1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá quy định về điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân gia đình

19 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá quy định về điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân Gia đình
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn nhân Và Gia đình
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 727,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

0 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1 1 Khái niệm kết hôn 1 2 Khái niệm về điều kiện kết hôn 1 II PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 2 1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn 2 2.

Trang 1

0

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1

1 Khái niệm kết hôn 1

2 Khái niệm về điều kiện kết hôn 1

II PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 2 1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn 2

2 Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên kết hôn 5

3 Điều kiện về nhận thức 7

4 Điều kiện về giới tính 8

5 Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn 8

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 12

1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện kết hôn 12

2 Một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật 13

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

0

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

0

MỞ ĐẦU

Chức năng tái sản xuất ra con người là chức năng quan trọng nhất của gia đình

để duy trì xã hội loài người Khởi nguồn của gia đình là sự xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới, được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ Xét về mặt lý luận, nếu xem gia đình là nền tảng của xã hội thì điều kiện kết hôn chính là yếu tố pháp lý cơ sở

để xây dựng nền tảng này Kết hôn là quyền tự do của các bên nam, nữ; khi đạt đến một

độ tuổi nhất định thì họ có quyền được kết hôn, có quyền xác lập quan hệ hôn nhân để xây dựng nên gia đình Tuy nhiên, quyền tự do kết hôn của họ phải trong khuôn khổ của pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật không buộc ai phải kết hôn, tuy nhiên, nam,

nữ muốn kết hôn thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đồng thời họ phải đi đăng kí kết hôn Như vậy thì điều kiện kết hôn được pháp luật quy

định như thế nào? Từ đó, em xin phép được chọn đề số 01: “Đánh giá quy định về điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” để được đi

sâu và làm rõ hơn vấn đề này

NỘI DUNG

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1 Khái niệm kết hôn

a Khái niệm kết hôn dưới góc độ xã hội

Khi con người vừa mới thoát thai là khỏi cuộc sống hoang dã của động vật, khái niệm kết hôn chưa được biết đến Sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà chỉ nhằm thỏa mãn giữa nhu cầu bản năng thuần túy Đó là một sự liên kết hoàn toàn tự nhiên

Trong tiến trình phát triển của nhân loại, dần dần sự liên kết giữa người đàn ông

và người đàn bà không còn chỉ là sự ràng buộc đơn thuần bởi quan hệ “tính giao” mà

là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những giá trị văn minh của con người trong

mối liên hệ đặc biệt được gọi là “hôn nhân” Từ đó, khái niệm “hôn nhân” bắt đầu

được biết đến Dưới góc độ này, sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không chỉ đơn thuần là thỏa mãn những nhu cầu bản năng mà là sự liên kết đặc biệt nhằm tạo dựng các mối liên hệ gia đình

Đặt trong quá trình phát triển của nhân loại, dần dần khái niệm “hôn nhân” bắt

đầu được biết đến dù những hình thái hôn nhân và gia đình đầu tiên còn rất sơ khai, sự

Trang 4

1

liên kết đặc biệt này giữa người đàn ông và người đàn bà là nhằm mục đích tạo dựng mối liên hệ gia đình chứ không đơn thuần là bản năng như trước nữa Việc kết hôn đã tạo ra mối quan hệ vợ chồng

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “kết hôn là việc nam nữ chính thức lấy

nhau thành vợ, chồng” Theo Từ điển Hán – Việt thì “kết” là hợp lại với nhau còn

“hôn” là con trai lấy vợ Theo nghĩa này, kết hôn chỉ việc một người đàn ông “lấy vợ”

Trong đời sống hằng ngày, người Việt Nam thường sử dụng các từ: lấy vợ, lấy chồng,

đi ở riêng hoặc xây dựng gia đình khi nói về việc kết hôn của nam hay nữ Cách nói như vậy để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng

Tóm lại, dưới góc độ xã hội, kết hôn được hiểu là một hình thức xác lập quan

hệ vợ chồng

b Khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lí

Dưới góc độ pháp lí, kết hôn được hiểu là việc nam, nữ lấy nhau thành vợ, chồng được Nhà nước thừa nhận Việc xác lập quan hệ vợ chồng phải tuân thủ quy định pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền mới được công nhận là hợp pháp Như vậy, dưới góc độ này, kết hôn được hiểu là một sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ vợ chồng và luôn phải thỏa mãn hai yếu tố đó là: thể hiện ý chí của nam,

nữ là mong muốn được kết hôn với nhau và phải được Nhà nước thừa nhận

Từ đó, ta có thể đúc kết ra khái niệm “kết hôn” như sau:

Kết hôn là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình dùng để chỉ căn cứ là phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, trên cơ sở đó quyền và lợi ích của người kết hôn được Nhà nước bảo vệ

Và khái niệm kết hôn đã được pháp luật Việt Nam quy định tại Khoản 5, Điều 3

Luật HN&GĐ 2014 như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với

nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”

2 Khái niệm về điều kiện kết hôn

Điều kiện kết hôn là một nội dung rất quan trọng Khi điều kiện kết hôn được quy định chặt chẽ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và phong tục, tập quán sẽ đảm bảo cuộc hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội Xét một cách khái quát nhất, điều kiện kết hôn chỉ rõ, người kết hôn

Trang 5

2

được xác lập quan hệ hôn nhân khi có đủ những điều kiện gì, trong những trường hợp nào thì họ không được phép kết hôn

Theo Từ điển Tiếng Việt, điều kiện được hiểu là “điều nêu ra như một đòi hỏi

trước khi thực hiện một việc nào đó” Nghĩa là, điều kiện được hiểu là những yêu cầu

buộc người kết hôn phải tuân thủ Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, định nghĩa:

“điều kiện kết hôn là điều kiện để nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam

nữ” Xét trên phương diện ngôn ngữ, “điều kiện” thường được sử dụng để chỉ những

yêu cầu cần thiết phải có khi tiến hành một công việc Với các giải thích này, điều kiện kết hôn được hiểu là những yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với người kết hôn Như vậy, người kết hôn buộc phải chấp hành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung khi kết hôn

Từ những phân tích trên, điều kiện kết hôn có thể được định nghĩa như sau:

Điều kiện kết hôn là những yêu cầu của pháp luật thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật buộc người kết hôn phải tuân thủ, nhăm mục đích thiết lập những cuộc hôn nhân phù hợp với lợi ích của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội

II PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

Điều kiện kết hôn đã được quy định cụ thể trong Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 và

từ đó, em xin phép được xếp vào năm nhóm điều kiện kết hôn Trong đó, nhóm 1 là điều kiện về độ tuổi trong việc kết hôn; nhóm 2 là sự tự nguyện trong việc kết hôn; nhóm 3 là điều kiện về nhận thức, nhóm 4 là điều kiện về giới tính trong việc kết hôn

và nhóm 5 là các trường hợp pháp luật cấm kết hôn

1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn

a Tuổi kết hôn

Độ tuổi là thước đo cho sự phát triển của con người, đảm bảo khả năng họ có thể xây dựng gia đình và phát triển xã hội Tuổi kết hôn được hiểu là tuổi mà một người được phép lấy chồng/vợ Mỗi quốc gia quy định độ tuổi kết hôn rất khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố nhưng nhìn chung độ tuổi kết hôn thường là 18 tuổi Và theo như pháp luật Việt Nam quy định thì căn cứ tại Điểm a, Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ

2014: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” Tức là, tuổi kết hôn của

nam là từ đủ 20 tuổi trở lên còn nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên

 Cơ sở quy định độ tuổi kết hôn

Thứ nhất, dựa vào sự phát triển về tâm, sinh lí

Trang 6

3

Gia đình phải thực hiện các chức năng xã hội của nó và một trong những chức năng đó là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống Theo kết quả nghiên cứu y học, nam từ khoảng 16 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 13 tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản Những để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mang thai, khi sinh đẻ thì nam phải từ khoảng 18 tuổi trở lên và nữ từ khoảng 17 tuổi trở lên Từ đó, ta có thể thấy được những quy định của pháp luật đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của nam nữ, đảm bảo nam nữ có thể đảm đương được trách nhiệm của mình Đồng thời, đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ, cơ thể phát triển tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội

Căn cứ vào sự phát triển tâm lí của con người, khi nam nữ đạt độ tuổi trưởng thành sẽ có những suy nghĩ đúng đắn và nghiêm túc trong việc kết hôn của mình Chính

vì vậy, đó chính là một trong những yếu tố bảo đảm cho quan hệ hôn nhân có thể tồn tại bền vững

Thứ hai, dựa vào phong tục tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội

Phong tục tập quán ở nhiều nơi đã là “luật bất thành văn”, cứ là người trong

cùng một họ thì không thể lấy nhau trong phạm vi ba đời Trên thực tế, nhiều cặp đôi

cố tình đến với nhau đã bị cộng đồng, làng xã ghẻ lạnh, xóa tên khỏi dòng họ, thấm chí

là “tẩy chay” khỏi gia đình Hơn nữa, với nền kinh tế thị trường như hiện nay việc tham

gia vào quá trình lao động và có thu nhập đảm bảo cuộc sống ổn định về kinh tế sau khi kết hôn là rất cần thiết Từ đó, có thể thấy điều này đã giải thích rõ vì sao tuổi kết hôn trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau

Thứ ba, đảm bảo sự thống nhất với các luật khác

Trước đây Luật HN&GĐ 1986 và Luật HN&GĐ 2000 đều quy định độ tuổi kết

hôn là “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” dẫn đến cách hiểu là nam

bắt đầu bước sang tuổi 20, nữ bắt đầu bước sang tuổi 18 đã đủ điều kiện kết hôn Như vậy, đối với nữ 17 tuổi 1 ngày là đã có quyền được kết hôn, được tư do bày tỏ ý chí của mình là lấy ai và lấy như thế nào? Theo như BLDS 2015 thì người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và lúc đó thì họ mới có thể thực hiện được mọi công việc, còn chưa đủ 18 tuổi và ở với cha mẹ thì cha mẹ sẽ là người đại diện theo pháp luật của người đó hoặc ở với người khác thì phải có người giám hộ Và như vậy thì 17 tuổi 1 ngày là chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, do vậy những việc làm của người đó thì phải có ý kiến của cha mẹ, người giám hộ Hơn nữa, nếu người từ 18 tuổi kết hôn được 1 tháng và muốn ly hôn thì đó là quyền của họ nhưng BLTTDS 2015

Trang 7

4

quy định người khởi kiện phải có tư cách chủ thể về độ tuổi phải từ đủ 18 tuổi trở lên

Do đó, ta có thể thấy được sự mâu thuẫn, không đồng bộ giữa các luật với nhau và từ

đó Luật HN&GĐ 2014 đã quy định chặt chẽ hơn khi bổ sung thêm từ “đủ” vào độ tuổi,

có nghĩa nam phải tròn 20 tuổi không thiếu 01 ngày, nữ phải tròn 18 tuổi không thiếu

01 ngày mới đủ tuổi kết hôn

b Căn cứ tính tuổi kết hôn

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

- “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại Điểm a Khoản

1 Điều 8 của Luật HN&GĐ 2014 là trường hợp nam đã đủ 20 tuổi, nữ đã đủ 18 tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh

Ví dụ, chị A sinh ngày 17/01/2000 thì đến ngày 17/01/2018 lúc đó chính là ngày

sinh nhật của chị, đánh dấu chị đã đủ 18 tuổi và có quyền đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X

- Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau: + Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;

+ Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh

Ví dụ, chị A sinh vào năm 2000 và muốn kết hôn vào năm 2018 nhưng vấn đề

đặt ra là không xác định được ngày sinh, tháng sinh của chị thì căn cứ vào quy định pháp luật chị A sẽ sinh ngày 01/01/2000 Do đó, bắt đầu từ ngày 01/01/2018 chị A sẽ

có quyền kết hôn

Trên thực tế, vẫn có những trường hợp nam nữ lấy vợ lấy lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Hiện tượng này được gọi là tảo hôn Như vậy cần phải hiểu rằng tảo hôn không chỉ là việc nam nữ kết hôn trước tuổi luật định mà còn bao gồm cả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định Theo

Điểm b, Khoản 2, Điều 5 Luật HN&GĐ 2014, “tảo hôn” được xác định là một trong

các hành vi bị cấm Vì vậy, kết hôn trước tuổi luật định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Trang 8

5

2 Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên kết hôn

a Kết hôn như thế nào là tự nguyện?

Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 quy định:

“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;”

 Sự tự nguyện của hai bên nam, nữ là một điều kiện được pháp luật quy định Căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.”

Như vậy, tự nguyện kết hôn được hiểu là việc hai bên nam, nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ, chồng của nhau Mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi bên kia, của bất kỳ người nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ Sự thể hiện ý chí phải thống nhất với ý chí Hai bên nam, nữ mong muốn trở thành vợ, chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng xây dựng gia đình; sự tự nguyện của bên nam, nữ trong việc kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai người Sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài bền vững

Dựa vào quy định pháp luật, để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì những người kết hôn sẽ không được kết hôn khi:

- Vắng mặt một bên hoặc thông qua người đại diện

- Khi mất năng lực hành vi dân sự, đang trong tình trạng say rượu, bia

Do đó, các bên phải muốn kết hôn phải thông qua thủ tục đăng kí kết hôn Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, hai bên nam nữ phải cùng có mặt tại cơ quan có thẩm quyền về đăng kí kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn, ngày mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành đăng kí kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì cả hai bên nam và nữ vẫn phải có mặt

b Những trường hợp vi phạm sự tự nguyện trong kết hôn

 Cưỡng ép kết hôn

Trang 9

6

Căn cứ Khoản 9, Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 quy định:

“Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.”

Theo Điểm 2 Thông tư liên tịch số

01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC quy định: “Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác

(bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ” Theo đó, hành

vi cưỡng ép kết hôn có thể do một trong hai người kết hôn thực hiện đối với người kết hôn kia hoặc có thể là hành vi của cha mẹ hay người khác mà người bị cưỡng ép kết hôn lệ thuộc về vật chất hay tinh thần

Hành vi cưỡng ép kết hôn được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác làm cho người bị cưỡng ép hoàn toàn không thể có sự lựa chọn nào khác nên phải kết hôn với người mà họ không mong muốn kết hôn

 Lừa dối kết hôn

Căn cứ Khoản 3, Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định:

“Lừa dối kết hôn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn.”

Hơn nữa, Điểm b, Khoản 1 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP quy định về hành

vi lừa dối kết hôn như sau:

“Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu

kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn”

Theo đó, các hành vi lừa dối kết hôn là lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…

 Cản trở kết hôn

Theo Điểm 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC quy định:

Trang 10

7

“Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đút quan hệ hôn nhân đó.”

Hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác Như vậy, có thể thấy ngược lại với cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn chỉ có thể

là hành vi của người thứ ba mà không phải là hành vi của chủ thể kết hôn bởi vì bản chất của việc cản trở kết hôn là không cho phép người kết hôn được xác lập quan hệ hôn nhân mặc dù họ có đủ điều kiện kết hôn

Tóm lại, sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn phải xuất phát từ tình yêu chân chính giữa họ, đồng thời sự tự nguyện của nam, nữ trong việc kết hôn là nhằm xây dựng gia đình và cùng nhau chung sống lâu dài, không bị tác động bởi bất kì yếu tố nào

3 Điều kiện về nhận thức

Điểm c, Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 quy định nam, nữ khi kết hôn phải

là người không bị mất năng lực hành vi dân sự

Căn cứ Điều 19 BLDS 2015 quy định:

“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Căn cứ Đoạn 1, Khoản 1, Điều 22 BLDS 2015 quy định:

“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”

Như vậy, một người bị coi là mất NLHVDS khi người đó mắc bệnh tâm thần

hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi và đã bị Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự Và do đó, ta có thể thấy, người mất NLHVDS sẽ không thể bày tỏ ý chí của mình một cách đầy đủ được, không đảm bảo được yếu tố tự nguyện trong việc kết hôn Hơn nữa, nếu hôn nhân có hiệu lực pháp luật, họ cũng sẽ không làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ, người vợ, người chồng trong gia

Ngày đăng: 10/12/2022, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2009
2. “Hướng dẫn học tập và tìm hiểu Luật HN&GĐ Việt Nam”, PGS. TS. Ngô Thị Hường (Chủ biên), năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học tập và tìm hiểu Luật HN&GĐ Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Hường
Năm: 2020
3. “Chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn”, luận án tiến sĩ luật học / Bùi Thị Mừng; Người hướng dẫn: PGS. TS. Đinh Văn Thanh, TS. Nguyễn Văn Cừ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Thị Mừng
4. “Các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành”; luận văn thạc sĩ luật học / Trần Thị Phương Thảo ; TS. Nguyễn Văn Cừ hướng dẫn; năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Tác giả: Trần Thị Phương Thảo
Năm: 2014
8. Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
Tác giả: TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp
Nhà XB: TANDTC
Năm: 2016
9. Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC. Trang wed truy cập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC
Năm: 2001
5. Luật Hôn nhân và gia đình 2014. 6. Bộ luật Dân sự 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w