Mở đầu Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và g.
Trang 1Mở đầu
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định các nguyên tắc cơ bản của chế
độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam; điều chỉnh các quan hệ phát sinh do các sự kiện kết hôn, li hôn, nuôi con nuôi, sinh đẻ, giám hộ, cấp dưỡng; điều chỉnh các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản phát sinh giữa vợ
và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau và giữa các thành viên gia đình; quy định việc xử lí các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Em xin chọn: “Đánh giá quy định
về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” làm đề tài nghiên cứu lần này
Nội dung
I Một số vấn đề chung về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên
1 Khái niệm cha, mẹ, con
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm cha mẹ con luôn gắn liền với những sự kiện
pháp lý nhất định Quan hệ giữa cha mẹ và con về mặt pháp lý chỉ được phát sinh khi được sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tức là về mặt sinh học - xã hội có thể đạt tồn tại một quan hệ cha mẹ và con với tư cách là cha đẻ,
mẹ đẻ và con đẻ
Trang 2Tư cách là cha mẹ đẻ con đẻ chỉ được chính thức thừa nhận thông qua những thủ tục pháp lý nhất định vì mối quan hệ này có xuất phát điểm là sự kiện sinh đẻ nhằm bảo đảm tính huyết hệ tự nhiên giữa hai thế hệ sinh ra kế tiếp nhau
Cha đẻ, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con là người trực tiếp sinh ra người
con, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Con đẻ trong mối quan hệ với cha mẹ là người được cha mẹ sinh ra có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Khái niệm con được xác định trong một số trường hợp đặc biệt:
Con trong giá thú là con có cha mẹ đăng kí kết hôn hợp pháp
Con ngoài giá thú là con có cha mẹ không đăng kí kết hôn hợp pháp
Trong quan hệ pháp luật, việc xác định cha mẹ con luôn nảy sinh các mối
quan hệ giữa các chủ thể với nhau: giữa chủ thể và cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong đó các bên chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhằm được những lợi ích và mục đích nhất định Trước tiên đây là những quan hệ xã hội tồn tại một cách tất yếu, khách quan Những mối quan hệ này được các quy phạm pháp luật nội dung và các quy phạm luật hình thức điều chỉnh Trong quá trình xác định cha mẹ con các bên chủ thể cũng như cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào pháp luật nội dung tức là căn cứ vào các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình để xem xét có hay không có tư cách làm cha, mẹ, con Như vậy với tư cách là quan hệ pháp luật: xác định cha mẹ con là các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tư cách làm cha, mẹ, con
về mặt huyết thống của các chủ thể được các quy phạm pháp luật điều chỉnh
Từ đây chúng ta có thể hiểu xác định cha, mẹ con theo thủ tục tư pháp là việc giải quyết vụ án dân sự, vị việc dân sự của chủ thể có yêu cầu do cơ quan có thẩm quyền là Tòa án giải quyết
2 Xác định cha mẹ con theo trong trường hợp sinh con tự nhiên
Trang 32.1 Cách xác định cha mẹ con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp
Dựa trên nguyên tắc suy đoán pháp lý về con chung của vợ chồng căn cứ Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng
Như vậy, theo nguyên tắc suy đoán pháp lý, thời kì hôn nhân được coi là một căn cứ quan trọng để xác định tính đương nhiên trong việc xác định cha, mẹ, con Trong đó, thời kì hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian tồn tại của quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân Con được sinh
ra hoặc do vợ có thai trong khoảng thời gian này được xác định là con chung của
vợ chồng
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
Thời điểm chấm dứt hôn nhân khi vợ hoặc chồng chết được xác định theo ngày được ghi trong giấy chứng tử Trường hợp chấm dứt hôn nhân khi có quyết định của tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng chết thì thời điểm chấm dứt hôn nhân là ngày được xác định trong Quyết định của tòa án Trường hợp chấm dứt hôn nhân
do ly hôn thì ngày chấm dứt là ngày bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng
Tuy hôn nhân của hai bên nam nữ được xác lập sau ngày con sinh ra nhưng được vợ chồng thừa nhận thì để bảo vệ lợi ích của trẻ nhỏ, pháp luật quy định đứa trẻ là con chung của vợ chồng
Trường hợp được xác định là cha, mẹ của con theo một trong ba căn cứ trên
mà không nhận con hoặc người khác không được xác định là cha, mẹ của con
Trang 4muốn nhận con thì coi là trường hợp có tranh chấp và cần thực hiện thủ tục tố tụng để xác định cha, mẹ cho con
2.2 Cách xác định cha mẹ con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp
*Căn cứ vào thời điểm thụ thai thời gian mang thai và thời điểm sinh con
Việc xác định thời điểm thụ thai và mang thai chỉ mang tính chất tương đối; thời gian mang thai có thể là khoảng 9 tháng 10 ngày; tối đa là 10 tháng tối thiểu
có thể là 6 đến 7 tháng Do đó để xác định được thời gian mang thai phải căn cứ vào thời điểm sinh con; thế trạng của đứa trẻ và người mẹ của đứa trẻ đó Do đó
để xác định được thời điểm thụ thai phải xác định vào thời điểm khi đứa trẻ được
ra đời để tính ngược trở lại
*Căn cứ vào khoảng thời gian hai bên nam nữ quan hệ tình dục
Sau khi xác định được thời điểm thụ thai, sẽ phải xác định trong khoảng thời gian có thể thụ thai thì hai bên nam nữ có quan hệ sinh lý với nhau hay không?
Có thể trong khoảng thời gian có thể thụ thai họ chung sống như vợ chồng hoặc trường hợp hai bên nam nữ đã kết hôn trái pháp lập mà sau đó việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì có thể căn cứ vào thời kỳ chung sống như vợ chồng, kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận kết hôn đến thời điểm việc kết hôn trái pháp luật đó bị hủy bởi một quyết định có hiệu lực pháp luật
*Căn cứ vào mối quan hệ giữa cha mẹ và con trên thực tế
Tức là sự phủ nhận quan hệ cha mẹ và còn bằng các hành vi của mình đối với trẻ như chăm sóc nuôi dưỡng Ngoài ra có thể căn cứ vào tư cách, phẩm chất của người mẹ Đây được coi là một căn cứ không chính thức nhưng điều này là rất quan trọng khi người mẹ đứa trẻ không có hôn nhân hợp pháp; những hành vi ứng xử và những mối quan hệ xung quanh của người phụ nữ được coi là yếu tố tích cực để xem xét thì xác định cha con
3 Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
Trang 5Căn cứ theo Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
“1 Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này
2 Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản
2 Điều 101 của Luật này
3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân
sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:
a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.”
4 Thẩm quyền giải việc xác định cha, mẹ, con
Căn cứ theo Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con
“1 Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp
2 Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này
Trang 6Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng
ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan
hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”
5 Trình tự, thủ tục xác định cha, mẹ, con
5.1 Thủ tục hành chính
Trong trường hợp không có tranh chấp, việc xác định cha, mẹ, con sẽ được thực hiện theo thủ tục hành chính, bao gồm các bước cụ thể như sau:
(1) Chuẩn bị hồ sơ
Căn cứ theo Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014, người yêu cầu đăng ký nhận cha,
mẹ, con chuẩn bị các giấy tờ sau:
Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con (theo mẫu)
Chứng minh nhân dân/căn cước công dân hoặc hộ chiếu, sổ hộ khẩu của người có yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con và người được nhận là cha,
mẹ, con;
Bản chính hoặc bản sao Giấy khai sinh của người được nhận là con (trong trường hợp nhận con); của người nhận cha, mẹ (trong trường hợp xin nhận cha, mẹ);
Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con
Theo Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP, chứng cứ chứng minh quan hệ cha
mẹ con gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ
mẹ con
Trường hợp không có văn bản nêu trên thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ
Trang 7con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng
(2) Nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền
Hồ sơ được nộp tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con
(3) Giải quyết yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con
Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tiếp nhận hồ sơ viết giấy tiếp nhận, trong đó ghi rõ ngày, giờ trả kết quả Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch; người đăng ký nhận cha,
mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch; Công chức báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu
Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hoàn thiện thì hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định Trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần
bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận
Nếu hồ sơ sau khi đã được hướng dẫn mà không được bổ sung đầy đủ, hoàn thiện thì người tiếp nhận từ chối tiếp nhận hồ sơ và lập văn bản từ chối tiếp nhận
hồ sơ, trong đó ghi rõ lý do từ chối và ký tên người tiếp nhận
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc
4.2 Thủ tục tư pháp
Trong trường hợp có tranh chấp, việc xác định cha mẹ con được thực hiện theo thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự Theo đó, người có yêu cầu xác định cha mẹ con yêu cầu ra Tòa án và nộp kèm giấy tờ chứng minh cho yêu cầu của mình để Tòa án xem xét giải quyết theo quy định
Trang 8 Đơn khởi kiện
Bản sao công chứng chứng minh minh nhân dân, hộ khẩu
Giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con: Giấy khai sinh, Phiếu xác nhận ADN, Giấy nhận con, cha, mẹ, xác nhận của những người biết về sự việc, Giấy chứng tử của cha cháu bé,…
Thời gian giải quyết: Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ Tòa án sẽ tiến hành điều tra xác minh và xét xử Thời gian giải quyết vụ án cho đến khi có Bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự là khoảng từ 04 – 06 tháng
II Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
1 Thực trạng áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con theo thủ tục hành chính
Trong thực tiễn, công tác thi hành pháp luật về xác định cha, mẹ, con đã nảy sinh một số vấn đề mới vô cùng phức tạp Đối với thủ tục hành chính, theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc thay đổi quan hệ huyết thống trở nên quá dễ dàng đơn giản Thực tế dễ thấy là nhiều trường hợp chỉ cần có sự thỏa thuận của các bên đương sự một cách tự nguyện và không có tranh chấp thì UBND cấp xã
sẽ làm thủ tục nhận, cha, mẹ, con cho họ
Ví dụ: H và Y là bạn học cùng lớp đại học năm thứ nhất, hai người có tình
cảm với nhau và quan hệ tình giao dẫn đến việc mang thai và sinh con khi mới 19 tuổi, còn H thì mới hơn 18 tuổi Do H chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên H và Y không đăng ký kết hôn được Khi khai sinh cho con, H và Y cùng đến UBND phường M, Đống Đa, Hà Nội đăng ký khai sinh cho con, đồng thời đăng ký nhận cha, mẹ, con Yêu cầu của H và Y đã được UBND phường M chấp nhận và đăng
ký khai sinh cho bé theo diện con ngoài giá thú có người nhận là cha
Hiện nay việc đăng nhận cha, mẹ, con diễn ra khá thuận lợi Bởi vì, trong trường hợp này tất cả các chủ thể đều tự nguyện mong muốn xác nhận quan hệ
Trang 9giữa cha con, mẹ con, giữa các chủ thể không hề có bất cứ sự mâu thuẫn và tranh chấp này Nếu so với các số vụ án xác định cha, mẹ con được tiến hành ở Tòa án, thì việc tự nguyện nhận cha, mẹ con là khá cao Đặc biệt việc đăng ký nhận cha
mẹ con trong nước tăng đột biến trong hai năm trở lại đây Điều này cũng dễ lý giải, xuất phát từ sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, tác động mạnh mẽ đến việc xác định cha, mẹ, con nói riêng và quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung Mặt khác, ý thức trách nhiệm làm cha mẹ cũng được cải thiện đáng kể hơn Điều đó đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể, đặc biệt là quyền trẻ em Thêm vào đó, thủ tục nhân cha, mẹ, con đã được cải thiện, thời hạn giải quyết nhanh chóng, thủ tục đơn giản, góp phần cải cách thủ tục hành chính nói chung và thúc đẩy số lượng đăng ký nhân cha, mẹ, con tại UBND cấp xã
2 Thực trạng áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con theo thủ tục tư pháp
Sự tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các cơ quan
được giao xác định cha mẹ con
Xác định cha mẹ con trong hôn nhân và gia đình là việc xác nhận mối quan
hệ huyết thống giữa cha mẹ và con: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
2014 thì phải căn cứ trên cơ sở tình trạng hôn nhân của người mẹ để xác định cha cho con Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn
và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng
Khi người vợ sinh con trong thời kỳ hôn nhân thì đứa trẻ được khai sinh tại
Ủy ban nhân dân; người chồng của mẹ đứa trẻ được khai là cha của đứa trẻ Như vậy việc xác định cha cho con trong trường hợp này được thực hiện tại cơ quan hành chính nhà nước đó là Ủy ban nhân dân
Trường hợp người chồng của người mẹ đứa trẻ không thừa nhận đứa trẻ là con của họ thì có quyền yêu cầu Tòa án xác định Đây thuộc trường hợp có tranh
Trang 10chấp và được giải quyết theo thủ tục tư pháp Khi khởi kiện ra Tòa án người chồng phải đưa ra những chứng cứ để chứng minh rằng họ không phải là cha của đứa trẻ Vấn đề khó khăn trong việc xác định thẩm quyền được đặt ra với trường hợp xác nhận cha mẹ cho con ngoài hôn nhân; con ngoài giá thú thường do người phụ
nữ không có chồng sinh ra hoặc tuy người phụ nữ đang có chồng nhưng người chồng đã chứng minh, chứng tỏ rằng người con đó không phải là con của họ Như vậy việc cha mẹ nhận con có thể thông qua thủ tục hành chính trong trường hợp không có tranh chấp và không thuộc trường hợp pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Căn cứ theo quy định pháp luật hiện hành việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh yêu cầu xác nhận cha mẹ con còn phụ thuộc vào tính chất vụ việc có tranh chấp hay không có tranh chấp và các quy định của pháp luật khác
Trường hợp có tranh chấp: Thẩm quyền giải quyết của Tòa án được thực hiện theo khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015
Trường hợp không có tranh chấp nhưng theo quy định pháp luật hôn nhân
và gia đình do Tòa án giải quyết Tại Điều 29 BLTTDS 2015 đã ghi nhận Tòa án
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc xác định cha mẹ con
mà pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định
Thủ tục tố tụng để thụ lí giải quyết vụ án trong trường hợp cha mẹ con
đã chết
Có những vụ án đương sự khởi kiện ra Tòa án yêu cầu xác định cha mẹ cho con mà người cha hoặc người mẹ được yêu cầu xác định là cha, mẹ của cháu bé
đã chết hoặc trong trường hợp cả người cha người mẹ của cháu đều đã chết Điều này không chỉ liên quan đến thủ tục tố tụng, từ việc thụ lý thông báo thụ lý, hòa giải đến việc đưa ra xét xử tại phiên tòa mà còn liên quan đến vấn đề xác định chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện