TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ĐỀ TÀI SỐ 2 HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 HÀ NỘI, 2021 MỤC LỤC A ĐẶT VẤN ĐỀ 3 B GIẢI QUYẾT VẤN.
Trang 1TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
ĐỀ TÀI SỐ 2:
HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2014
HÀ NỘI, 2021
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 3
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
I Một số vấn đề lý luận chung về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 4
1 Kết hôn trái pháp luật là gì? 4
2 Hệ quả của hôn nhân trái pháp luật 4
II Hôn nhân trái pháp luật theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 6
1 Các trường hợp hôn nhân trái pháp luật 6
2 Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật 9
III Phương hướng xử lý và kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả trong việc giải quyết hậu quả kết hôn trái pháp luật ở việt nam hiện nay 12
1 Xử lý cụ thể các trường hợp kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo luật định 12
2 Các biện pháp xử lý khác 13
3 Kiến nghị một số giải pháp tăng cường hiệu quả trong việc giải quyết hậu quả kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam hiện nay 13
C KẾT LUẬN 15
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 33
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia đình là nên tảng của xã hội và kết hôn chính là bước khởi đầu cho gia đình Chính bởi ý nghĩa to lớn này, Nhà nước ta rất chú trọng đến việc xấy dựng các chuẩn mực để tạo nên gia đình văn hóa, hạnh phúc và đậm đà bản sắc dân tộc
Và điều này đã được cụ thể hóa qua việc rất nhiều điều luật, bài học đạo đức từ xưa đến nay, trong đó nổi bật là Luật hôn nhân gia đình 2000 và 2014 Ngày nay, khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì đi kèm với đó là hoàn cảnh sống thay đổi, tâm lý con người thay đổi và các mối quan hệ giữa con người với con người cũng thay đổi kéo theo đó dẫn tới những hành vi trái pháp luật trong đó có hành vi kết hôn trái pháp luật Việc hình thành quan hệ hôn nhân trái pháp luật ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội, gây ra những hậu quả xấu cho các thành viên trong gia đình, cho những người xung quanh và để lại nhiều hệ lụy xấu cho xã hội Xã hội và pháp luật luôn phải song hành, đời sống xã hội tăng lên, dẫn đến nhiều mỗi quan hệ phức tạp thì luật pháp cũng phải được điều chỉnh để phù hợp với thời thế,
và cũng là để uốn nắn, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội sao cho đúng mực Chỉ
có như vậy pháp luật mới có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình văn minh, tiến bộ,vì con người, bảo vệ quyền con người Chính vì đây là một đề tài rất hay, nên em đã chọn vấn đề số 2:
“Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014” để tìm hiểu và hoàn thành bài tiểu luận học kì của mình
Trang 44
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Một số vấn đề lý luận chung về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014
1 Kết hôn trái pháp luật là gì?
– Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại điều 8 của Luật này (vi phạm về độ tuổi, vi phạm về sự tự nguyện, bị mất năng lực hành vi dân sự hay thuộc các trường hợp bị cấm )
Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng đúng nghĩa Nếu các bên nam, nữ quyết định kết hôn mà không tuân thủ các quy định của pháp luật thì hôn nhân sẽ không được cơ quan có thẩm quyền công nhận
2 Hệ quả của hôn nhân trái pháp luật
2.1 Hệ quả pháp lý
Hệ quả về mặt pháp lý của hôn nhân trái pháp luật trước tiên là xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân Mỗi công dân đều có quyền sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và được pháp luật bảo vệ , vậy mà hành vi thiết lập nên những cuộc hôn nhân trái pháp luật lại xâm hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới quyền mưu cầu hạnh phúc của công dân Khi đã là cuộc hôn nhân trái pháp luật thì đương nhiên không được pháp luật công nhận Mối quan hệ của họ không được coi
là quan hệ vợ chồng, khi việc kết hôn bị hủy thì ai đi đường nấy, tài sản cũng không chia như trong trường hợp hôn nhân hợp pháp mà tài sản của ai thuộc về người đó, không có khái niệm tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng
Trang 55
Đặc biệt, trong vấn đề này, người phụ nữ thường chịu ảnh hưởng nặng hơn, bởi thường thì người phụ nữ trong gia đình Việt Nam thường yếu thế hơn, không phải là trụ cột về mặt kinh tế mà chủ yếu lo phần nội trợ và chăm sóc chồng con Bên cạnh đó, cuộc hôn nhân trái pháp luật còn ảnh hưởng tới con cái họ, tới những người thân xung quanh họ Những đứa trẻ có quyền được hưởng sự thương yêu, chăm sóc của cả cha và mẹ vậy mà cuộc hôn nhân trái pháp luật đã đẩy chúng vào hoàn cảnh thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần Hôn nhân trái pháp luật không chỉ gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của công dân mà còn gây ra những khó khăn không nhỏ cho các cơ quan Nhà nước, nó khiến cho các cơ quan Nhà nước khó nắm bắt và quản lý được các vấn đề liên quan đến hộ tịch, hộ khẩu, khai sinh hoặc giải quyết những tranh chấp dân sự khác
2.2 Hệ quả về mặt xã hội
Những cuộc hôn nhân trái pháp luật không chỉ gây ra những hệ quả về mặt pháp lý mà còn gây ra những hệ quả cho xã hội Một gia đình được hình thành và tồn tại để thực hiện tốt những chức năng của nó phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu của hai bên nam nữ, sự thương yêu, tự nguyện, luôn nghĩ vì nhau, và phải được thiết lập giữa những chủ thể khác giới có đầy đủ những tiêu chuẩn về thể lực, sinh
lý, tâm lý Nếu một cuộc hôn nhân mà thiếu đi những yếu tố đó thì sẽ không thể xây dựng được một gia đình hạnh phúc, điều này cũng dễ hiểu, nếu ta xét đến trường hợp một cặp đôi, nam 36 tuổi và nữ 17 tuổi chẳng hạn, thì việc cãi vã là rất
dễ xảy ra, thậm chí là thường xuyên, vì hai độ tuổi trên rất khác nhau, khác nhau cả
về kinh nghiệm sống, về quan điểm sống, một người từng trải còn một người thì vẫn còn mơ mộng Hệ quả tiêu cực của việc kết hôn trái pháp luật gây ảnh hưởng đến nhiều mặt khác của đời sống xã hội, góp phần tạo dựng nên một xã hội không
ổn định
Trang 66
II Hôn nhân trái pháp luật theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014
1 Các trường hợp hôn nhân trái pháp luật
1.1 Hôn nhân trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn
Theo điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam từ đủ 20
tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”
Độ tuổi kết hôn được pháp luật xây dựng dựa trên những cơ sở khoa học và cơ
sở xã hội nhất định Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng phải đạt đến độ tuổi này thì việc nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân và sinh con mới đảm bảo Bởi vì, đến độ tuổi này, nam và nữ mới phát triển toàn diện về tâm- sinh lý Ngoài ra, hiện nay ở một số vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫn còn hiện tượng tảo hôn xảy ra Bởi thế nên việc quy định độ tuổi hôn nhân như Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện nay vừa đảm bảo hôn nhân được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, vừa giúp xóa bỏ những quan niệm về hôn nhân còn lạc hậu, cổ hủ Từ đó tạo nền tảng tốt hơn để ươm mầm thế hệ trẻ em nước ta trong tương lai
1.2 Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa
có vợ, có chồng mà kết hôn với người đang có chồng, có vợ
Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến
bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau[1] Hôn nhân một
vợ một chồng chính là công cụ để bảo vệ tình yêu, bảo vệ hôn nhân, bảo vệ hạnh phúc gia đình Trên cơ sở quy định của Hiến Pháp, khoản 1, điều 2 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng khẳng đình nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Khoản 2, điều 5, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định cấm hành vi: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Trang 7
7
Quy định này rất hợp lý nhằm đảm bảo hôn nhân hợp pháp tiến bộ Quy định này cũng khẳng định chỉ có hôn nhân một vợ một chồng được xây dựng và duy trì trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ thì mới đảm bảo cho hôn nhân tồn tại lâu dài, bền vững và là công cụ quan trọng góp phần xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình
1.3 Kết hôn giả tạo
Tại khoản 11, Điều 3, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình” Bên cạnh đó, điểm a, khoản 2, điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định hôn nhân giả tạo là một trong những hành vi bị cấm kết hôn Vì thế, kết hôn giả tạo
là hành vi kết hôn trái pháp luật
Vì vậy, để xác định việc kết hôn trái pháp luật có phải do kết hôn giả tạo hay không cần phải căn cứ vào mục đích của việc kết hôn giữa hai bên nam, nữ Nếu hai bên nam, nữ kết hôn với nhau không nhằm mục đích xây dựng cuộc sống gia đình mà vì nhằm đạt được một mục đích nào khác thì đều bị coi là kết hôn giả tạo
và cuộc hôn nhân đó là hôn nhân trái pháp luật
1.4 Hôn nhân trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện
Sự tự nguyện là nguyên tắc hàng đầu trong các quan hệ dân sự, và tất nhiên là
có ở cả quan hệ hôn nhân và gia đình Hôn nhân không thể duy trì bền vững, gia đình không thể hạnh phúc nếu không có sự tự nguyện của cả hai bên nam và nữ Theo quy định của pháp luật thì cuộc hôn nhân sẽ được coi là trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện khi có hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc hành vi lừa dối kết hôn
1.5 Kết hôn khi một hoặc cả hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự
Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 thì “không bị mất năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện kết
Trang 88
hôn mà hai bên nam, nữ phải tuân theo Như vậy, một người sẽ không được quyền kết hôn khi có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự
Việc Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không cho phép người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn còn nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của những người có liên quan Bởi vì khi xác lập quan hệ hôn nhân, hai bên nam, nữ phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau và các nghĩa vụ đối với những người liên quan như cha mẹ, con cái Mà những nghĩa vụ này, người bị mất năng lực hành vi dân sự không thể làm được do không ý thức được hành vi của mình Ngoài ra, nếu người bị cấm kết hôn mắc phải bệnh tâm thần là một loại bệnh
có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Điều này sẽ gây ra sự ảnh hưởng không tốt cho những đứa trẻ có cha hoặc mẹ bị mất năng lực dân sự Hơn thế nữa
nó còn ảnh hưởng không tốt cho gia đình và xã hội, gây ra nguy cơ đe dọa chất lượng dân số
1.6 Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
Y học đã chứng minh tác hại của những cặp hôn nhân cận huyết: Những cặp
vợ chồng khỏe mạnh lại có thể sinh con dị dạng hoặc mang bệnh tật di truyền như:
mù màu (không phân biệt được màu đỏ và màu xanh), bạch tạng, da vảy cá Giải thích hiện tượng này, di truyền học cho biết, mọi đặc điểm trên cơ thể đều được quy định bởi gene, kể cả trường hợp bệnh lý Cơ thể mỗi người có khoảng 500-600 nghìn gene, trong số đó không tránh khỏi có dăm bảy gene lặn bệnh lý, chưa có điều kiện bộc lộ gây tác hại Gene lặn bệnh lý tồn tại dai dẳng trong dòng họ từ thế
hệ này qua thế hệ khác Nếu cuộc hôn nhân được tiến hành với người khác dòng họ thì nguy cơ bệnh bộc phát thường không cao Trái lại, hôn nhân cận huyết chính là
Trang 99
điều kiện thuận lợi cho những gene lặn bệnh lý tương đồng gặp gỡ nhau, sinh những đứa con bệnh tật hoặc dị dạng di truyền[2]
Việc Luật hôn nhân và gia đình quy định như vậy nhằm đảm bảo tránh gây ra những hệ lụy không tốt cho thế hệ sau, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bình thường và khỏe mạnh của con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình Mặt khác, cũng là
để phù hợp với phong tục, tập quán và truyền thống đạo đức của người dân Việt Nam Tạo ra một thế hệ mầm non tương lai của đất nước trong tình trạng sức khỏe bình thường
1.7 Kết hôn giữa những người cùng giới tính
Nếu ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân giữa những người cùng giới tính bị coi là một trong những hành vi bị cấm kết hôn thì ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại khoản 2, điều 8 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Như vậy, hôn nhân giữa những người có cùng giới tính mặc dù hiện nay không phải là hành vi bị cấm nhưng hành vi này không được Nhà nước thừa nhận và bị coi là hôn nhân trái pháp luật
Căn cứ của quy định này là bởi một trong những chức năng quan trọng của gia đình đó là chức năng duy trì nòi giống Mà hôn nhân giữa những người có cùng giới tính thì không đảm bảo được chức năng này Hơn nữa, việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính vẫn chưa được ủng hộ rộng rãi tại Việt Nam
2 Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật
2.1 Hậu quả pháp lý về mặt nhân thân
Theo Nghị quyết 02 2000 NQ-HĐT ngày 23 12 2000 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 thì chia làm 3 trường hợp:
Trang 1010
– Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật
– Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên tuy
đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật – Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án
để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung
Còn theo khoản 1, điều 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật như sau: “Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng” Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật đối với quan hệ nhân thân đó là hai bên nam,
nữ “phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng”
2.2 Hậu quả pháp lý về mặt tài sản
Khoản 3, điều 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này” Điều 16, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1 Quan
hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan