không phải để bảo vệ nhà Nguyễn, làm bổn phận của nước Thiên triều mà là để gây sức ép, phân chia quyền lợi với thực dân Pháp.

b Sự phán hoá trong nội bộ triều đình H uế và hành động của phe chủ chiến

Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhất là trong quá trình triều Nguyễn bàn bạc thảo luận tìm phương sách đối phó, trong nội bộ triều đình Huế đã xuất hiện hai luồng tư tưởng: chủ chiến và chủ hoà Hai luồng

tư tưởng này mâu thuẫn nhau, đối lập nhau, cũng có khi cân bằng nhau (lúc vua

Tự Đức còn sống)

Từ sau khi Tự Đức mất (17/7/1883), sự phân hoá trong nội bộ triều đình Huế đã diễn ra gấp rút và quyết liệt, dẫn đến cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe: "chủ chiến" và "chủ hoà" Trong đó, phe chủ chiến không muốn khuất phục trước quyền thống trị của thực dân Pháp, trước hết là về nội trị Còn phe chủ hoà thì muốn bắt tay với Pháp để chia sẻ quyền thống trị

Cơ sở và chỗ dựa của phe chủ chiến là các lực lượng chống Pháp trong nhân dân Còn chỗ dựa của phái chủ hoà là thực dân Pháp Vì thế mâu thuẫn, xung đột giữa hai phe đã thường xuyên xảy ra Trong khi phái chủ hoà (thực chất là đầu hàng) ngày càng gắn bó với thực dân Pháp, nhất nhất làm theo mệnh lệnh của chúng, thì phái chủ chiến cũng tìm mọi cách để đối phó

Với cương vị là những phụ chính đại thần, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (chủ yếu là Tôn Thất Thuyết)(l) đã ra sức liên kết lực lượng, chuẩn bị mọi mặt để chờ ngày sống mái với quân thù >

Dựa vào quyền lực của mình, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết kiên quyết phế bỏ những ông vua có tư tưởng thân Pháp (do những người có thế lực trong hoàng gia thuộc phái chủ hoà đưa lên)

Chỉ trong vòng 6 tháng sau khi Tự Đức chết, liên tiếp đã có ba ông vua bị phế, lập

Đầu tháng 12/1883, vua Hiệp Hoà bị phế vì ông ta có ý muốn chấp nhận nền bảo hộ của Pháp, hơn nữa còn thông đồng với Pháp tìm cách hạn chế quyền hành của Tôn Thất Thuyết (đổi ông từ Bộ Binh sang Bộ Lại) và cuối cùng định giết cả Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường

(l) Lúc đó ba vị: Tôn Thất Thuyết (Thượng thư Bộ Binh), Nguyễn Văn Tường (Thượng thư

Bộ Lại) V " Trần Tiễn Thành được triều đình cử làm phụ chính, trong phụ chính Hội đồng.

Trang 5

Con nuôi thứ ba của Tự Đức là ư n g Đăng được lập làm vua, hiệu là Kiến Phúc Đổng thời đệ nhất phụ chính đại thần là Trần Tiễn Thành bị giết (ông này

bị xem là người đứng đầu phái chủ hoà) Tuy Lý Vương Miên Trí cùng gia quyến trốn xuống tàu Vipe của Pháp bị bắt và bị đưa đi quản thúc Nội các tham biện Hồng Tham, Lại bộ tham tri sang Bắc Kì Phó Khâm sai Hồng Phì bị

xử chém Gia Hưng quận vương cùng bọn công tử con cháu của Miên Trì, Miên Tăng cả thảy có đến trên hai mươi người đều bị giáng làm tôn thất và đưa về các địa phương giam giữ

Lợi dụng sự sơ hở của Hiệp ước Hácmăng không có khoản nào nói tới vấn

đề quân sự của triều đình, Tôn Thất Thuyết đã cho tuyển mộ thêm binh lính, cho thành lập và củng cố các sơn phòng thay cho các quân thứ thời Tự Đức và cắt cử quan lại trông coi chu đáo

Tại Kinh đô, Tôn Thất Thuyết cho tổ chức và đẩy mạnh việc huấn luyện hai đội quân Phấn Nghĩa và Đoàn Kiệt Lại ra lệnh cho các sơn phòng từ Ninh Bình tới Quảng Trị và từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận phải lo dốc sức xây dựng đồn luỹ, đắp thành, đào hào, xây cất nha Thự, kho súng, nhà lín h

Chỉ huy xây dựng và củng cố các sơn phòng là các sơn phòng sứ, thường được chọn trong những người thuộc phe chủ chiến Các sơn phòng được xây dựng ở những nơi có địa hình hiểm yếu, công việc xây dựng đồn luỹ thì được giao cho binh lính ở các tỉnh có sơn phòng đảm nhiệm

Nổi tiếng nhất trong các sơn phòng mà phe chủ chiến xây dựng thời kì này

là sơn phòng Tân Sở, nơi sẽ giữ một vai trò trọng yếu trong phong trào Cần Vương sau này

Tân Sở nằm trên đường Lao Bảo - Mai Lĩnh cách huyện lị Cam Lộ (Quảng Trị) 15km có núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở Từ cuối năm 1883, Tôn Thất Thuyết đã cho bí mật xây dựng tại đây một bức thành dài hơn l/2km , rộng gần nửa cây số trên một khu đất rộng chừng 20 hécta, xung quanh trồng các hàng rào tre dày đặc Bên trong là các kho lương, doanh trại của quân lính, chuồng voi, chuồng ngựa và một lớp thành nội Trong thành nội dài khoảng 165mét, ngang 100 mét có hành cung, kho lẫm và trại lính

Vào Tân Sở có một vài con đường mòn, kín đáo và khó phát hiện Còn từ Tân Sở đi cũng có các con đường thông ra Bắc Rải rác trên các con đường này, nằm sâu trong rừng, có nhiều kho chứa lúa, chứa muối kín đáo, giao cho những người tin cẩn canh giữ

Từ hai nãm trước khi nổ ra vụ biến Kinh thành, Tôn Thất Thuyết đã huy động quân, dân chuyên đổ thóc lúa từ các tỉnh Bắc Kì, nhất là từ Nam Định vào

Trang 6

Cửa Việt, dùng thuyền theo đường sông tập kết về đây rồi phân phát đi các nơi Cho đến những tháng sát ngày nổ ra cuộc phản công, ông còn cho chuyển nhiều súng ống, đạn dược, tiền bạc, châu báu từ Kinh thành Huế ra Tân Sở01 Tỉnh lị Quảng Trị cũng được dời từ Động Ngang (huyện Thành Hoá) về Bảng Sơn - một nơi hiểm yếu thuộc huyện Cam Lộ.

Các mỏ sắt gần các sơn phòng được đốc thúc khai thác và hoạt động nhằm cung cấp nguyên liệu cho việc đúc, rèn, đúc khí giới

Để ngãn tàu Pháp từ biển tiến vào nội địa, Tôn Thất Thuyết đã đặt làm 6km dây xích sắt lớn từ Hương Cảng và thuê một chiếc tàu của Đức chở về, chắn ngang các cửa sông lớn Quân phí ở các tỉnh phía Bắc được tận thu, kết hợp với tiền bạc

do bán thóc lúa ở các kho của tỉnh, dùng để mua sắm thêm vũ khí đạn dược

Để kích thích lòng trung nghĩa, phe chủ chiến đã xem xét án giảm tội trạng của quan quân các địa phương trong các trận Thuận An, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Sơn Tây xảy ra năm trước Một số được khai phục phẩm hàm, binh lính chết trận được truy cấp tiền tuất, tiền bổng Những quan lại có công như Hoàng Diệu được liệt vào thờ ở đền trung nghĩa

Trong khi phe chủ chiến đang tích cực hành động như vậy thì những quan lại thuộc phái chủ hoà lại tìm cách tư thông với Pháp, làm trở ngại công việc của phái chủ chiến Do đó, ngày 31/7/1884, Kiến Phúc bị phế sau 8 tháng làm vua Ưng Lịch (con thứ 5 của Kiên Thái vương Hồng Hội, em trai của Kiến Phúc) lúc đó mới 14 tuổi được đưa lên ngôi, bất chấp sự phản ứng của Khâm sứ Pháp Râyna (muốn lập Gia Hưng Quận vương, em vua Tự Đức, một phần tử trong phái đầu hàng làm vua) Không nhũng thế, ngay sau lễ tấn tôn Hàm Nghi, Gia Hưng Quận vương đã bị bắt giam Sau nhờ có Râyna can thiệp, Gia Hưng Quận vương được tha, chỉ bị cách chức tước phương bị đưa đi đày ở Sơn Phòng Cam Lộ

Nguyễn Hữu Độ, một viên quan cao cấp có thái độ thân Pháp cũng bị bãi chức và được lệnh phải tự sát

Tại một số địa phương đã nổ ra nhiều vụ tấn công nhà thờ Thiên Chúa, đánh phá các làng giáo dân (những người bị nghi là phe cánh của Pháp)

Thái độ của phe chủ chiến đã khiến cho thực dân Pháp hết sức bất bình

Ngay sau khi biết tin triều đình Huế tấn tôn Ưng Lịch làm vua mà không báo cho phía Pháp biết, Tổng trú sứ Râyna (Rheinart) đã cảm nhận thấy sự bất

0) Có 'ới 600.000 lạng vàng, bạc đã được chuyển từ Kinh đô H uế ra Quảng Trị.

Trang 7

ổn trong chính sách chỉ dùng sức mạnh quân sự để áp đặt, mà muốn giành thêm quyền điều hành về chính trị đối với triều đình Huế.

Sau khi căn vặn phái chủ chiến, được trả lời rằng trong hoà ước không có khoản nào nói khi nước Nam lập vua thì phải cầu kiến nước Pháp Vả lại, ngôi vua không thể để trống vắng lâu ngày nên trong lúc bận công việc "chưa kịp báo cho Trú sứ biết" Đuối lí, Râyna liền điện về Pháp Thủ tướng Pháp lúc

đó là Pheri liền lệnh cho Millot sai một liên đội lính Pháp vào chiêm Kinh thành và làm lễ phong vương cho Hàm Nghi theo kiểu Thiên triều Mãn Thanh trước đây

Đại tá Gheriê (Guerrier) liền đem 600 quân và 2 đội pháo binh đi trên chiếc tàu Tam vào Huế Đến nơi, Gheriê đưa tối hậu thư cho triều đình, buộc phải làm tờ xin phép lập Ưng Lịch làm vua Tờ xin phép viết bằng chữ nôm, Râyna bắt bẻ, không chấp nhận, bắt phải viết lại bằng chữ Hán Sau đó bày trò làm lễ tấn phong cho nhà vua

Sau hôm làm lễ tấn phong Hàm Nghi (12/8/1884) đại tá Gheriê, Tổng Trú

sứ Râyna, thuyền trưởng tàu Tam Oanmê đem 25 sĩ quan và 160 lính vào điện Thái Hoà Ba tên sĩ quan đi theo cửa giữa, 60 lính và 16 sĩ quan khác đi cửa bên, còn lại đều ở bên ngoài

Bất chấp các 'nghi thức đã được quan lại Bộ Lễ hướng dẫn, tên Đại tá Gheriê tiến đến trước ngai vàng, đọc một chúc thư của Chính phủ Pháp công nhận vua Hàm Nghi rồi gắn cho vua một chiếc mề đay Bắc đẩu bội tinh Tiếp đó, Gheriê cho treo cờ Pháp ở đồn Mang Cá, nơi quân Pháp đã chiếm từ 15/7/1884

Hành vi của bọn thực dân trên đây đã khiến cho các quan lại trong triều, ngoài nội tức giận Mâu thuẫn giữa phe chủ chiến với thực dân Pháp ngày càng gay gắt

2 Cuộc phản công của phe chủ chiến tại Kinh thành Huê - vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành, kêu gọi Cần Vương

a Màu thuẫn giữa phe chủ chiến và thực dân Pháp trở nên căng thẳng

Theo khoản 5 của hiệp ước Patơnốt (6/6/1884) thì Tổng Trú sứ (Khâm sứ) Pháp được ở trong Kinh thành cùng một số lính Một khoảnh đất ờ khu Mang

Cá (Trấn bình đài) được nhượng cho Pháp để làm việc này

Nhưng việc quân Pháp ngang chiên chiếm đóng Mang Cá rồi ào ạt đưa lực lượng lính thuỷ đánh bộ đốns tới 2300 tên vào trong đồn, trong khi hiêp ước

Trang 8

chưa được phê chuẩn0' đã khiến cho mâu thuẫn giữa chúng với phe chủ chiến ngày càng gay gắt.

Phe chủ chiến đã nhiều lần viết thư cho Khâm sứ Pháp trách hỏi việc này và yêu cầu cho sửa khoản 6 của Hiệp ước Theo đó quân Pháp chỉ nên đóng ở ngoài thành để khỏi ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của Hoàng triều và làm kinh động đến nhân tâm

Ngoài ra Tôn Thất Thuyết còn gửi thư cho Lome (Thay Râyna làm khâm sứ

từ tháng 10/1884) yêu cầu triệt thoái quân Pháp ở Bắc Kì, giao cho triều đình kết hợp với đại diện của Pháp đảm bảo trật tự, an ninh

Đáp lại, thực dân Pháp rắp tâm tìm cách loại bỏ những người cầm đầu phe chủ chiến Ngay khi tới Huế, Lơme cho tăng thêm quân số ở Trấn Bình Đài (Mang Cá) và đòi triều đình phải triệt bỏ các khẩu súng đại bác được bố trí trên mặt thành, chĩa thẳng sang Sứ quán Pháp bên kia sông Hương(2) Tôn Thất Thuyết không chịu Cuối cùng, trước sức ép của quân Pbáp, triều đình đành phải cho bịt miệng 45 khẩu thần công ở trên mặt thành và ở Đài Nam Nhưng liền đó, Tôn Thất Thuyết đã cho điều quân từ các nơi về vào đóng chật Kinh thành Huế, kể cả trong thành nội Thấy thế, quân Pháp yêu cầu phải giao tất cả các khẩu thần công của triều đình cho chúng Tôn Thất Thuyết đã đối phó lại bằng cách cho chuyển các khẩu súng đó đi nơi khác

Đồng thời với những hành động lấn lướt ở Kinh đô, thực dân Pháp còn tìm cách triệt phá các cơ sở của phe chủ chiến tại các địa phương Ở Bình Định, chúng cho quân chiếm Nha Thương chính, cướp tiền bạc, tự đứng ra thu thuế (như ở Đà Nẵng), bất chấp các điều khoản đã được ghi trong Điều ước 1884 Nghiêm trọng hơn, chúng còn cho quân chiếm đài Hải Phòng, đóng đinh lấp các lỗ châu mai của 67 cỗ đại bác đặt ở đó, cướp đi vô số tiền bạc và thuốc súng của quân ta

Ngoài ra, chúng còn tìm cách giết hại, cướp phá, giam giữ, đánh đập hoặc bắt đưa vào Sài Gòn nhiều quan lại thuộc phe chủ chiến ở Bắc Kì

Tại Hải Dương, quân Pháp cho phá góc đông nam của tỉnh thành rồi cho 5-6000 lính Ả rập vào chiếm giữ Chúng còn bắt hàng ngàn dân phu ngày đêm phục dịch, bắt quan lại sở tại cung ứng gạo, tiền, sửa sang đường xá, dinh thự

(l) Tháng 6/1885/ Hiệp ước Patơnốt mới được Hạ viện Pháp phê chuẩn.

ủ) Đại Nam Thực lục đệ Iigũ k ì (1883-1885), tập 36, NXB Khoa học xã hội, H 1976 Tr 1999

Trang 9

và các công trình quân sự cho chúng, ở những nơi có phong trào nhân dân kháng chiến, ngoài việc đưa quân đến đàn áp, thực dân Pháp đã tìm các biện pháp nhục hình, đánh đập tàn bạo các quan cai trị của triều đinh Huê không tiếc tay.

Ngoài ra, thực dân Pháp còn đẩy mạnh việc xây dựng nguỵ binh Tại Hà Nội, chúng lập 2 vệ lính tập, sau đó lại tiếp tục cho xây dựng các đơn vị như vậy ở các tỉnh khác(l) Đầu năm 1885, Pháp cho rút 6000 lính của Nam triều về huấn luyện rồi sử dụng vào các cuộc hành quân bình định Dưới danh nghĩa tuyển mộ "dân phu", thực dân Pháp đã chuyển 2 vạn thanh niên Việt Nam thành lính tập Triều đinh Huế cực lực phản đối, cho đó là trái với các điều khoản của Hiệp ước Patơnốt Tôn Thất Thuyết gửi thư trách cứ Lơme Ông còn cho sao lục bức thư gửi cho tất cả quan lại, tỉnh thần Bắc Kì, chỉ thị không được nghe theo lệnh của người Pháp

Hành động của phe chủ chiến khiến cho thực dân Pháp lo ngại khi biết chắc chắn rằng phe này đáng ráo riết bị đối phó ra mặt

Trước đó, Tôn Thất Thuyết đã phái Hoàng Tá Viêm dọn một con đường thượng đạo từ núi rừng Thanh Hoá ra vùng Hưng Hoá, tìm cách bắt liên lạc với đạo quân Thanh ở Vân Nam, đề phòng bất trắc, có thể đưa cả triều đình kháng chiến ra vùng Thanh - Nghệ

Cho dù từ lâu, thực dân Pháp đã biết rõ kẻ thù đáng sợ nhất của chúng là lực lượng kháng chiến của nhân dân chứ không phải là lực lượng quán đội triều đình Nhưng vào lúc này, sự tồn tại của phe chủ chiến, nhất là sự có mặt của Tôn Thất Thuyết đã trở thành mối nguy hiểm trực tiếp cho chúng, cản trở chúng trong việc biến triều đinh Huế thành công cụ tay sai để "bình định'' và tổ chức cai trị Đổng thời chúng cũng biết rằng, chính sự tổn tại đó là chỗ dựa của phái chủ chiến ở các tỉnh đang tiếp tục hoạt động cũng như thúc đẩy phong trào kháng chiến của nhân dân ở khắp nơi Vì thế, thực dân Pháp tìm mọi cách loại trừ phe chủ chiến ra khỏi triều đình và thủ tiêu quân đội triều đình đang nằm trong tay Tôn Thất Thuyết

Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ là Tướng Đờ Lítxlo (Brière de L'Isle) muốn buộc tội Hội đồng Phụ chính do Thuyết đứng đầu phải

từ chức để đưa một hội đồng khác thuộc phe đầu hàng lên thay

(1) Trích theo Phan K hoang, Việt N am Pháp thuộc sứ (1862-1845), Sài Gòn 1971 Tr 340.

Trang 10

Bên Pháp, chủ trương đẩy mạnh việc hoàn thành chiếm đóng Việt Nam lúc này cũng đã đạt được sự nhất trí Ngày 31/3/1885, sau khi Nội các Pheri (Ferry) bị

đổ vì vụ Lạng Sơn, Hạ viện Pháp đã gấp rút thông qua khoản ngân sách 500 triệu phơrăng để làm việc này Nội các Brítxông (Brisson) lên thay ngày 6/4/1885 tiếp tục đường lối của nội các Pheri, gửi thêm 6000 quân sang Việt Nam

Ngày 31/5/1885, Phờrâyxinê (Freysinet) Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp điện cho Khâm sứ Lơme (Le Maire) phải tìm cách loại trừ Tôn Thất Thuyết khỏi triều đình Huế Bức điện của Lơme có đoạn viết "không thể không trừng phạt hành vi của viên Thượng thư Bộ Binh nước Nam Ông cho triều đình ấy biết rằng, chúng ta không thể chịu đựng được rằng Thuyết còn giữ chức phụ chính lâu nữa, và ông phải đòi người ta cho bãi chức viên ấy và đưa đi xa".Cùng ngày hôm đó, Nội các Brítxông và cử Tướng Đờ Cuốcxy, một viên tướng hung hãn và thô bạo sang Việt Nam, nắm toàn quyền quân sự và chính trị.Đầu tháng 6/1885, Đờ Cuốcxy (De Courcy) đến Hạ Long, hắn tuyên bố

"Các nút của vấn đề nước Nam là ở Huế” rồi hắn cho gọi Lơme ra báo cáo tường tận và cử Sămpô thay Lơme làm khâm sứ Huế

Tiếp đó, được lệnh của Pari, Đờ Cuốcxy đem 4 đại đội lính thuỷ đánh bộ, 2 tàu chiến chở 800 lính Ả Rập từ Hải Phòng vào thẳng Huế Ý đồ của Cuốcxy là dùng áp lực quân sự loại trừ phe chủ chiến, giải tán quân đội triều đình và bắt cóc người cầm đầu phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết

ốệ Cuộc phản công quân Pháp ở H u ế 51711885

Ngày 2/7/1885, Đờ Cuốcxy đưa quân đến cửa biển Thuận An Phái bộ của triều đình có hai đại thần cùng Khâm sứ Sãmpô ra Thuận An nghênh đón Kinh thành treo cờ và bắn 19 phát đại bác chào mừng, nhưng khi biết Cuốcxy đem theo nhiều binh lính, vũ khí thì quan quân triều đình tỏ ra lo ngại

Khi tới Huế, Đờ Cuốcxy kéo cả bộ hạ về sứ quán Pháp rồi mời Hội đổng Phụ chính qua sông hội thương về việc Đờ Cuốcxy xin triều yết Hàm Nghi và trình quốc thư, nhân cơ hội đó mà giữ Tôn Thất Thuyết không cho về Nhưng Tôn Thất Thuyết cảnh giác, cáo bệnh không đi Sang gặp Đờ Cuốcxy có Nguyễn Văn Tường đi cùng Phạm Thận Duật

Đờ Cuốcxy nhất định không chịuỂ Các quan lại triều đình thấy tình hình căng thẳng, nhiều người đã khuyên Tôn Thất Thuyết sang hội thương "trang trải cho yên việc nước" nhưng ông không nghe mà chỉ chú tâm chấn chỉnh binh lực, sắp đặt súng ống, khí giới Nhiều người nghĩ là ông chỉ muốn phô trương thanh thế

Trang 11

Sau mấy lần bức bách Thuyết sang gập không được, Cuốcxy bèn phái một viên thầy thuốc (bác sĩ Magin) đến xin chữa bệnh cho quan phụ chính, nhằm dò xét thực hư Nhưng Thuyết không tiếp, chỉ cho người ra từ chối khéo, rằng mình không quen dùng thuốc tây.

Trước thái độ bức bách của thực dân Pháp và sự nao núng, khiêp nhược của triều đình, Tôn Thất Thuyết càng quyết tâm chuẩn bị chiến đấu Ong ra lệnh gấp rút đào hào, đắp luỹ ngay trong thành Huế, cho chuyển gấp tài sản từ các kho ra Quảng Trị, lại trực tiếp cùng Hồ Văn Hiển, Tôn Thất Lệ chỉ huy hai đạo quân Phấn Nghĩa, Đoàn Kiệt bố trí phòng thủ Hoàng thành

Thành Huế được xây dựng từ 1805 - 1820 dưới thời vua Gia Long Thành

có hình vuông, mỗi bề 2,5km, các phía có hào sâu Phía trước nhìn ra sông Hương Tường thành xây bằng gạch, đá cao 10 mét Trên mật thành, Tôn Thất Thuyết cho bố trí 336 khẩu thần công, trong đó có 173 khẩu bằng gang, còn lại

là đại bác bằng đổng

Với mưu mô hắỉ cho bằng đươc Tôn Thất Thuyết, giải tán Hội đồng Phụ chính, Đờ Cuốcxy cố tình khiêu khích Ngày 3/7/1885 Đờ Cuốcxy cho Sămpô đứng ra thương thuyết với quan lại triều đình Huế về nghi lễ triều yết Cuốcxy muốn hạ nhục triều đình bằng cách yêu cầu Hàm Nghi phải xuống ngai ra đón để hắn trao tờ Hiệp ước Giáp Tuất (1884) mà Nghị viện Pháp mới phê chuẩn

Phía triều đình thì yêu cầu Đờ Cuốcxy phải làm đúng nghi lễ: vào triều không được mang gươm, khi đến cây cột thứ hai (Điện Thái Hoà) thì phải dừng lại đưa quốc thư cho một vị đại thần dâng lên, nhưng Cuốcxy không chịu

Phía triều đình lại yêu cầu chỉ có Cuốcxy được đi cửa giữa - Ngọ môn, còn các quan theo hầu phải đi cửa cạnh Sămpô đồng ý nhưng Đờ Cuốcxv phản.đôi Hắn nói: “Tôi muốn không chỉ quan theo tôi vào cửa giữa mà quân lính theo tôi cũng vào cửa giữa Đến khi được cố đạo Cátspa(Caspard) báo cáo về tinh hình chuẩn bị gấp rút của phe chủ chiến trong mấy ngày qua thì Đờ Cuốcxy càng tức giận, hắn hung hăng tuyên bố nếu cần, sẽ dùng vũ lực để đối phó

Trưa ngày 4/7/1885, phía Nam triều lại cử người sang Sứ quán Pháp để tiếp tục bàn luận, nhưng Đờ Cuốcxy trịch thượng không tiếp, nói rằng chờ đến ngày quan phụ chính (Tôn Thất Thuyết) khỏi bệnh, sẽ bàn định Bà Từ Dũ Thái hậu (mẹ vua Tự Đức) lo ngại, cho đem vật phẩm sang tặng để “cầu thân” cũng bị

Đờ Cuốcxy cự tuyệt, không nhận

Căng thẳng đã lên đến cực độ Tối ngày 4/7/1885 (22/5 ám lịch), Đờ Cuốcxy bày tiệc đãi bọn sĩ quan Pháp tại Sứ quán và họp bàn kế hoạch hành

Trang 12

động Chúng âm mưu tổ chức một cuộc thị uy quân sự lớn vào đúng hôm Cuốcxy vào triều yết Hàm Nghi.

Chừng 11 giờ đêm hôm đó, khi tiệc vừa tan thì xung quanh sứ quán Pháp

có tiếng huyên náo khác thường, ghe thuyền qua lại trên sông không ngớt Một viên trung uý giữa phiên trực hôm đó vào báo cáo với Đờ Cuốcxy nhưng bị hãn khiển trách, doạ sẽ phạt tù vì man báo

Trong lúc đó, Tôn Thất Thuyết đã bí mật phân chia các doanh vệjphòng thủ kinh thành làm hai đạo, một đạo do TônThất Lệ (em Tôn Thất Thuyết) chỉ huy,

có nhiệm vu vươt sông Hương, phối hợp với quân của một số đô đốc và hiệp lí thuỷ quân ở trại thuỷ sư, tấn công thẳng vào Toà sứ Pháp, nơi đặt bản doanh của tướng Đờ Cuốcxy

Đao thứ hai do đích thân Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Sqan chỉ hu^, đạo này có nhiệm vụ đánh úp, tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân Pháp đang đóng trong đồn Mang Cá (Trấn Bình đài)

Ngoài ra còn có một lực lượng nhỏ, bố trí mai phục ở cầu Thanh Long, có nhiệm vụ tiêu diệt bọn sĩ quan Pháp, vừa dự tiệc ở Sứ quán Pháp trở về Mang

Tại Mang Cá, các trại lính cỉxa Pháp &ị-ềết chá^L, rồi lợi dụng ánh lửa, quân

của TộnjrhấLThuyết dùn^ súng4)há cửa Tây, xông vào trong đồn Bọn lính và

SŨ quan Pháp ở đây thức dậy, nghe tiếng súng vang rền, lửa ncng, hoảng hốt, rối loạn Đai ụý Ẹòrunô (Bruneau) 14 một phát đan xuỵên qua ngực, chết ngạy Đại ụỵ Đờruin (Đrouin) bị gãy hai ống chân Đai uỵ Rơroan tử thương Viên Đai tá PécnốLchỉ huy quân Pháp ở Mang Cá vội vàng trấn tĩnh tinh thần binh

sĩ, chia quân làm ba đội, tổ chức phòng giữ Một tốp lấy các bao bột, thùng gỗ

đổ đầy đất lấp cửa đồn Một tốp cố dập tắt các đám cháy Một tốp khác giữ các bức tường, bảo vệ kho thuốc súng

Khi ở Mang Cá đã bắt đầu công kích thì đồng thời ở phía Toà sứ Pháp, quân của Tôn Thất Lê cũng hành đông Tại đây, quân Pháp trù trong các trại lính ở phía sau Toà Khâm cũ Quân ta pháf hoả, đốt cháy mấv doanh trại và các nhà phụ thuộc khu Sứ quán Các khẩu đại bác của ta vừa được chở đến bằng thuyền từ thành Huế qua sông Hương đặt quanh Toà Khâm sứ Pháp nhất loạt nhả đạn vào bên trong

Trang 13

Quân Pháp đang ngủ, nghe tiếng súng nổ choàng dậy đã thấy khói toả nghi ngút, lửa cháy rực trời Chúng hốt hoảng bỏ chạy, nhiều tên không kịp mang theo súng, có kẻ còn đang mặc quần áo ngủ, đi chân đất Một số lách qua được đám đông người đang đứng chặn họ, tìm lối thoát ra Một tốp chạy vào dinh

Sứ quán, naLĐỜ Cuốcxỵ đang trú ẩn Mái nhà và gầm toà sứ bị trúng đạn sụp

đổ nhiều chỗ Từ các cửa sổ của toà nhà này, quân Pháp bắn loạn xạ vào các đám cháy và những nhóm người mà họ nhìn thấy nhờ ánh lửa Vì vậy quân của Tôn Thất Lệ không thể vào sâu được

Từ 2 giờ sáng ngày 5/7/1885 trở đi, khi thấy phía trong đồn Mang Cá vẻ yên ắng, Trần Xuân Soạn ngỡ rằng quân Pháp ở đây đã bị tiêu diệt hết, nên đã

hạ lệnh chuyển hướng đại bác đặt trên mặt thành Huế và họ chuyển thêm súng lớn đặt ở gần cửa Thượng Tứ, bắn qua sông Hương vào Toà Khâm sứ Pháp.Đạn đại bác đã rơi trúng nhiều mục tiêu của toà nhà, gây hư hại nặng

Đờ Cuốcxy không dám ra ngoài, chỉ ra lệnh cho quân sĩ cố thủ chờ sáng

Khi những giờ phút kinh hoàng đã qua, quân Pháp ở Mang Cá dưới sự chỉ huy của Đại tá Eécnết (Pem otlbắt đầu tổ chức cuộc phảnxcmg Pécnốt thấy lửa cháy nhiều nơi, e khó có thể dập tắt nên chuyển sang chiếm Hoàng thành Hắn chia quân làm ba đội kéo đi

Dọc đường quân Pháp ra sức bắn phá, đốt cháy các bộ, viện, doanh trại, dinh thự, nhà cửa, lửa cháy rừng rực 2 ngày sau chưa tắt hẳn Gặp người nào, bất kì £ia trẻ, gái trai, chúng đều giết chết Tiếng than khóc, kêu la xen lẫn tiếng đạn rền, tre nổ làm náo động cả một góc trời Tôn Thất Thuỵết và Trần Xuân -Soạn, đếc quân kháng cư kịch liệt Trong tiếng trống trân đổ liên hồi, tiếng thanh la cùng với tiếng hò hét xung trận, quân ta vừa dùng súng, vừa dùng

mã tấu, đoản đao chặn đánh quân Pháp Có lúc, từ'một nơi ẩn nấp, quân ta bủa

ra, lăn xả vào đâm chém quân địch, làm chúng kinh hồn: Trung uý Cơroa (La Croix) bị một viên đạn xuyên qua bụng Trungjiy Hâusen bi tử thương_cùng một vài tên lính đi cùng Trong khi đó, một chiếc pháo hạm JBhạp đâu ở sóng Bao Vinh cũng bắn đại bác lên những nơi mà nhờ có ánh lửa chúng đã trống thấy.Đến gần sáng, đại bác phía ta bắn thưa dần vì đã gần hết đạn Mờ sáng ngày 5/7/1885 (tức ngày 23/5 âm lịch), một đội quân Pháp đi từ đầu Sứ quán kéo sang, vào cửa An Hoà, gặp ai giết nấy(1) Chúng vào từng nhà lục soát cướp phá để kích động binh lính, Đờ Cuốcxy ra lệnh cho chúng được tự do hành động trong vòng 48 tiếng đồng hổ Quân ta ở cả hai phía bắt đầu rút lui

<n Về sau nhân dân thành H uế lấy ngày 23/5 âm lịch làm ngày giỏ chung.

Trang 14

Khi đến đầu cầu Thanh Long, quân Pháp bị phục kích và bị chết khá nhiều Tuy vậy, cnối cùng chúng vẫn vượt qua được trận địa mai phục của ta, xông đến cửa Hiển Nhân của Hoàng thành Nhưng tấm cửa kiên cố, giặc không phá được Chúng bèn hò nhau đi tìm lối khác.

Khoảng 8 giờ 10 phút sán^ngày 5/7/1 &S5 quân Pháp chiếm được kì đài và

9 giờ sáhg, chúng chiếm được Hoàng thành Nhưng lúc này, Hoàng thành đã trở nên hoang vắng Lực lượng của Tôn Thất Thuyết đã kịp rút ra ngoại ô

c Vua Hàm Nghi xuất bôn, hạ chiếu Cần Vương

Kế hoạch đánh úp quân Pháp ở Toà Khâm sứ và Trấn Bình Đài được Tôn Thất Thuyết giữ bí mật cho đến tận lúc cuối Sáng hỏm sau f 5/7/18851 vua Hàm Nghi mới biết là quân Pháp đang đánh chiếm Hoàng thành Nguỵễn Văn Tường

và Tôn Thất Thuyết vào tâu xin rước vua va tam cung0* lên tạm trứ ỉĩ Khiêm lãng (Lăng^Tư Đức)

&froảii£ 7h30’ sáng ngày 5/7, xa giá vua Hàm Nghi và Tam cung ra cửa Chương Đức rồi đi về phía Chùa Thiên Mụ Theo xa giá ước chừng có 1000 người, phần đông là các ông hoàng, bà chúa, các quan đại thần, Đỏ thống Hồ Văn Hiển và gần 100 lính có súng Chưởng vệ quân Phấn Nghĩa Trần Xuân Soạn đi trước mở đường Nguyễn Văn Tường đi đoạn cuối Đến Kim Long, Nguyễn Văn Tường lẻn vào nhà thờ gặp cố đạo Cátspa (Caspard)

Tôn Thất Thuyết rút sau cùng, ông theo kịp xa giá và đưa đoàn người ra ngả Trường Thi, đến làng La Chử (cách Kinh thành khoảng lOkm), trên đường

ra Quảng Trị chứ không lên Khiêm Lăng nữa Tại đây, các ông Phạm Thận Duật (Thượng thư Bộ Hộ), Trương Văn Để (Tham tri Bộ Binh) và Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ đều đến và gia nhập vào đoàn xa giá

Sau mấy giờ nghỉ ngơi đoàn người tiếp tục lên đường Tối ngày J /7 đoàp đến làng Văn Xá và nghỉ lại Ngay đêm hôm đó, Tôn Thất Thuyết vâng mệnh nhà vua viết Hich Cần Vương gửi đi khắp nước Gà gáy sáng họ lại lên đườnc.Trưa ngày 6/7/1885, Tôn Tất Thuyết đưa vua tới Quảng Trị Tuần phu Trương Quang Đản đón vua vào hành cung Các quan lại tham dự cuộc phản công Kinh thành đêm 4/7/1885 như Hậu quân Nguyễn Hanh, Đô thống Ngô Thất Ninh, Tả quân Đinh Tử Lựu, Tham tri Bộ Công Tôn Thất Phan Thuỷ sư

- Bà Từ Dũ Thái hậu (mẹ vua Tự Đức).

- Bà Hoàng Thái hậu Thuận Hiến (Trang Ý) - vợ vua Tự Đức và mẹ nuôi của vua Dục Đức

- Bà Học Phi vợ thứ của vua Tự Đức, mẹ nuôi của vua Kiến Phúc.

Trang 15

hiệp lí Cao Hữu Sung, Phủ doãn Nguyễn Đình Dương, Toản tu Phạm Phú Lâm cũng lục tục theo kịp nhà vua ra Quảng Trị.

Sau cuộc hội ngộ này, trong nội bộ phe chủ chiến đã diễn ra cuộc phân hoá mới, cuộc phân hoá cuối cùng, để rồi chỉ còn lại những phần tử trung kiên nhất cùng vua Hàm Nghi tiếp tục di chuyển ra phía bắc tổ chức và lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp trong những năm tiếp theo

Khi vua và Tam cung đã rời khỏi Kinh thành, cờ tam tài của Pháp đã treo trên kì đài, quan lại, quân dân quanh thành Huế bắt đầu hoang mang, tìm đường tản cư Quân Pháp tiếp tục đốt phá dinh thự của hai bộ (Bộ Binh và Bộ Lại) - nơi ở của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường

Địch vào hoàng thành cướp 1% vàn» bac châu báu và các bảo vật của cung điện đem đi, giá trị của số của cải đó không biết bao nhiêu mà kể Lính Pháp được lệnh “tự do hành động” cũng tranh thủ cướp bóc, túi đứa nào đứa ấy đầy

Tuy nhiên, sự trống vắng của Hoàng thành đã khiến cho Đờ Cuốcxy bối rối

vì sứ mạng của hắn là thiết lập nền bảo hộ ở Việt Nam, nay đã không còn triều đình thì biết bảo hộ ai

Cuốcxy điện về Pari hỏi ý kiến nhưng Nội các Brítxông cũng không biết làm gì hơn, chỉ ra lệnh cho Cuốcxy tìm cách “làm cho tình hình khá hơn” Giữa lúc Đờ Cuốcxy đang lúng túng th ì,'Nguyễn Văn Tường nhờ cố đạo Cátspa làm môi giới xin ra đầu thú Đờ Cuốcxy tiếp nhận, đữaTữơng đến Viện Thương bạc (trụ sở cơ quan đối ngoại cấp cao của triều đình Huế), giao cho các viên sĩ quan cùng một toán lính Pháp canh giữ, hẹn cho Tường trong vòng hai tháng phải đưa được vua Hàm Nghi trở lại Huế

Ngày hôm sau, trong lúc Hàm Nghi cùng đoàn hộ tống đang trên đường ra Quảng Trị thì Nguyễn Vãn Tường đã bàn bạc với Đờ Cuốcxy ra một bản cáo thị, đóng dấu của văn phòng Khâm sứ Pháp, nói rằng hai nước Pháp - Nam vẫn giao hảo như trước Một tờ sức khác yêu cầu quan quân theo Tồn Thất Thuyết phải ra đầu thú trong thời hạn 12 ngày Một tờ sức thứ ba: t>ãi hết binh lính nước Nam tất cả vũ khí của Nhà nước phong kĩen Ngụỵễn ghíìi ỊỊộp về Hue.Tiếp đó, Nguyễn Văn Tường phái Thị lang Phạm Hữu Dụng tức tốc ra Quảng Trị rước xa giá trở lại Kinh đô

Trang 16

Biết đươc âm mưu phản trắc của_Nguyễn Văn Tường, trước mặt nhà vua, Tôn Thất Thuyết đã sai người về đốt nhà riêng của ông ta và tìm cách ngăn trở Phạm Hữu Dụng không cho gặp vua Hàm Nghi Những bản sớ của Nguyễn Văn Tường gửi ra vấn an, ông cũng giấu không cho vua biết.

Ngày 9/7/1885 quần thần xin được rước xa giá lên Sơn Phòng Tân sở để mưu tính việc khôi phục, nhưng bà Từ Dũ và hai bà thái hậu, có sự thông đồng của tuần phủ Quảng Trị Trương Quang Đản và theo lời dcLdànỈLcủa Nguỵễn Văn Tường đã kiên quyết từ chối Hầu hết những người trong hoàng tộc, các quan đại thẩn ổều viện cớ phò tam cung để ở lại Quảng Trị, chờ ngày về Huế, trong số đó có cả anh ruột Hàm Nghi là Chánh Mông vương, sau này được Pháp đưa lên ngôi vua (vua Đồng Khánh) Trước khi lên Tân Sơ, vua Hàm Nghi vào bái biệt ba bà thái hậu Xa giá đi được chừng một tiếng đồng hồ thì bọn lại nội giám bỏ cuộc Theo vua lên Tân Sở chỉ còn ba cha con Tôn Thất Thuyết và rất ít quan lại

Ngày 10/7/1885, vua đến Tân Sở, ngậy 13/7/1885 lấy danh nghĩa Hàm Nghi, Tôn Thất Thuỹet phát dụ Cần Vương lần thứ nhất

Tờ dụ đề cập đến lí do cuộc phản công vừa qua và đó cũng là lí do khiến nhà vua phải lìa bỏ Kinh thành ’Tờ dụ viết: “Từ xưa kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh, giữ, hoà Đánh thì chưa có cơ hội; giữ thì khó định hẹn được sức; hoà thì họ đòi hỏi không biết chán Đang lúc sự thế thiên vạn nan như vậy, bất đắc dĩ phải dùng quyền Thái dương ra đời ở đất kì, Huyền Tông sang chơi đất Thục, người xưa cũng đều đã có làm

Nước ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường tự trị Kẻ phái của Tây ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm Hôm trước chúng tăng thêm binh thuyền đến, buộc theo những điều mình không thể nào làm được; ta chiều lệ thường khoản tiếng, chúng không chịu một nhận một thứ gì Kẻ đại thần mưu quốc, chỉ lo nghĩ đến kế yên xã tắc đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mạng, ngồi để mất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phó trước? Vì bằng việc xảy ra không thể tránh, thì cũng còn có cái việc ngày nay để mưu tốt cái lợi sau này”(l)

Về mục đích chiến đấu, tờ dụ nói rõ là để “chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại bờ cõi”

(l) Trích theo Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, quyển 3 - Phong trào Cần Vương, Xây

dựng phát hành, 1957, Tr 70.

Trang 17

Tờ dụ kêu gọi bá tính, trước hết là quan chức và nhân sĩ rồi đén dân, tất nhiên là không phân biệt hạng dân nào phải “tham gia công việc”, “nghiên rãng dựng tóc, thề giết hết giặc” Kẻ có trí hiến mưu, kẻ dũng hiên sức, giàu có bỏ của ra giúp quân nhu, “cứu nguy chống đổ, mở chỗ chuân chuyên, giúp nơi kiển bách”

Cơ sở để hô hào Cần Vương (giúp vua) là nghĩa vua tôi “Phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghĩ với nhau”

Ở Tân Sở một thời gian, khoảng 4 - 5 ngày, thấy nơi đây không phải là một địa bàn có thể hoạt động lâu dài vì đất quá nghèo, dân quá ít, hơn nữa Tân Sở bị

cồ lập Nếu địch chiếm được Cam Lộ thì Tân Sở sẽ bị biến thành cái rọ nhốt người: ra biển, sang Lào, vào Nam, ra Bắc đều bất tiện Tôn Thất Thuyết quyết định đưa vua ra Bắc - nơi mà từ lâu, phe chủ chiến đã dự định một kế hoạch quy mô, nếu tình thế bất trắc sẽ di chuyển cả triều đình ra Thanh Hoá, một nơi có đủ điều kiện “ĐỊâJơi, nhân hoà” có thể xây dựng thành một trung tâm kháng chiến lâu dài(1)

Sau khi đã mộ thêm quân, củng cố đội ngũ, đưa lực lượng chiến đấu lên khoảng 700 người, Tôn Thất Thuyết ra lệnh rời Tân Sở đi Hướng Hoá ra Quảng Bình, nhưng đến Thượng Ba thì được tin quân Pháp đã cho tàu đổ bộ chiếm Đồng Hới, làm chủ tỉnh thành Quảng Trị và bao vây Nhật Lệ ngày 19/7/1885 Đường ra Thanh Nghệ bị nghẽn Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lại phải lộn về Tân Sở lần thứ hai Nhưng Tân Sở và Cam Lộ cũng đã bị giặc chiếm Tôn Thất Thuyết vội vã cho đoàn quân theo đường núi, qua Mai Lĩnh lên Lao Bảo sang địa phận nước Lào tìm đường ra Bắc, bỏ lại vô số của cải, báu vật

Nhân dân các làng Mai Lộc, Bạng Mai, Đan Sơn đã anh dũng chống giặc đang đuổi theo để cho Hàm Nghi có thời giờ chạy thoát Các làng này đã bị thực dân Pháp thiêu trụi

Bên kia biên giới, nhân dân Mường Ma (bộ tộc Lào) đã tận tình chăm sóc, che chở Hàm Nghi, dẫn đường và bảo vệ nhà vua rất chu đáo

Trong Mú 40 thì nhiều quan lại theo vua Hàm Nghi do không ch[u được gian khổ, cũng không tin ở tiền đồ tương lai, đã lần lượt bỏ vua vê theo chính quỵền mới, trong số đó có Trương Đăng Để (em Trương Quang Đản) Hồ Vãn Hiến, Phạm Thận Duật (sau nàyTHáp bắt Phạm Thận Duật xuống tàu chở vào

(l) Nguyễn Văn Kiệm , C uộc kháng chiến chống Pháp tiếp tục của nhà nước phong kiết, Việt N am những năm 80 của th ể k ỉ XIX, Ki yếu hội nghị khoa học Đại học Sư phạm H uế 2001.

Trang 18

Gia Định) Một vài kẻ trong số đó đã trở thành tay sai, dẫn đường cho giặc rượt đuổi Hẫnĩ Nghi và Tôn Thất Thuyết(1).

Trung thành với Hàm Nghi và đi theo đoàn xa giá cho tới cùng chỉ có Tôn Thất Thuyết, hai con của ông là Tôn Thất Đam, Tôn Thất Thiệp và một ít quan lại như Trần Xuân Soạn, Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân

Đến đây phe chủ chiến trong triều đình coi như bị tan rã Chỗ dựa của

những người cầm đầu phái Cần vương lúc này đã không còn là những trọng quan trong triều đình nữa mà là quảng đại quần chúng nhân dân yêu nước, ở

khắp mọi nơi, kể cả đồng bào các dân tộc thiểu số Họ đã hết lòng che chở cho một triều đình lưu vong và hăng hái gia nhập các đội nghĩa quân phò vua chống Pháp và chống triều đình đầu hàng

Tháng 9/1885, nhờ có sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương, xa giá Hàm Nghi đã đến được đèo Quy Hợp; vượt đèo lối vùng Hàm Thảo thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Chính, người chỉ huy sơn phòng Hà Tĩnh đã đ q n 500 quân ra đón; đưa Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết về sơn phòng Ấu Sơn (Phú Gia, huyện Hương Khê) Vào thời gian này, tại các địa phương từ Quảng Bình trở ra, phong trào hưởng ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi đã phát triển khá mạnh.Ngoài lực lượng của Phan Đình Phùng_ở Nghệ An, Hà Tĩnh, còn có Lê Ninh (Người La Sơn); Bố chánh LTKiên - người đã lãnh đạo thân hào, thân sĩ

và nhân dân chiếm thành Hà Tĩnh, giết Lê Đại, bắt Trịnh Vãn Bưu là những

kẻ chống đối phong trào Cần Vương và cuộc nổi dậy của Phan Trọng Mưu, Hoàng Xuân Phong, Nguỵ Khắc Kiều, Phan Quang Tự

Ngày 20/9/1885, tại Sơn Phòng Ấu Sơn, nhân danh vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết viết chiếu Cần Vương lần thứ hai(2)

Nội dung tờ chiếu (dụ) lần này xác định rõ ràng và cụ thể lí do của cuộc chiến đấu chonj, Pháp Đó là vì chúng đang thôn tính từng bước đất nước ta,

là âm mưu bắt vua Hàm Nghi để biến nhà vua thành bù nhìn, là việc chúng đàn áp, bóc lột nhân dân, là sự ngăn trở vua Hàm Nghi kêu gọi ứng nghĩa

(1) Trung tuần tháng 6/1885, bọn tay sai Nam triều phái 300 lính dưới sự chỉ huy của Trương Quang Đản đuổi theo Thuyết Một đạo quàn khác dưới sự chỉ huy cùa Đinh Tử Lượng (thủ hạ cũ cùa Tôn Thất Thuyết) rượt đuổi theo đoàn xa giá Chúng xông vào bắn Thuyết nhưng ông tránh được Lực lượng hộ giá chống trả kịch liệt, buộc chúng phải lui.

Sau đó, Trương Quang Đản, Trương Quang Để còn đưa quân đi tắt, đón đầu đoàn người Cần Vương, nhưng đường khó đi phải bỏ cuộc.

(2) Xem Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sứ, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1971.

Trang 19

Với lí do trên, chiếu Cần Vương lần 2 nói rõ tính chất chính nghĩa của cuộc kháng Pháp, tuyên bố tính chất bất hợp pháp của các tờ sức cùa Nguyễn Văn Tường, Đờ Cuốcxy và các tờ dụ của Tam cung, của vua Đồng Khánh (từ sau ngày 14/9/1885); tô cáo âm mưu của thực dân Pháp trong việc lập bộ máy cai trị bù nhìn ở Huế và ở các tỉnh.

Tờ Chiếu đề cập đến ý chí bất khuất và độc lập dân tộc, kêu gọi mọi người ứng nghĩa nhằm tiêu diệt thực dân Pháp và bọn bù nhìn phản quốc

Đối tượng kêu gọi Cần Vương lần này được mở rộng “Văn thân sĩ phu các nơi, hào mục các làng và dân chúng cùng binh sĩ, tất cả đều tề tựu Cần Vương”0

Như vậy, chiếu Cần Vương lần 2 của Hàm Nghi đã phản ánh tương đối đầy

đủ và sâu sắc mâu thuẫn dân tộc, diễn ra từ sau khi nhà nước phong kiến đầu hàng Và tuy chưa thật đầy đủ, nó đã có tác dụng thúc đẩy phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, kịp thời vạch ra con đường chính nghĩa “chống giặc đến cùng”, nêu bật được ý thức tự chủ, truyền thống trung nghĩa của nhân dân, kích động và lôi kéo được các sĩ phu văn thân yêu nước ngả hẳn về phía nhân dân, tiếp tục chiến đấu chống thực dân Pháp

3 Bước đầu chế độ thuộc địa của Pháp ở Việt Nam

a Nền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam hình thành

Ngày 5/7/1885 khi quân của Đờ Cuốcxy chiếm được Hoàng thành thì quan quân triều đình đã bỏ đi hết

Trên đường hộ giá Hàm Nghi, Nguyễn Văn T ườn^đã lẻn vào nhà thờ Kim Lon&rổi ra đầu thú thực dân Pháp'2’

Sự trống vắng ở kinh thành Huế đã khiến Đờ Cuốcxy bối rối Hắn phân vân

vì nếu áp đặt ngay một chế độ thuộc địa thì rất có thể sẽ dẫn tới một cuộc xung đột Pháp - Thanh mới, vì theo ước Thiên, Pháp chỉ được thiêt lập nền bảo hộ ở nước Nam mà thôi; còn nếu lập vua khác thì sợ sĩ dân Việt Nam phản đối

Vì thế Đờ Cuốcxy vẫn quyết tâm đưa bằng được Hàm Nghi về triều

<n Hoàng Văn Làn — Ngô Thị Chính Lịch sử Việt Nam, Q3, T l, phân 2 NXB G iáo due, H,

T r l Ol

l2) Có tài liệu nói ràng Nguyễn Vãn Tương theo lệnh cua Tam cung ơ lại Huê

Trang 20

Sau một loạt tờ sức buộc Thuyết và những người theo Hàm Nghi ra đầu thú ikhông được, Nguyễn Văn Tường và Đờ Cuốcxy ra lệnh lùng bắt Tôn Thất Thuyết giải về Kinh và liên tiếp giục giã Tam cung hồi loan Bà Từ Dũ Thái hậu

đã cử người đi tìm, rước nhà vua về, nhưng vua và Tôn Thất Thuyết đã đi xa, không biết ở đâu

Tinh hình trên đã khiến Đờ Cuốcxy phái chọn một giải pháp tạm thời dựa vào Nguỵễn Văn Tường và bọn quan lại cao cấp đã chiu quy phục, thực dân Pháp từng bước thiết lập chính quyền phong kiến tay sai

Ngày J 6/7/1885, Đờ Cuốcxy cho triệu tập các hoàng thân tại Toà Khâm sứ Pháp ở Huế rồi đặt Thọ Xuân vương Miên Định, 75 tuổi, chú của vua Tự Đức lên làm giám quốc, nhiếp lí việc nước và giao cho Sămpô (De Chanpeaux) làm thượng thư bộ binh, còn Cơ mật viện thì giao cho Nguyễn Văn Tường đứng đầu.Ngày 17/7/1 Rfi5r ha bà thái hậu đến Huế, tạm trú tại Khiêm Lăng Theo yêu cầu của Đờ Cuốcxy, Tam cung ra chỉ dụ cho thân hào, quan lại phải tuân thủ chính quyền mới Ai còn lánh ở các nơi, phải trở về Kinh đô lạnrvĩệc như cũ

Để tập trung vào việc giải quyết cuộc khủng hoảng tnểu chính ở Huế, Đờ Cuốcxy điện về Pháp, xin tạm hoãn các công việc ở Bắc Kì để lò cho vấn đề Trung Kì Hắn cho triệu viên Quản đốc Bắc Kì là Sinvéttơ (Silvestre) cùng Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ vào Huế làm tư vấn Rồi sau khi bàn bạc, bọn thực dân đã bổ sung vào Hiệp ước 1884 một bản phụ ước mới, thủ tiêu nốt quyền lực của nhà, nước, phong kiến Viêt Nam mà trước đó, hai hiệp ước Hácmăng và Patơnốt còn buộc phải để lại, bắt Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Hữu Độ thay mặt triều đình kí vào hản_phu ước này

Tuy nhiên, do Nội các Brítxông ở Pháp đang phải lo cho cuộc bầu cử nghị viện tháng 9/1885 nên đã không cho phép Đờ Cuốcxy hành động mạnh bằng quân sự và cũng kRông cho phép đả động đến vấn đề Bắc Kì Tinh hình càng kéo dài, càng gây thèm khó khãn cho Đờ Cuốcxy

Trong lúc đó, phong trào ứng nghĩa của nhân dân đang lan rộng khắp Trung - Bắc; những cuộc hành quân liên m ieujipng môt đất nước xa la không hơp thuỵ thổ, khí hậu; dịch bênh thường xuyên \ảy ra, đã khiến cho binh lưc của (]uân Pháp suy giảm một cách đáng kể- Tính cho đến tháng 8/1885 (sau 4 tháng bình quân), sô Pháp chết ở Viêt Nam đã lên tới 4000

Nội các Brítxông lo lắng cho số phận của đám sĩ quan và binh lính Pháp

ở Việt Nam, đưa vấn đe ra bàn tại Nghị viện và xin thêm kinh phí BỊ phản đối quyết liệt, một chút nữa thì quân Pháp chi vì không tiền mà phải rút khỏi Việt Nam

Trang 21

Bức bách, Đờ Cuốcxy chủ trương nhanh chóng tổ chức lại triều đình Huế Sau khi đưa Nguyễn Văn Tường, Pham Thân Duât đi đày (vì không hoàn thành nhiệm vụ)"’ Đờ Cuốcxy giao cho Nguyễn Hữu Độ làm chủ toạ Viện Cơ mật, Phan Đình Bình (tổng đốc Nam Định) giữ chức thượng thư Bộ Hộ cùng trông coi việc triều chính, sai Nguyễn Trọng Hợp ra làm kinh lược sứ Bắc Kì Ngày 7/9/1885, thực dân Pháp đưa ba bà thái hậu về dinh Thương bạc đế hỏi ý kiên

về việc lập vua mới Ngày 19/9/1885 tại điện Thái Hoà, chúng đưa Kiên Giang quận công Ưng Kỵ (anh vua Kiến Phúc và Hàm Nghi) lên ngòi vua, đặt niên hiệu là Đồng Khánh

Ngay sau đó, Đồng Khánh làm quốc thư gửi cho Chính phù Pháp tỏ tình giao hảo, lại tặng Đờ Cuốcxy tước Bảo hộ Quốc công và Sãmpô (Champeaux) ,.tước Bảo hộ công

Bọn thực dân trích lại một ít tiền bạc mà chúng đã cướp được giao cho triều đình chi dùng, hàng tháng trả lương cho bọn vua quan trong triều như những

kẻ làm côn-g Chúng cũng trả lại triều đình Đồng Khánh hai điện Long An, Hiếu Vân và Quốc sử quán mà chúng đã chiếm làm nơi ở

Tiếp đó, Đồng Khánh xuống dụ nhằm giành giật chính ngôi với Hàm Nghi, hiểu thị cho thân hào sĩ dân đã hưởng ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi phải quay trở lại triều đình, kết tội Tôn Thất Thuyết là phản nghịch, chuyên quyền.Cho dù vậy thì tình hình vẫn không có gì sáng sủa hon Đờ Cuốcxy càng

thêm lúng túng Nội bộ giới cầm quyền của Pháp ờ Việt Nam bắt đầu lục đục

Vì mâu thuẫn với Đờ Cuốcxy, Sãmpô (Khâm sứ Huê) 2Ón từ chức

Tại Pháp, mâu thuẫn nội bô trong Chính phú cầm quyền ngày càng sâu sắc khiến cho Nôi các Brỉt xống bị đổ ngày 21/12/1885 Nội các Phờrâyxinê (Freycinet) lên thay

Cuối tháng 1/1886 Đờ Cuỏ'cx_y hi triêu hổi về Pháp, trao lai binh quyền cho Tướng Oanmê Tiếp đó, một chính khách thực dân nham hiểm là Pón Be (Paul Bert) được cử sang giữ chức tổng trú sứ Bắc Kì và Trung Kì(:’ đóng thời kiêm luôn chức tư lệnh hải quân và lục quân

Vừa sang Việt Nam, Pôn Be đã bắt tay ngay vào công việc cải tổ bộ máy Nam triều nhằm biến nó thành chồ dựa vững chắc về chính trị và quân sự cùa chế độ thực dân Bằng các thủ đoạn quân sự kết hợp với các thủ đoan chính trị

l" Phạm Thận Duật chết ớ dọc đườns phải, vứt xác xuốno biển Nguvẻn Vãn Tườn" sau bị

đưa sang đày ờ đảo Tahiti, mày thániỉ sau thì chết (31^7/18X6).

i:’ pỏn be là ké đã lớn tiôha hò hào ciữ Bác Kì tại cuộc họp Hạ nshị viện Pháp thánu 10/1885.

Trang 22

khôn khéo, Pôn Be đã từng bước khống chế được triều đình Huế, từ trung ương tới địa phương Ngày 8/4/1886, Pôn Be tới Hà Nội và tuyên bố ngay về chương trình cải tổ nền thống trị thực dân phong kiến Theo đó, chế độ quan lại cũ vẫn được bảo lưu Hệ thống chính quyền từ trung ương xuống địa phương, từ vua, quan, các bộ, vụ, viện tới hương lí, kì hào ở nông thôn cứ chiểu theo luật lệ cũ

mà bổ nhiệm Nắm giữ quyền hành chính ở Bắc Kì lúc đó là Thống sứ Pôlanh Vian (Paulin vial) Điông được bổ làm khâm sứ Huế, sau đó là Hécto (từ 5/188Ố) Lực lượng quân sự ở Bắc Kì và Trung Kì được tổ chúc lại, giao cho Trung ướng Giamốt chỉ huy

Để lấy lòng bọn quan lại Nam triều, đồng thời để lừa gạt dân chúng Việt Nam, Pôn Be tcho tiến hành một số cải cách nhỏ giọt như mở trường Pháp - Việt, lập bệnh viện, tổ chức Hội đồng Thành phố, Hội đồng Thương mại ở Hà Nội, Hải Phòng, củng cố Hội đồng Hào mục ở các vùng thôn quê, hỏi han thuế khoá, đê điều, xã thôn Pôn Be còn cho lập cái gọi là “Hàn lâm viện” gồm 40 người nhằm thu hút các nhà nho ngả về phía chúng

Tháng 9/1886 Pôn Be đưa ra môt bản Ouy ước xem như là phụ bản của Hiệp ước ồ/ố/1884, theo đó, Pháp lấy hẳn Bắc Kì, còn ở Trung Kì thì Pháp nắm quyền ngoại giao, thương mại, thương chính và tất nhiên vẫn có các chức khâm

sứ, công sứ, đồn quân Pôn Be còn đòi Huế chỉ được buôn bán với người Pháp

mà thôi

Song song với việc dự thảo Quy ước trên, để gây áp lực với Nam triều, Pôn

Be đã ra lệnh cho quân đội từ Nam Kì ra chiếm Bình Thuân Khánh HoàLtiến đánh Phú Yên, Bình Định ĩên tay sai_của Pháp là Trần Bá Lộc đã tự khắc con dấu, tư xưng là tổng đốc khâm Sâi Rình - Phú Còn ở Bắc Trung Kì thì Pôn Be ra lệnh cho quân đánh chiếm Thanh - Nghệ - Tĩnh để nhập vào bản đổ Bắc Kì.Trước những hành động lấn chiếm của Pháp, triều đình Đồng Khánh có viết thư hỏi Pôn Be và Bihua (Bihoura) lúc đó là khâm sứ Pháp ở Huế nhưng chúng không thèm trả lời Mãi đến 12/9/1886 Pôn Be mới vào Huế, giảng giải với triều đình rằng “đó chỉ là biên pháp tam thời”

Nam triều không dám làm gì, chỉ có ý định gửi thư cho Chính phủ Pháp, xin được giữ nguyên Hiệp ước 1884, xin trả lại cho triều đình các tỉnh cực bắc, cực nam Trung Kì, xin quân Pháp không đóng ở các chùa trong tỉnh, xin Toàn quyền Pháp đóng trụ sở ở Huế, xin vua có quyền trực tiếp bổ nhiệm quan lại ở Bắc Kì và xin được thu thuế điền thổ ở Bắc

Trước đó, Cơ mật viện của triều đình Huế đã phải nhường cho Pháp quyền

được cấf cử quan lại ờ Bắc Kì thông qua viên kinh lược sứ (thực chất đã do

Trang 23

Pháp chỉ huy) không phải hỏi ý kiến triều đình, nghĩa là về nội dung và hình thức, Bắc Kì đã lot vào lay thực dân Pháp, na ná_như Nam Kì.

Về mặt tài chính thì ngay từ nãm 1884, triều đình đã không ròn thu được gì nữa Tại Bắc Kì là m i đất đai phì nhiêu, quân Pháp đã giành toàn quyền thu thuế điền thổ, chỉ cho lại Huế một khoản nhỏ nhoi 1,5 triệu pnơrăng (1/5 số thu) nhưng lại trả 1/2 bằng tiền còn 1/2 bằng gạo - quá ít ỏi để có thể duy trì sự tổn tại một triều đình Đã vậy, thực dân Pháp cũng không chịu chi ngay một lúc

mà chỉ trả cho có một nửa Mãi đến năm 1888, hai bên vẩn dây ’dưa, đỏi co về khoản này mà vẫn không ngã ngũ Trong tình cảnh chết đói đó, triều đình Đồng Khánh đã đồng ý với đề nghị của thực dân Pháp, cho chúng nắm luôn quyền quy định và thu chi các ngạch thuế ở Trung Kì Tiếp đó là quyền tổ chức các lực lượng cảnh sát ở khắp các tỉnh

Như vậy, Nam triều đã dần dần bị Pháp tước mất những quyền hạn cuối cùng còn sót lại, sau khi đã mất các quyền cơ bản về ngoại giao, thương chính, quân sự

Cũng từ nãm 1887, chẳng những Khâm sứ Pháp ở Huế có quyền chủ toạ Hội đồng Nội các, mà còrì có quyển tham dự bất cứ phiên họp nào của Hội đồng

Cơ mật, được quyền cử các viên chức của Pháp vào phụ trách công việc của bất cứ bộ nào hoặc ở tỉnh nào mà chúng thấy cần

Từ đây, tại các tỉnh ở Trung Kì bắt đầu xuất hiện những viên cổng sứ Pháp (giống như ở Bắc Kì đã có từ lâu)

ĐạQ du n g ày ^/7 /1 9,9,1 của Đồng Khánh đã chấm dứt hoàn toàn các quyền

hạn của triều đình Huế mà Hiệp ước 6/6/1884 còn để lại Từ nay chẳng những không còn có ngoại giao, quân đội, thương chính của triều đình Nguyễn mà cũng không còn cả ngân sách riêng của triều đình nữa

Như vậy là kể từ tháng 7/1887, thực dân Pháp rắp tâm thực hiện một chế độ cai trị ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng triệt để bộ máy phong kiến cũ Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu công việc này đã gặp không ít trờ ngại

Triều đình Hàm Nghi tuy phải lưu vong nhưng vẫn còn gây được nhiều ảnh hưởng đối với sĩ dân Bắc Kì và Trun^KU do đó một bộ phận nha lại chưa dám

ra mặt cộng tác với Pháp Thêm vào đó, cách cai trị và thái độ trịch thượng, tàn bạo của bọn thực dân đã khiến cho nhiều người bất bình Ngạy cả \Tia Thành Thái (lèn ngôi từ 1889) cũng phản ÚTỊƠ với P h á ạ Do đó đã có lúc bọn thực dân

đã có ý định phế cả Cơ mật viện lẫn ngôi vua (1890) Đèn năm 1891, khi Lanétxăng làm toàn quyền, với kinh nghiệm từng trải, hắn đã cương quyết thực hiên cho bằng được việc duy trì và câu kết với toàn bộ giai cấp địa chù phong kiến cũ ở

Trang 24

Việt Nam, đổng thời dựa vào giai cấp này để đẩy mạnh cuộc bình định quân sự của chúng.

Với đường lối này, toàn bộ triều đình phong kiến ở Huế vẫn được giữ nguyên Một lực lượng lính cơ động tới 4000 người ở đồng bằng Bắc Bộ được Pháp lập và giao cho Nam triều chỉ huy, sử dụng, cộng tác chặt chẽ với quân đội Pháp trong việc đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân Tương tự, ở Trung

Kì có các đôi lính khố xanh, ở các vùng rẻo cao có các đội lính dõng của bọn thổ ti lang đạo

Kết quả của đường lối vừa thủ tiêu những quyền lực cuối cùng của triều đình phong kiến, vừa tìm cách duy trì và câu kết với toàn bộ giai cấp phong kiến từ vua cho đến tổng lí kì hào, đã làm hình thành một chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam

Cho đến năm 1891, thực dân Pháp đã tạo ra được một chỗ dựa khá vững chắc

để vừa tiến hành công cuộc bình định bằng quân sự, vừa tổ chức cai trị và bóc lột nhân dân ta, gây trở ngại lớn cho cuộc đấu tranh dân tộc ở cuối thế kỉ XIX

b Sự ra đời của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp

Cùng đồng thời với việc thôn tính Việt Nam, đè bẹp sự phản kháng của triều đình Huế, thực dân Pháp còn mò rổnp việc xâro luợc Campuchia iàL ồ o Tại Campuchia, cũng giống như Việt Nam, từ thế kỉ XVI đã xuất hiện các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sự xâm nhập của đạo Thiên Chúa

Đầu thế kỉ XVII, các cha cố Pháp bắt đầu tới đây tfuyền đạo Họ đã được các triều vua ở Campuchia đón tiếp niềm nở Công việc của họ suôn sẻ và thuận lợi

Năm 1863 sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì của Việt Nam, Đô đốc Lagơrăngđie đã tới u Đông, buộc nhà vua Nôrôđôm kí một bản hiệp ước thảo sẵn, thừa nhận nền bảo hộ của Pháp trên đất nước Chùa Tháp

Ngày 2/6/J RR4_đô dốc Nam Kì là Tôm Sống lại bắt nhà vua Campuchia kí một bản hiệp ước mới, thừa nhân mọi khoản sửa đổi về cai trị, toà án, tài chính, thương m ại mà thực dân Pháp mới làm ra Quan lại của triều đình Cămpuchia

ở Phnôm Pênh cũng như ở các tỉnh đều do người Pháp điều khiển, thậm chí tại các sở, các bộ nơi nào có sử dụng người Pháp thì ở đó đều đo người Pháp chỉ huy

Trên thực tế cho đến năm 1884, Campuchia đã bị biến thành thuộc địa, hơn nữa còn bị coi là một tỉnh của Nam Kì thuộc Pháp

Ngày 1/11/1884, Thống đốc Nam Kì Tôm Sông ra nghị định thiết lập ở Campuchia một chế độ chính trị, cai trị và pháp lí na ná như ở Nam Kì Theo

Trang 25

đó, Campuchia được chia làm 8 tỉnh, dưới tỉnh là quận, dưới quận là tỉnh, xã ở mỗi tỉnh đều có một viên Công sứ Pháp cai quản Dưới quyền Công sứ có các quan lại người Khơ me Các xã (Sroc) ở Campuchia được tổ chức gióng hệt như các xã ở Nam Kì.

Sự xáo trộn trên đây cũng như ám mưu sáp nhập Campuchia vào Nam Kì của Pháp đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt trong dân chúng Năm 1884 Hoàng thân Sivôtha khởi nghĩa, tiếp đó là một loạt cuộc nổi dậy của nhân dân ở khắp nơi, kéo dài suốt hai nãm khiến cho thực dân Pháp phải đối phó hêt sức vất vả.Tinh hình đó đã buộc bọn thực dân phải lùi bước áp dụng một chế độ cai trị

ở Căm pu chia giống như thời điểm trước năm 1884

Tuy nhiên, quyền lực của nhà vua Campuchia lúc này đã bị hạn chế rất nhiều Từ nay, vua Nôrôđôm buộc phải “mời” Khâm sứ Pháp chủ toạ các òỊịộc họp của Hội đồng Vương quồc

ĐếnvỊ 3/2/1887, Khâm sứ Pikê đã buộc Nôrôđôm ra một đạo dụ, yêu cầu tất

cả quan lại lớn nhỏ, cao, thấp đều trực thuộc Toà Khâm sứ Pháp Công điền, công thổ (điền thổ, sơn lâm toàn quốc) có thể được bán và được mua làm tài sản tư nhân

Tháng 4/1887, dưới áp lực của thực dân Pháp, Nôrôđôm lại “chỉ thị” cho Khâm sứ PĨkễ phụ trách toàn bộ các vấn đề về tổ chức và chỉ đạo nền tài chính của Campuchia Từ đây, triều đình Nông Pênh không còn ngân sách riêng mà phải sống phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp Vua quan Campuchia đều do người Pháp trả lương

Tuy vậy, cánh thực dân Pháp ở Nam Kì vẫn còn chưa thoả mãn Chúng không muốn để Campuchia thành một đơn vị độc lập, tuy vẫn là sứ thuộc địa của Pháp Chúng muốn đặt Campuchia dưới sự quản trị trực tiếp của Sài Gòn Toan tính trên đây đã bị các cánh thực dân khác phản đối Chúng bèn đề xuất ý kiến thành lập Liên bang Đông Dương mà Sài Gòn là trung tâm

Ý kiến này được tất cả các cánh thực dân đồng tình, vì nó tạo điều kiện cho

sự thống nhất về chỉ huy và hành động để xâm lược và đàn áp mọi sự phản kháng của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh gộp chung ba “Kì” của Việt Nam với Vương quốc Campuchia thành Liên bang Đông Dương (Union Indochinoi) lúc đó còn trực thuộc Bộ Hải quân Thuộc địa Pháp Ngày 20/3/1894,

Bộ Thuộc địa Pháp được thành lập Đông Dương bắt đầu trực thuộc Bộ Thuộc địa, trụ sở đặt tại Sài Gòn

Trang 26

Đứng đầu Liên bang (xứ Đông Dương) là một viên Toàn quyền người Pháp Giúp việc cho Toàn quyền là một viên Tổng thư kí và một thượng hội đồng Trong mỗi xứ ở Đông Dương có một bộ máy cai trị riêng và một ngân sách riêng Toàn quyền Đông Dương quản lí ngân sách chung của 4 xứ gồm các khoản chi tiêu về quân sự, thuế bưu chính, thuế gián thu, thương chính và quan chức phủ toàn quyền Ngân sách nước Pháp chỉ đài thọ một phần phí tổn về quân sự, còn thì lấy ở các khoản đóng góp của ngân sách hàng xứ.

Đặt dưới quyền chỉ đạo của Toàn quyền Đông dương và đứng đầu từng xứ

ở Đông Dương là Thống đốc Nam Kì, Khâm sứ Campuchia, Khâm sứ Trung Kì

và Thốn^ sứ Bấc KỊ Phủ Toàn quyền Đông Dương lúc đó mới chỉ đóng vai trò

là cơ quan tống hợp tình hình, báo cáo về Pháp và nhận chỉ thị của Chính phủ Pháp

Các sắc lệnh ngày 12/11/1887, 9/5/1889 và ngày 21/1/1891 của Tổng thống Pháp nặng về quy định quyền hành pháp của Toàn quyền Đông Dương Mãi đến sắc lệnh ngày 21/4/1891 piới bổ sung thêm điều: Toàn qụyền Đông Dương là người được uỷ nhiệm thi hành những quyền lực của nước Cộng hoà Pháp tại Đông Dương, trong đó có cả quyền lập pháp và hành pháp Nói cách khác, toàn quyền Đông Dương thay mặt Chính plpủ Pháp cai trị Đông Dương về các mặt: Chính trị, quân sự, dân sự, ngoại giao

Từ đây, thực dân Pháp bắt đầu đẩy mạnh việc bĩnh định quân sự ở Việt Nam

và mở rộng việc chinh phục Vương quốc Lào

Tối ngày 3/10/1893, vua Xiêm đã phải thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên đất Ai Lao

Ngày'119/1/1891, Pháp cùng Trung Quốc kí sắc lệnh sáp nhập lãnh_thổ Lào vào LienJiang Đông Dương,

Ngày 27/5/1899,.Tổng thống Pháp cùng Trung Quốc kí một bản công ước, trong đo Trung Quốc nhượng cho Pháp thống trị Quảng Châu Loan (mà Pháp

đã chiếm từ tháng 4/1898) trong thời hạn 99 năm

Từ năm 1900, Quảng Châu Loan được nhâp vào Liên bang^ finng Pirnfpg nhưng quản-ií-thee quy ekế^“4ãttk-4iaihuê”

Như vậy, việc thành lập Liên bang Đông Dương của Pháp trước hết là nhằm mục đích tập trung quyển lực, thống nhất việc khai thác, bóc lột trên toàn xứ Đông Dương Tuy nhiên, sự thống nhất đó chỉ là giả tạo, còn đường lối cai trị trước sau như một của thực dân Pháp vẫn là “chia để trị” Điều này thể hiện rõ trong việc chỉ cho áp dụng các loại hình thể chế khác nhau ở Bắc Kì, Trung Kì, Nam K ì mặc dù trên toàn Liên bang Đông Dương vẫn được đặt trong phạm

Trang 27

trù “thuộc địa” với ý nghĩa rộng của khái niệm này Bằng cách đó, thực dân Pháp âm mưu xoá bỏ tên ba nước Viêt Nam, Lào, Campuchia trêũ bản dữ thế giới, thủ tiêu sức mạnh và ý chí thông nhất của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Đông Duongs

Chính sách này được thực dân Pháp triển khai thực hiện từ những năm cuối của thế kỉ XIX và ngày càng được hoàn thiện trong những năm đầu thế kỉ XX nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác bóc lột đại quy mô của chính quyền thuộc địa, được bắt đầu từ nám 1897

c Pháp thiết lập chẻ độ tài chính thuê khoá phục vụ công cuộc bỉnh định quân sự và tổ chức cai trị Đông Dương

Sau khi đã buộc triều đình Huế kí hiệp ướe Patơnốt cùng vớiviệc từng bước hình thành nền thống trị trên toàn cõi Việt Nam, thực dân Pháp

đã triển khai các kế hoạch kinh tế, tài chính nhằm giải quyết vấn đề ngân sách cho công cuộc cai trị và bình định quân sự mà chúng buộc phải tiếp tục tiến hành từ đó cho đến cuối thế kỉ XIX, đồng thời để làm giàu cho bọn tư bản tài phiệt Pháp ở cả chính quốc và thuộc địa

Trong điều kiện phải đối phó với các cuộc đấu tranh vũ trang liên tiếp của nhân dân Việt Nam, chưa thể triển khai cuộc khai thác đại quy mô được, trong giai đoạn đầu, chính quyền thực dàn chủ trương tiếp tục các chính sách về thuếkhoá của nhà nước phong kiến cũ Hai loại thuế trực thu (thuế đinh, thuế điền) và gián thu (đánh vào các hoạt động kinh tế hoặc có liên quan đến đời sống) tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, trong đó thuế gián thu trở thành nguồn chủ yếu của ngân sách Đông Dương

Trước tháng 6/1867 ở Nam Kì, thực dân Pháp đánh nhẹ vào thuế nhập cảnh, hàng nhập có khi được miễn thuế hoàn toàn, trừ các mặt hàng đặc biệt như rượu, vũ khí, thuốc nổ, pháo, các loại dầu Sở dĩ như vậy là vì hàng hoá Pháp đem sang Đông Dương lúc đó còn rất ít, nếu để hàng nhập khẩu vào nhiều, rồi đánh thuế nội thương, sẽ thu được nhiều lợi hơn

Ngược lại, vì lượng gạo ở Nam Kì xuất khẩu khá nhiều nèn chúng đánh thuế xuất 0,15đ/lbao (60kg) Thuế trâu bò bán ra 0,20đ/lcon Thuốc phiện nếu nhập vào Việt Nam (Nam Kì) được miễn thuế, còn xuất ra đánh thuế 3đ/lthùng.Tàu bè từ châu Âu, châu ú c tới thì được miễn thuế, còn thuvền bè của người Việt và người Hoa đều bị đánh thuế rất nặng

Sau nãm 1887, khi lượng hàng hoá sang Việt Nam đã dổi dào, thực dân Pháp bắt đẩu lập Ràng rào thuế quan, thuế đánh nặng vào hàng nhập cảng từ các nước khác

Trang 28

Tất cả các hàng hoá (không phải của Pháp) vào Trung Kì và Bắc Kì đều bị

đánh thuế 5% Hàng từ Sài Gòn ra, nếu là hàng Pháp, chỉ phải nộp một nửa mức

thuế trên Tiền đồng và tiền kẽm bị đánh thuế 20% trị giá Thuốc phiện vào Trung Kì, Bắc đánh thuế từ 550 đến 780 phơrãng mỗi bao Nếu rời đóng thuê 1.500 phơrãng Hàng xuất cảng đóng thuế nhất loạt 5%, nếu xuất cảng qua Pháp chỉ phải đóng 2,5%

Kết quả là hàng nhập từ các nước khác vào Việt Nam ngày càng ít, còn hàng Pháp thì vừa đắt, vừa ít thích nghi với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thì có cơ hội tràn ngập thị trường

Về nội thương, thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp thể hiện rõ ở cách đánh thuế và inức thuế mà chúng quy định Ví dụ như thuế muối: trước năm 1886, trung bình mỗi năm Trung Kì xuất khẩu 11 triệu bao muối (mỗi bao 108kg) chủ yếu đi Hương Cảng Toàn quyền Rôn Be muốn thu' lợi nhiều nên đã đánh thuế xuất khẩu 0,25 đồng (lphơrăng)/ĩbao muối Trong khi giá mỗi bao chỉ từ0,15 đến 0,20 phơrăng (gấp 5 - 6 lần giá bán) Việc sản xuất muối vì thế bị đình trệ Giá muối trong nước đột nhiên tăng lên 3 - 4 lần Dân tình khốn khổ, cả người tiêu dùng, người sản xuất, người làm nghề chuyên chở muối đều bị điêu đứng

Trước tháng 12/1886, ghe thuyền Việt Nam đi biển chuyên chở hàng từ tỉnh này sang tỉnh khác đều không phải đóng thuế Nhưng từ tháng 12/]<996 trở

đi, khi người Pháp đặt ra thuế thương chính thì thuyển chở hàng từ Thanh Hoá

ra Nam Định hay từ Thanh Hoá vào Nghệ An, đều phải đóng thuế xuất cảng, chịu mức thuế như đi sang Hương Cảng hoặc Manila Có trường hợp một con thuyền đi từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh hoặc từ thị trấn này sang một thị trấn khác,

đã phải đóng thuế tới 3 - 4 lần Đó là chưa kể đến nhữry^thứ thuế vô lí như thuế thả_aeo, thuế trong tải, thuế đèn pha, thuâ' hoa tiêu ngay cả ở những nơi chẳng có chiếc đèn pha hay chiếc hoa tiêu nào(l)

Đầu năm 1887, thực dàn Pháp chỉnh đốn lại thể lệ: quy định mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu từ các nước khác, không cạnh tranh với hàng hoá Pháp, vào Bắc Kì là 5%, các loại hàng khác bị đánh thuế 10% Nửa sau năm 1887 một sắc lệnh khắc nghiệt hơn về thuế thương chính lại ra đời, áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam và Campuchia Theo đó, tất cả hàng hoá Pháp đều được miễn thuế Tất cả hàng hoá từ các nước khác đều bị đánh thuế từ 25 đến 100% tuỳ theo từng chủng loại

(1) Trần V ăn Giàu, Chống xâm lăng, SĐD, Tr 20.

Trang 29

Với chính sách trên đày, Việt Nam đã hoàn toàn trở thành thị trường riêng của kĩ nghệ Pháp, lộ thuộc vào thị trường nước Pháp Cũng nhờ đó mà bọn tư sản công thương Pháp tha hồ trục lơi Chỉ tính riêng thị trường Nam Kì trong những nãm cuối thập kỉ 80 (thế kỉ XIX) các kĩ nghệ gia Pháp đã thu được 3 triệu phơrăng tiền lãi như chế độ thuế thương chính.

Ngoài thuế khoá, thực dân Pháp còn bày thủ đoạn làm tiền bằng cách giữ độc quyền xuất khẩu lúa gạo

Năm 1859, GiaJQinh bị chiếm thì ngay năm sau_j nãm 1860^ Pháp đã xuất khẩu 58-00fí lấD ,gari tìr cảng Sài Gòn Bảy năm sau (nãm 1867), số lượng gạo xuất khẩu lên tới 98.000 tấn Nãm 1870 đạt 230.000 tấn Chỉ trong vòng 10 nãm, từ 1860 - 1870, số lượng gạo xuất khẩu đã tăng gấp 4 lần

Để có gạo xuất khẩu kiếm lời, bọn thực dân tìm cách ép giá mua lúa của nông dân Kế đó, chúng quy định chỉ được xuất lúa chứ không được xuất khẩu gao (nhằm thu thuế tính theo bao - nhiều hơn)

Các chính sách trên đây của Pháp đã làm cho nghề trồng lúa (nghề chính) của nhân dân Nam Kì bị khủng hoảng nghiêm trọng và kéo theo sự khủng hoảng đó là sự sa sút của một loạt ngành nghề khác

Thủ đoạn tàn bạo của bọn thực dân đã khiến cho thị trường trong nước rối loạn, đời sống nhân dân vô cùng khó khãn Tệ hại nhất là trong khi Pháp đưa lúa gạo từ Nam Kì xuất khẩu sang Hồng Kông, Manila, Xinhgapo với giá rẻ mạt thì nhân dân Trung - Bắc thiếu gạo ãn, phải nhập gạo từ Hồng Kông Rút cuộc nhân dân Việt Nam đã buộc phải mua lại gạo của chính mình sản xuất ra, với giá cả đắt hơn rất nhiều so với gạo được chở thẳng ra từ Sài Gòn

Đối với các mặt hàng thiết yếu khác như muối, thực dân Pháp cũng có cách làm tương tự Năm 1897, Pháp chính thức giữ độc quyền về muối ăn Lập tức giá muối trong nước tăng gấp 10 lần so với 10 nãm trước đó Hậu quả là dân bị đói muối, nhất là nhân dân các dân tộc thiểu số Nhiều làng muối ven biển bị phá sản

vì không chịu đựng được chính sách thuế khoá hà khắc của bọn thực dân

Vê rượu: Lúc đầu thực dân Pháp cho các công ti tư bản lĩnh thầu nấu và

bán rượu (Từ năm 1891 chế độ này bị bãi bỏ, thay bằng chế độ nấu rượu "tự do" để đánh thuế theo từng lít)

Tiếp đó, Pháp nấm độc quyền bán rượu Năm 1897, tại Bắc Kì, chúng bắt những người sản xuất rượu bán cho chúng với giá 0,17đ/llít rượu 100 ’, rồi pha thành 2 lít để bán cho các đại lí với giá 0,14đ/lít và người tiêu dùng 0.17đ/l lít

Trang 30

Từ năm 1900 đến 1910 thực dân Pháp đã thu được 45 triệu phơrăng tiền lãi nhờ việc bán rượu'°.

Về thuốc phiện: Thoạt tiên, thực dân Pháp đặt chế độ lĩnh trưng bán thuốc

phiện để thu thuế, v ề sau, chúng nắm tất cả việc mua, chế biến và bán thuốc phiện Khắp hang cùng ngõ hẻm trên đất nước Việt Nam, chỗ nào cũng có đại lí bán rượu và thuốc phiện mang tên RệA hoặc R o bên cạnh lá cờ ba sắc (cờ Pháp)(2) Người ta tính cứ trong 1.000 làng Việt Nam thì có tới 1.500 đại lí bán

lẻ rượu và thuốc phiện

Năm 1900, chỉ riêng hai thứ thuế: muối và thuốc phiện đã chiếm 1.150.000 đồng trong tổng số 1.350.000 đổng thu từ thuế gián thu

Ngoài việc độc quyền mua bán rượu và thuốc phiện, thực dân Pháp còn mở nhiều tiệm hút, tiệm rượu và sòng bạcỗ Năm 1887 chỉ riêng ở Nam Kì, chúng đã thu được từ việc kinh doanh tiệm hút, tiệm rượu, sòng bạc 2,5 triệu phơrăng

Đó là các loại thuế gián thuỗ Còn thuế trực thu thì cho dù mãi cho đến những năm đầu thế kỉ XX, hai thứ thuế đinh, điền mới trở thành một nguồn thu lớn của chính quyền thực dân, nhưng ngay ở cuối thế kỉ XIX, để thực hiện chính sách vơ vét tài chính, thực dân Pháp cũng đã có những thủ đoạn hết sức tàn bạo để bòn rút nhân dân Việt Nam thông qua hai loại thuế này

Trước hết là thuế đinh (thuế thân) - là thứ thuế có từ thời trung cổ Thuế thân đánh vào các dân đinh từ 18 đến 60 tuổi Trước kia dân bạch đinh không phải đóng loại thuế này Đến triều Nguyễn, thu 14 xu một xuất đinh, nay tăng lên 30 xu ở Trung Kì và 50 xu ở Bắc Kì

Ngày 12/10/1886, theo sự thoả thuận của Nam Triều và chính quyền thực dân, ngoài thuế thân, mỗi tráng đinh cũng phải góp 48 ngày đi phu không công Năm 1897, Toàn quyền Pôn Đume (Paul Doumer) quyết định "bán lại" 20 ngày trong số 48 ngày đi phu đó để lấy 2 đổng, gộp thêm vào thuế thân (Nghị định ngày 2/6/1897 ở Bắc Kì và Đạo dụ 14/8/1898 ở Trung Kì) khiến cho thuế thân đột ngột tăng vọt từ 50 xu lên 2,5 đồng ở Bắc Kì và từ 30 xu lên 2,3 đồng ở Trung Kì, tương đương với giá 1 tạ gạo loại 1 lúc bấy giờ

Về th u ế điền: Trước kia mỗi mẫu ruộng hạng nhất phải nộp thuế tương

đương 1 đồng tiền Đông Dương Năm 1897 tăng lên 1,5 đồng đối với ruộng hạng nhất 1,1 đổng hạng nhì và 0,80 đồng hạng ba Riêng ở Bắc Kì từ năm

1888 đến năm 1896 thuế trực thu tăng gấp 2 lần Đáng chú ý là, để thu được

(1) Lịch s ử V iệ t N am , tập II, NXB Khoa học xã hội, H, 1985 Tr 104.

(2) R.A: Regie d'Alcool: R.O: Regie d'opium.

Trang 31

nhiều hơn từ nguồn thuế ruộng, thực dân Pháp đã thay đổi cách tính diện tích ruộng đất Theo quy định thời Tự Đức, mỗi mẫu ruổng tương đương 4970 mét vuông Nãm 1897, ở Bắc Kì, chính quyền thực dân quy định mỗi mẫu là 3600 mét vuông, vì vậy thuế ruộng đột nhiên tăng lên, có nơi tới 2,5 lần so với tniớc.Nhiều loại thuế mới được đặt ra như: thuế _vân chuyên, thuê tiêu thụ, thuê trước bạ, thuế động sản lợi tức, thuế mỏ, thuế môn bài, thuế nhà đất, thuế vỉa hè, thuế gia súc, gia cầm Đó là chưa kể những "công sưu",_"công_ích", phu phen tạp dịch và những nỗi khổ của nhân dân trước nhiều thủ đoạn bóc lột phi kinh tế khác, trong đó có nan_đầuxcuiổng.bac Đỏng Dương là một điển hinh Trong việc đầu cơ này, Ngân hàng Đông Dương có một vai trò đặc biệt quan trọng.

Ngân hàng Đông Dương dược thành Ịâp ngàỵ 21/1/1875 tại Pari với một ban quản trị lúc đầu gồm nhiều chủ ngân hàng lớn của Pháp như Địa ốc Ngân hàng; Ngân hàng Chiết khấu quốc gia Pari Chỉ bôn tháng sau khi nhánh đầu tiên của Ngân hàng Đông Dương đã được khai trương ở Sài Gòn (14/4/1875) tiếp

đó, Ngân hàng Đông Dương bắt đầu thiết lâp các chi nhánh của mình ở Hải Phòng (1885), Hà Nội (1886), Đà Nẵng (1891) rồi lần lượt đến các tỉnh khác như Nam Định, Vinh, Quy Nhơn, Đà L ạt

Ngân hàng Đông Dương có 3 chức nãng: Phát hành giấy bạc, trao đổi buôn bán và đầu tư tài chính

Lợi dụng tính chất không ổn định của đồng bạc trắng, Ngân hàng Đông Dương đã đầu cơ trục lợi Số vốn của Ngân hàng Đông Dương tăng lên mau chóng: từ 8 triệu Phơrăng khi mới thành lập (năm 1875) đến năm 1900 đã tăng lên 24 triệu, năm 1920 tăng lên 72 triệu và 1946 đạt 157,2 triệu

Bằng các hoạt động này, vào những năm cuối thế kỉ XIX, nhà băng Đông Dương đã chi phối nhiều ngành hoạt động kinh tế và cả những hoạt động của Chính phủ Đông Dương

Nhìn một cách tổng quát, ở những năm cuối thế kỉ XIX, do yêu cầu phải có nguồn ngân sách để tiến hành cuộc bình định quân sự, đối phó với các cuộc đấu tranh tiếp tục của nhân dân Việt Nam, chống cuộc xâm lược của Pháp và để từng bước tổ chức bộ máy cai trị thực dân, cho nên, ngoài việc biến Việt Nam thành "Một kho thuế khổng lồ" thì các hoạt động khác như thương nghiệp, công nghiệp chỉ mới đang ở giai đoạn ban đầu, chưa có gì đáng kể

Tuy nhiên, riêng ở mảng kinh tế nông nghiệp thì chính sách cướp đoạt ruộng đất của Pháp, hoặc tạo điều kiện cho bọn địa chủ Việt Nam cướp ruộng đất của nông dân, đã thực sự gây nên những xáo trộn lớn cho nền kinh tế nước ta

Trang 32

Dựa vào luật lệ cũ, coi nước là của vua, cho nên sau khi chiếm xong Việt Nam, thực dân Pháp lấy cớ chúng là đại diện của nhà nước mới, đã được nhà vua công nhận liên tiếp ra các quy chế về đất đai Đó là các nghị định tháng 11/1878711/1886, 9/1888, 10/1889, 10/1890, 1/1894 và 3/1897.

Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho phép bọn địa chủ thực dân được lập các đồn điền ở những vùng đất mà chúng gọi là "đất vô chủ" Năm

1897, triều đình Huế kí điều ước, nhượng cho thực dân Pháp quyền khai khẩn đất hoang Ngày 1/5/1890, chính quyền thực dân ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đát trong luật pháp phong kiến từ đó, chúng tha hồ cướp đoạt ruộng đất ở các nơi, với một số lượng không hạn chế Theo thống kê của Pháp, cho đến năm 1896, riêng ở Trung Kì, thực dân Pháp đã cướp 3.967 héc ta ruộng đất, lập

ra 10 đồn điền Còn ở Bắc Kì thì chúng đã cướp không 33.497 héc ta, lập ra 53 đồn điền Đến cuối thế kỉ XIX chúng đã cướp lấy 322.014 héc ta ruộng đất ở Việt Nam Một loạt tên địa chủ người Pháp ở Nam Kì đã xuất hiện trong giai đoạn này như Pôn Êmơry (Paul Êmry) Laba (Labat), Pôrông Đô (Porong Do), Lica (Lika) mỗi tên chiếm đoạt từ 2000 đến 20.000 héc ta đất canh tấc

Ngoài ra, bọn địa chủ người Việt, bọn tay sai mới của Pháp, xuất hiện trong quá trình bọn thực dân xâm lược và bình định nước ta như Tổng đốc Phương, Đốc phủ Lộc (Trần Bá Lộc) ở Nam Kì, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan ở Bắc Kì, Nguyễn Thân ở Trung Kì và đám cố đạo dưới danh nghĩa nhà chung cũng cướp đoạt không ít ruộng đất của nông dân

Điều đáng nói là, sau khi bao chiếm ruộng đất, bọn thực dân đã không đưa đất vào khai thác và sử dụng là bao nhiêu, chủ yếu là để đất hoang Nếu có được khai thác trong các đồn điền thì lại chủ yếu vẫn là phát canh thu tô theo lối bóc lột phong kiến Chúng không quan tâm đến việc sử dụng kĩ thuật và máy móc trong nông nghiệp (trừ một vài đồn điền ở Nam Kì) mà chủ yếu vẫn thiên về "phát canh thu tô", bóc lột đất đai và nhân công rẻ mạt Chính Đờ Lanétxăng (De Lanessan) đã ca ngợi "Chế độ canh tác có lợi về mật kinh tế nhất và là một chế độ chắc chắn nhất cho việc trổng trọt các loại cây cơ bản cũng như các loại cây công nghiệp là chế độ phát canh thu tô nó giảm được một phần vô cùng lớn những chi phí chung và những chi phí về việc giám sát của các nhà thực dân người Âu, những chi phí này ở thuộc địa lại lớn hơn rất nhiều so với ở nước Pháp"(1)

(l) De Lanessan, L a colonisation francaise en ỉndochine (Công cuộc thực dân của người

Pháp ở Đông Dương) Folix Aican, Hditeux, Paris 1985, Tr226.

Trang 33

Chế độ thực dân như vậy không mang lại cho sự giàu có cho xứ sở Nó chỉ làm tãng thêm sự nghèo khổ cho người Việt Nam.

Nạn nhân của các chính sách và thủ đoạn bóc lột trên đây của thực dân Pháp, chính là nhân dân lao động Việt Nam, trong đó tuyệt đại đa số là nông dân, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ

Mâu thuẫn dân tộc và giai cấp vì vậy ngày càng trở nên sâu sắc Điều này lí giải nguyên nhân vì sao vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, nông dân vẫn không ngừng đứng lên Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa lớn dưới ngọn cờ Cần Vương như Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê do các sĩ phu yêu nước có danh vọng lãnh đạo thì lại vẫn có các cuộc đấu tranh tự vệ nổ ra ở các vùng trung du, miền núi, với mục tiêu giữ đất, giữ làng, do chính những lãnh tụ nông dân - những người không có danh vọng hoặc ít có danh vọng cầm đầu, được duy trì

và phát triển trong một thời gian khá dài, tiêu biểu là phong trào nóng dân Yên Thế chống thực dân Pháp (1884-1913)

n PHONG TRÀO VŨ TRANG CHỐNG PHÁP TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN

VÀ LAN RỘNG TRONG NHŨNG NÃM c u ố i THẾ KỈ XIX

1 Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi và tình hình ứng nghĩa trong cả nước

a Phong trào Cần Vương bùng nổ

Như đã nói ở trên, trước sự xâm lãng của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến mà đại diện là triều đình nhà Nguyễn đã từng bước đầu hàng rồi cam tâm làm tay sai cho giặc Tuy nhiên trong nội bộ của giai cấp đó đã diễn ra một quá trình phân hoá Bộ phận có tư tưởng chủ chiến dần dần tách ra, thành phe chủ chiến, hoạt động ngày càng mạnh, nhất là từ sau khi vua Tự Đức mất (7/1883).Hậu thuẫn cho các hoạt động đó là phong trào yêu nước của quần chúng nhân dân khắp các địa phương

Phe chủ chiến gồm đông đảo những sĩ phu, văn thân, những trí thức phong kiến lúc bấy giờ Một số trong họ là những nhà khoa bảng lớn có ra làm quan, nhưng phần nhiều là những hưu quan hoặc những nhà khoa mục ờ hương thôn

Họ không có nhiều đặc quyền đặc lợi ở triều đình, cũng không có 2Ía tư điền sản ở thôn quê, nhưng họ có uy tín lớn trong nhân dân, được nhốn dân kính trọng, tin tưởng

Là những người ít nhiều chịu ảnh hường của tư tưởng nho giáo, họ quan niệm nước phải gắn với vua, ái quốc thì phải "trung quân" và "truna quân là ái quốc", nước còn thì vua phải còn

Trang 34

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, một bộ phận quan lại, sĩ phu có điều kiện sống gần gũi với nhân dân đã tiếp thu được sức mạnh của truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Trước việc triều đình đầu hàng, cắt đất cho giặc, họ hết sức phẫn kích và căm giận Lương tri, tiết tháo của họ bị trà đạp.Sau Hiệp ước 5/6/1862 một số sĩ phu, văn thân ở Nam Kì đã tự động khởi nghĩa hoặc tham gia khởi nghĩa cùng với dân chúng địa phương, hi vọng giúp cho triều đình thay đổi tình thế.

Nhưng, những bản hiệp ước 1883, 1884 đã làm tiêu tan những hi vọng cuối cùng của họ Lòng yêu nước, căm thù giặc, căm thù bọn "gian thần bán nước cho Tây" đã biến thành động lực thúc đẩy họ dứt khoát đứng về phía nhân dân chiến đấu vì nền độc lập dân tộcễ

Năm 1883 sau khi kí hoà ước Hácmăng, theo yêu cầu của Pháp, triều đình Huế ra lệnh bãi binh, giải tán các lực lượng kháng chiến còn lại ở Bắc Kì, nhưng cả thực dân Pháp và triều đình Huế đều phải bối rối trước phong trào kháng chiến tiếp tục diễn ra sôi nổi ở các địa phương

Tại Sơn Tây, Bắc Ninh và tại các huyện xung quanh Hà Nội như Hoài Đức, Vĩnh Thuận, Thanh Oai; Nam Sách, Ninh Giang (Hải Dương), nhân dân vẫn tiếp tục kháng chiến chống Pháp

Tuy vậy cũng phải đến khi nổ ra cuộc phản công quân Pháp của phe chủ chiến ở kinh thành Huế, Hàm Nghi xuất bôn, hạ chiếu Cần Vương (giúp vua) thì các sĩ phu, văn thân mới thực sự đứng ra, tổ chức cuộc kháng chiến quyết liệt, vì chính họ là đối tượng kêu gọi Cần Vương trước tiên

Lúc này thì "danh" đã "chính", "ngôn" đã "thuận", ái quốc đã có thể gắn với

"trung quân", điều mà trước đây đã không thể xảy ra với triều đình phong kiến Nguyễn

Như vậy, nếu trước kia, nhân dân yêu nước là lực lượng thanh ứng cho lực lượng chủ chiến trong triều đình Huế, thúc đẩy một số phần tử còn do dự đứng hẳn về phía những người chống Pháp thì nay, chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, có sự ủng hộ của bộ phận sĩ phu, văn thân lại trở thành động lực thúc đẩy phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, trở thành một cao trào rầm rộ, quyết liệt, liên tục trong suốt 10 năm cuối của thế kỉ XIX

Ngay sau khi chiếu Cần Vương phát ra (ngày 13/7/1885, nhiều sĩ phu đã đứng lên khởi nghĩa Họ lấy danh nghĩa Cần Vương, phò vị vua minh quân yêu nước, vì sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc để tập hợp lực lượng chống Pháp chống phong kiến đầu hàng

Trang 35

Ở Nam Kì, ngay từ đầu năm 1885 đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa lấy danh nghĩa Cần Vương như cuộc nổi dậy của Quản Hớn ở 18 thôn Vườn Trần, cho

dù lúc đó Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chưa khởi sự

Sau tháng 7/1885, khắp Trung Kì và Bắc Kì, từ Bình Thuận đẽn Lạng Sơn, không nơi nào mà lại không có khởi nghĩa do văn thân lãnh đạo

Phong trào yêu nước dưới cờ Cần Vương đặc biệt sôi nổi và rộng khắp trong giai đoạn từ năm 1885 đến năm 1888, tức là từ khi Hàm Nghi xuất bôn,

hạ chiếu Cần Vương cho đến khi Hàm Nghi bị bắt (11/1888)

Từ nãm 1889 trở đi tuy có nhiều cuộc khởi nghĩa Cần Vương đã bị dập tắt nhưng phong trào vẫn tiếp tục phát triển, có xu hướng đi vào chiều sâu, quy tụ thành những cuộc khởi nghĩa lớn, có trình độ tổ chức cao, có địa bàn hoạt động rộng và trong một chừng mực nhất định - đã biết dựa vào dân để tiếp tục tồn tại như cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Hùng Lĩnh, Hương Khê Vì vậy, cho dù không có Hàm Nghi, các cuộc khởi nghĩa nói trên vẫn tiếp tục được duy trì cho mãi đến năm 1896

Nhìn tổng thể về mật thời gian là như vậy, nhưng về phương diện địa lí, ta cũng có thể phác hoạ tiến trình phát triển của phong trào Cần Vương như sau:Tại các tỉnh Nam Trung Kì: ở giai đoạn đầu phong trào nổ ra hết sức sôi nổi, quyết liệt Khắp các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình T huận đều có khởi nghĩa Cần Vương

Tại Quảng Nam, tiêu biểu có phong trào của Trần Văn Dự, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Bá Loan, Nguyễn Hàm

Ở Quảng Ngãi có Nguyễn Duy Cung, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận, Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân

ở Bình Định có Đào Doãn Định, Mai Xuân Thưởng (vừa hoạt động ở Binh Định, vừa hoạt động ở ba tỉnh cực Nam Trung Kì)

Tại miền Trung Trung Kì gồm các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Binh thì phong trào tập trung nhất ở Quảng Bình - nơi mà sau nhiểu lần thay đổi chỗ ở,

từ khoảng tháng 10/1885, Hàm Nghi đã chọn làm địa bàn xây dựng căn cứ

Tại đây, đứng đầu cuộc kháng chiến ngoài Hàm Nghi còn có Tỏn Thất Thuyết, hai con của ông là Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp; chỉ huy chiến đấu

có Trần Xuân Soạn, Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân; các tướng trực tiếp cầm quân

có Phạm tư ờ ng, Trần Văn Định (Tú Gi Luân), Nguyễn Tự Như, Trương Đình Hội, Đặng Hữu Phổ, Hoàng Văn Phúc

Trang 36

Ở Trung Kì (Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá) có Lê Ninh, Nguyễn Xuân

Ôn, Lê Doãn Nhạ, Phan Cát Thu, Nguyễn Đôn Tiết, Nguyễn Hanh, Đinh Nha Hạnh, Nguyễn Phương, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cao Điền

Ở vùng Thái Bình, Nam Định có Tạ Hiện, Lã Xuân Oai (Uy), Đỗ Huy Liệu, Vũ Hữu Lộc, Nguyễn Đức Huy

Ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương có Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao

Ở Phú Thọ có Nguyễn Văn Giáp

Ở miền Tây Bắc có Ngô Quang Bích

ở phủ Lạng Thương, Lạng Sơn có Hoàng Đinh Kinh

Tại vùng hạ lưu sông Đà có Đề Kiều, Đốc Ngữ

Như vậy là từ khi Hàm Nghi kêu gọi Cần Vương, nhân dân các địa phương,

ở khắp nơi dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu văn thân yêu nước, đã sôi nổi đứng lên chống Pháp

Mặc dầu diễn ra dưới khẩu hiệu Cần Vương, nhưng thực tế đây là một phong trào đấu tranh yêu nước chống xâm lược của nhàn dân taế Trong thời kì này, hoàn toàn vắng mặt sự tham gia của quân đội triều đình Lãnh đạo phong trào không còn là các võ quan triều Nguyễn như trong thời kì đầu chống Pháp

mà là các sĩ phu văn thân yêu nước, có chung một nỗi đau mất nước với quần chúng lao động, nên đã tự nguyện đứng về phía nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược

Từ cuối năm 1885 đến cuối năm 1886, ba lần thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào nơi ở của Hàm Nghi nhưng đều thất bại

Từ giữa năm 1887 trở đi, trước những chiến dịch càn quét liên miên của địch, phong trào Cần Vương ở Quảng Bình bắt đầu suy yếu Một số thủ lĩnh quan trọng như Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soan đã bỏ sang Trung Quốc, Nguyễn Phạm Tuân bị thương rồi hi sinh Tiếp đó, căn cứ Lê Trực bị đột kích,

Lê Trực thoát được nhưng toàn bộ nghĩa quân của ông bị tiêu diệt

Nhìn chung, sau một thời kì hoạt động sôi nổi, từ năm 1887 trở đi, phong trào Cần Vương trên phạm vi cả nước đã có những dấu hiệu suy giảm rõ rệt.Ngoài những tổn thất ở Nam Trung Kì và ở Quảng Bình thì tại Bắc Kì, phong trào cũng gặp nhiều tổn thất Đầu tháng 2/1887, khởi nghĩa của Tạ Hiện (ở vùng Thái Bình), một cuộc khởi nghĩa có quy mô tương đối lớn đã bị dập tắt Cuối năm 1887, Hoàng Đình Kinh bị giặc bắt và giết hại

Trang 37

Trong hàng ngũ thân cận của Hàm Nghi bắt đầu phân hoá Một số hoang mang, dao động Phan Vãn Mi, một kẻ hầu cận bên cạnh nhà vua đã ra đầu thú

và hợp tác với Pháp để phá hoại phong trào Cần Vương

Trương Quang Ngọc, thủ lĩnh người địa phương có trách nhiệm bảo vệ Hàm Nghi bị giặc mua chuộc, rắp tâm bắt nhà vua nộp cho Pháp Cuối nãm

1888, giặc đã bố trí cho Ngọc và một tên phản bội nữa có tên là Tinh (Nguyễn Đình Tình)n) cùng 20 thủ hạ được võ trang đầy đù, tìm vào nơi ở của Hàm Nghi

Bị bất ngờ, đội cận vệ của nhà vua không kịp trở tay, đã bị chúng giết chết, trong đó có Tôn Thất Thiệp, con trai Tôn Thất Thuvết, lúc đó mới 17 tuổi (cùng tuổi với Hàm Nghi) Còn Hàm Nghi thì bị chúng bắt nộp cho thực dân Pháp rồi

bị Pháp đưa đi đày sang Angiêri

Việc Hàm Nghi bị bắt là một tổn thất lớn của phong trào Cẩn Vương Một luồng không khí bi quan đã bao trùm lên các tướng lĩnh còn lại Tôn Thất Đạm

tự sát, Lê Trực phải ra hàng rồi về sống cuộc đời ẩn dật

Phong trào Cần Vương ở Quảng Binh sau 3 năm cầm cự với địch, đến đây tan rã hoàn toàn

Cũng trong năm 1888, phong trào ở vùng Tây bắc do Ngô Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp lãnh đạo, sau một loạt cuộc chạm trán với địch đã đi vào giai đoạn thoái trào Sau đó, các tướng lĩnh cũ còn lại trong phong trào Tây bắc đã

cố gắng gây dựng lại và duy trì căc hoạt động ở vùng hạ lưu sông Đà cho đến năm 1893

Từ cuối năm 1888, sau những tổn thất dồn dập, phong trào Cần Vương chuyển sang giai đoạn 2, "phong trào Cần Vương không vua", nhưng đi vào chiều sâu, tập hợp xung quanh các cuộc khởi nghĩa lớn, tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Hùng Lĩnh, Hương Khê

Dưới đây là một số phong trào cụ thể:

b Phong trào Cần Vương ở Nam Trung Kì

ở Nam Trung Kì, từ đèo Hải Vân trở vào đến Bình Thuận, chỉ một thòi gian ngắn sau khi nổ ra vụ biến Kinh thành, không khí khởi nghĩa đã rất sôi động.Khi chiếu Cần Vương của Hàm Nghi phát ra, các văn thân nô nức toả về các địa phương, hô hào nhân dân ứng nghĩa Việc tuyên đọc chiếu Cần Vương được tổ chức và đón nhận một cách long trọng:

(1> Nguyễn Đình Tinh là một người trong đội bảo vệ nhà vua Sau khi giao nộp Hàm Nghi cho Pháp, được Pháp phong chức, nhưng không dám về quê, xin đi Bình Thuận rồi m ất tích.

Trang 38

"Một nho sĩ danh tiếng chấp chiếu chỉ dụ, hội họp thân hào và nhân dân ở đình làng Có hai dãy cờ cắm hai bên, ở giữa là bàn thờ có lọng che màu vàng (màu của nhà vua) trên đặt một cái tráp mạ vàng, trong đựng chỉ dụ của nhà vua Các kì hào trong làng quỳ lạy trước bàn thờ: Nhân vật có danh vọng nhất

mở nắp hộp, rút chỉ dụ của nhà vua đọc lớn tiếng, giải thích và vạch rõ nhiệm

vụ của mỗi người Trong niềm hân hoan, tất cả những người hiện diện thề tiêu diệt kẻ thù Họ tập hợp binh khí, phổ biến nhất là ngọn giáo đơn giản Thợ rèn được tuyển mộ để rèn thêm những ngọn giáo mới và tổ chức đăng lính Thường

là những trai tráng tập hợp lại tại một căn trại Và người ta cố gắng trang bị đồng phục Trong một vài ngày đã thành lập những đoàn quân với những lá cờ

đỏ tung bay"(1)

Tại Quảng Nam, sơn phòng sứ Trần Văn Dự cùng đạo quân của mình anh dũng bảo vệ tỉnh thành Quân Pháp từ Đà Nẵng kéo đến, hai bên giao chiến kịch liệt, cuối cùng lực lượng ta yếu hơn phải rút

Tháng 2 và tháng 3 năm 1887, một tiểu đoàn địch dưới sự chỉ huy của tên quan năm Boilevơ phối hợp với tiểu đoàn của Braxani tiến đánh khoảng 2000 nghĩa quân Tháng 5/1887 một trận chiến quyết liệt lại diễn ra ở vùng sông Thu Bổn

Từ khoảng tháng 10/1886 đến tháng 6/1887 nghĩa quân Quảng Nam đã tổ chức 13 lần tấn công vào đồn Trường Phọc; ta và địch chạm trán nhau 37 lần.Tại Quảng Ngãi, văn thân và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bá Loan (con trai Nguyễn Bá Nghi liên hợp với lực lượng của Bùi Diệu, Đặng Đề ở Bình Định tiến đánh toán quân của Nguyễn Thân (phụ trách sơn phòng Quảng Ngãi nhưng đã theo Pháp) Trong tay Nguyễn Thân lúc đó có 1.206 lính kinh, 1.580 lính tỉnh, 316 lính mộ và trên 3.000 lính thuộc các cơ binh của sơn phòng Quảng Ngãi Với số quân này, Nguyễn Thân đã từng bước đẩy lùi các lực lượng nghĩa hội ra khỏi các huyện lị Vì vậy, các cuộc giao chiến giữa các đội nghĩa binh của Nguyễn Bá Loan, Tôn Tường, Thái Thú, Nguyễn Hạnh, Nguyễn Tấn

Kì, Nguyễn Lân, Nguyễn Quý với quân của Nguyễn Thân thường xuyên nổ ra Trong số những thủ lĩnh có tên tuổi của phong trào Cần Vương Quảng Ngãi lúc bấy giờ, cần phải kể đến Nguyễn Hiện, Lê Trung Đình, Trần Du (cùng quê với Nguyễn Thân)

Tại Bình Định, tháng 7/1885 khi nổ ra cuộc phản công Kinh thành thì ở đây đang diễn ra kì thi hương Được tin Hàm Nghi xuất bôn, mấy ngàn sĩ tử đã ào ạt

(1) Charles F oum iau- Annan - Tonkin (1885-1896), Paris 1989, Tr.46.

Trang 39

phá trường bỏ thi về quê tụ nghĩa Mai Xuân Thường đã làm bài vịnh Sĩ tứ

trường thi nổi tiếng:

Cửa trường vang dạ tiếng còi hơi

Cờ nghĩa treo lên đã ngất trời Đạo trọng vua tôi nào dám quản Oán hờn người Pháp có đâu vơi.

Kế đó, cho dù đã đậu cử nhân, Mai Xuân Thường vẫn quay về Phú Lạc, bỏ tiền của, chiêu mộ dân dũng, chọn Hòn Sưng làm địa điểm xấy dựng căn cứ khởi nghĩa

Đào Doãn Định, một trọng quan ờ Huế, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đưa tin Cần Vương, ông về quê Bình Định, mộ 600 nghĩa binh, lập căn cứ ở làng Tùng Giản

Một số sĩ phu, văn thân khác là Bùi Điền (ở Mĩ Hoà, huyện Phù Mĩ), Phạm Thông (huyện Phù Mĩ) đã tới lập căn cứ ờ vùng núi Súy (xã Mĩ ỉloà, huyện Phù Mĩ) để chống Pháp

Lực lượng tham gia phong trào Cần Vương ở Bình Định khá đông đảo, có tới vài ngàn người, thuộc đủ mọi tầng lớp nhân dân như sĩ phu, văn thân, thanh niên, nông dân, cử nhân, ấm sinh, võ sinh, binh lính (lính sơn phòng c ũ )

Giữa tháng 7/1885, nghĩa quân tổ chức cuộc bao vây đánh chiếm tỉnh thành Bình Định rồi kéo đi đánh phá các làng giáo dân, trừng trị bọn quan lại ngoan

cố theo giặc (như Tổng đốc Lê Thận)

Từ Bình Định, phong trào phát triển ra cả phía Bắc (Quảng Ngãi) và vào phía Nam (Phú Yên) Đạo quân của Cử nhân Nguyễn Trọng Trì đã phối hợp với thân hào, sĩ phu của tỉnh Phú Yên tổ chức cuộc tấn công tỉnh lị (tháng 9/1885) bắt giam Bố chánh Phạm Như Xươna

Từ tháng 7/1885 đến tháng 9/1885, nghĩa quân Cần Vương ở Bình Định hoạt động trên một địa bàn rộng lớn từ Nam Quảng Ngãi đến tận Phú Yên, họ anh dũng chống trả quân Pháp và các lực lượng tay sai Nhiều trận đánh lớn đã diễn ra như trận Cầu Đôi (1/9/1885), trận cầu Trường ú c (trên đường từ Quy Nhơn đi Bình Định) Trong trận này, nghĩa quân đã chạm trán với đại đội lính thuỷ đánh bộ, có hỗ trợ của pháo binh do Đờ Cuốcxy, tướng Pruđom (Pru d'home) và Khâm sứ Trung Kì Sămpô (De Champeaux) tham gia chỉ huy

Vì phải đối phó với phong trào ở Bắc Trung Kì, đội quân này sau đó đã rút vào ngày 9/9/1885, chỉ để lại một lực lượng nhỏ do Điô (Dyot) chỉ huv nghĩa quân Cần Vương Bình Định lại trờ lại làm chủ địa bàn cũ

Trang 40

Từ cuối năm 1885 đến đầu năm 1887, phong trào ở Bình Địph tiếp tục diên

ra sôi nổi Nhiều căn cứ của nghĩa quân đã được xây dựng như trung tâm Lộc Động ở huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn) do Mai Xuân Thưởng chỉ huy; bên cạnh là các mật khu Hầm Hô, mật khu Linh Đỗng (gần các bản làng người

Ba Na), căn cứ Nam Trại (gần các làng Hoà Hiệp, Hoà Sơn, Hoà Lạc, tổng Phú Phong), căn cứ Bắc Trại (gần các làng Thuận Ninh, Thuận Nhứt của người Việt và làng Cà Te (của đổng bào Ba Na), chạy dài đến tận xã Cát Lâm (huyện Phù Cát)

Lực lượng quân đội triều đình theo Cần Vương ở quân thứ Hương Sơn (thường gọi là Núi Thơm) nằm giữa các làng Kiên Long, Trường Định, Vân Trường (nay thuộc xã Binh Hoà, huyện Tây Sơn) do Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì cùng Thống trấn Nguyễn Can, Trần Nhã chỉ huy Được sự giúp đỡ của nhân dân đã ra sức củng cố công sự, đồn luỹ và luyện tập sẵn sàng chiến đấu

Căn cứ kho lương Hòn Kho (Tiên Thuận) nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, tiếp giáp với các bản làng của đồng bào dân tộc Ba Na, được Tán tương quân vụ Huỳnh Ngạc phụ trách Theo lệnh của Mai Xuân Thưởng, ông đã bố trí bảo vệ, canh phòng rất cẩn mật Giữa tháng 2/1887, quân địch dưới sự chỉ huy của Đuyma (Dumas) mở cuộc càn quét khắp vùng Nam Bình Định đến tận An Khê, nhưng chúng không sao vào được khu vực kho lương ở đây

Tại Phù Mĩ có quân thứ Xuân Vinh đóng ở phía nam huyện Bồng Sơn (cách cửa biển An Dũ 3km) Người phụ trách quân thứ này là Võ Đạt (quân kiểm lương An Dũ), được Mai Xuân Thưởng phong làm Bình Tây đốc tướng Phối hợp chỉ huy nghĩa binh ở đây còn có các lãnh binh họ Trần ở Khánh Trạch; lãnh binh họ Võ ở Định Công (Hoài Mĩ, Hoài Nhơn)

Vùng rừng núi phía tây huyện Bổng Sơn có mật khu Tổng Dinh và một số căn

cứ lẻ Chỉ huy mật khu này là Tăng Doãn Văn (sau này đổi tên là Tăng Bạt Hổ)

Theo thống kê của Pháp, có thể chưa thật chính xác thì ở Bình Định, thời gian này có tới l ử723 thủ lĩnh nghĩa quân (từ nguyên soái, phó tướng, thống binh, thống trấn tán lí, hiệp quản đến cai, đội)°} Lực lượng tham gia chủ yếu là trai tráng ở cả đổng bằng và miền núi Bình Định, Gia Lai, thuộc nhiều dân tộc khác nhau như Kinh, Ba Na, Chăm, H'rê Các đội quân người Ba Na, H'rê mang tên "Sơn Hùng", "Sơn Dũng" chiến đấu vô cùng dũng cảm, mưu trí, táo bạo, họ thường đi đầu trong những lần giao chiến với quân thù

(l) Phan Văn Cảnh, Phong trào Cẩn Vương ở Bình Định (1885 - 1887), Luận án tiến sĩ

lịch sử, 1997, Tr 67-69.

Ngày đăng: 10/12/2022, 13:17

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm