MỞ ĐẦU Quan hệ hôn nhân là cuộc sống của vợ chồng có sự gắn bó, liên kết chặt chẽ không chỉ về phương diện tình cảm và trách nhiệm mà còn giữa quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, cuộc sống chung của vợ chồng.
Trang 1MỞ ĐẦU
Quan hệ hôn nhân là cuộc sống của vợ chồng có sự gắn bó, liên kết chặt chẽ không chỉ về phương diện tình cảm và trách nhiệm mà còn giữa quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, cuộc sống chung của vợ chồng có thể không kéo dài, tồn tại được như mong muốn, và từ đó dẫn đến nhu cầu ly hôn như một điều tất yếu Ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi hôn nhân tan vỡ Lúc đó, vợ chồng có thể đưa đơn yêu cầu li hôn
Luật hôn nhân và gia đình năm quy định về quyền yêu cầu li hôn tại Điều
51 Theo đó, quyền yêu cầu li hôn có thể thuộc về vợ, chồng hoặc thuộc về cha
mẹ, người thân thích của một bên vợ hoặc chồng khi có những điều kiện nhất định Đồng thời, Luật cũng quy định người chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong một số trường hợp Có thể nhận thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu li hôn có một số điểm mới so với các Luật trước đó.Tuy nhiên, quy định này còn dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, từ đó có thể dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất, do đó việc làm sáng tỏ về lí luận và thực tiễn của quy định quyền yêu cầu li hôn là cần thiết Để làm rõ hơn cho vấn đề
trên, em xin lựa chọn đề bài tập lớn : “Đánh giá quy định về quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”.Trong quá trình
làm bài có thể xảy ra những sai sót không đáng có, rất mong nhận được sự châm chước và đánh giá đến từ các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I Các vấn đề lí luận chung về quyền yêu cầu li hôn
1 Khái niệm chung về quyền yêu cầu ly hôn
Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa
vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn được đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình
Khoản 14 Điều 13 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” Để tòa án có thể giải quyết việc ly hôn cần có yêu cầu ly hôn Yêu
Trang 2cầu li hôn là sự thể hiện ý chí của vợ, chồng hoặc của cả hai người muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng hành vi khách quan để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết việc li hôn Yêu cầu li hôn có thể xuất phát từ bất cứ lí do, nguyên nhân, động cơ, mục đích nào, thể hiện quyền của vợ, chồng đối với quan hệ hôn nhân của mình Việc yêu cầu li hôn được thực hiện thông qua đơn yêu cầu li hôn
do vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng chuẩn bị bằng văn bản gửi đến cơ quan
có thẩm quyền
Quyền yêu cầu li hôn là quyền dân sự gắn liền với nhân thân của vợ chồng,
do chính vợ, chồng thực hiện mà không ai có thể thực hiện thay hay quyền đó được chuyển giao cho người khác thực hiện; về nguyên tắc do vợ, chồng thực hiện vì nó gắn với ý chí, tình cảm, mong muốn của vợ, chồng đối với hôn nhân của mình Do đó, quyền yêu cầu li hôn được vợ, chồng thực hiện khi họ có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nhận thức và hiểu được hậu quả pháp lí hành vi của mình Trong những trường hợp nhất định, để bảo vệ quyền, lợi ích của người vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, pháp luật có thể quy định những cơ chế pháp lí nhất định tuỳ thuộc từng hoàn cảnh
Cần phải nhận thức rằng quyền li hôn và quyền yêu cầu li hôn là hai quyền
độc lập với nhau, vì “quyền li hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng mong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật1”; còn quyền yêu cầu li hôn trở thành quyền nhân thân của vợ, chồng chỉ khi pháp luật quy định vợ, chồng được yêu
cầu li hôn “Quyền li hôn là một quyền tự nhiên có ngay từ khi vợ chồng kết hôn, còn quyền yêu cầu li hôn lại là quyền mà vợ chồng có được thông qua việc thực hiện quyền li hôn của mình trước pháp luật hay nói cách khác quyền yêu cầu li hôn của vợ chồng được thực hiện thông qua toà án” 2
Như vậy, có thể định nghĩa quyền yêu cầu li hôn là quyền nhân thân của
vợ, chồng trong việc thể hiện ý chí, tình cảm của vợ, chồng hoặc của cả hai người một cách rõ ràng, cụ thể về việc mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân được thể hiện dưới dạng văn bản, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện
2 Bản chất pháp lý của quyền yêu cầu li hôn
Ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Nên hiểu rằng, quyền
yêu cầu li hôn chỉ là quyền thể hiện ý chí, tiếng nói, tình cảm, nguyện vọng của chính vợ, chồng hoặc của cả hai người trước cơ quan có thẩm quyền về việc yêu cầu li hôn, còn cơ quan có thẩm quyền có giải quyết li hôn hay không lại là vấn
đề khác Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, tuỳ thuộc vào sự điều chỉnh quan
hệ hôn nhân mà các nước có quy định khác nhau về quyền yêu cầu li hôn của vợ
1 Cao Mai Hoa, Li hôn - một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014, tr 9
2 Hoàng Thị Lan Hương, Hạn chế quyền yêu cầu li hôn của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011, tr 15
Trang 3chồng Thậm chí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, pháp luật của các nước Thiên chúa giáo, Phillipines,… còn không ghi nhận quyền yêu cầu li hôn của đương sự mà cấm vợ chồng li hôn
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Thừa nhận quyền li hôn là sự
ghi nhận trong pháp luật quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng Về nguyên tắc, ngoài vợ chồng, không ai có quyền can thiệp vào quan hệ hôn nhân của vợ chồng Quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng được pháp luật quy định khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử trong từng giai đoạn nhất định, tuỳ thuộc vào lợi ích, mục đích mà giai cấp cầm quyền hướng tới bảo vệ Theo
Lê-nin: “thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên
hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh 3 ”
Quyền yêu cầu li hôn xuất phát từ quyền tự nhiên của con người, đó là
quyền sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc Quyền yêu cầu li hôn được pháp luật ghi nhận trở thành một quyền năng pháp lí, có bản chất như sau:
- Quyền yêu cầu li hôn là quyền tự nhiên của con người, được thể chế hoá
thành một quyền năng pháp lí Quyền yêu cầu li hôn chỉ phát sinh khi các bên chung sống có quan hệ hôn nhân hợp pháp Không thể có quyền yêu cầu li hôn khi các bên chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng Nhà nước thừa nhận chế định ly hôn trong pháp luật là thể hiện
sự đảm bảo cũng như tôn trọng quyền tự do định đoạt của vợ chồng
- Quyền yêu cầu li hôn là quyền nhân thân, gắn liền với bản thân vợ
chồng, do vợ chồng tự quyết định, không thể chuyển giao hay nhờ người khác
thực hiện Là một quyền nhân thân gắn liền với cá nhân nên “đối với việc li hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng4”
Về nguyên tắc, chỉ có vợ và chồng có quyền yêu cầu ly hôn Ly hôn dựa trên sự
tự nguyện của vợ chồng, kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền yêu cầu li hôn
- Quyền yêu cầu li hôn là quyền chủ động của vợ, chồng, do vợ, chồng tự
quyết định một cách độc lập, trên cơ sở ý chí, tình cảm, hoàn cảnh sống của gia
đình và bản thân Về bản chất, “quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng5” Quyền chủ động yêu cầu li hôn của vợ chồng đòi hỏi các chủ thể khác phải có nghĩa vụ tương ứng hành động để bảo đảm quyền của chủ thể
- Quyền yêu cầu li hôn là quyền có điều kiện, không phải bất cứ lúc nào
vợ, chồng cũng có Quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Bằng pháp luật, Nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn, quy định cho vợ, chồng có quyền li hôn Trong một số trường hợp nhất định, vợ, chồng có
3 V.I Lenin, “về quyền dân tộc tự quyết”, Toàn tập, tập 25, Nxb Tiến bộ, Mátcơva 1980, tr 335
4 Khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015
5 Ngô Thị Hường, “Quyền yêu cầu li hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí luật học, số 12/2015
Trang 4thể bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn Đồng thời, quyền yêu cầu li hôn phải tương ứng, phù hợp với thực trạng khách quan của quan hệ hôn nhân Thêm vào đó, quyền yêu cầu li hôn là quyền của vợ chồng nhưng chỉ khi vợ, chồng có đủ năng lực hành vi dân sự thì họ mới thực hiện được quyền đó
- Quyền yêu cầu li hôn là quyền có thể bị hạn chế Để bảo vệ lợi ích của
con chung, bà mẹ mang thai, thai nhi hoặc người vợ, người chồng yếu thế (được hưởng chế độ bảo vệ…) pháp luật có thể quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng hoặc vợ với những điều kiện nhất định Quy định này đã tạo nền tảng vững chắc cho việc giải quyết các hậu quả pháp lý phát sinh sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Đó là các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, quan hệ cấp dưỡng giữa vợ, chồng và quan hệ cấp dưỡng nuôi con…
II QUYỀN YÊU CẦU LI HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Quyền yêu cầu li hôn là một trong các quyền dân sự cơ bản của công dân được quy định trong bộ luật dân sự và luật hôn nhân gia đình Điều 39 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015 quy định : “cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn” Luật hôn nhân
và gia đình đã cụ thể hóa điều này tại điều 51
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng hoặc
cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu li hôn Quyền yêu cầu li hôn là bình đẳng như nhau giữa vợ và chồng, song trong những điều kiện nhất định, để bảo vệ bà mẹ
và trẻ em, quyền yêu cầu li hôn của người chồng có thể bị hạn chế Điểm mới trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là ngoài quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng, pháp luật còn quy định người thứ ba cũng có thể yêu cầu giải quyết li hôn đối với vợ chồng khi có những điều kiện nhất định
1 Quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng
Khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định: “ Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.”
Kết hôn và li hôn là quyền nhân thân và là quyền dân sự cơ bản của con người Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu li hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân Khi vợ, chồng nhận thức một cách rõ ràng về tình trạng quan hệ hôn nhân của họ đã trầm trọng, về việc họ không thể tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng
có quyền yêu cầu li hôn.Theo Luật HNGĐ năm 2014, vợ chồng có thể tự mình yêu cầu li hôn một cách độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của người chồng, người vợ hoặc cả hai vợ chồng cùng yêu cầu li hôn
Trang 5a) Vợ chồng cùng yêu cầu li hôn
Vợ chồng cùng yêu cầu li hôn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng đứng đơn yêu cầu li hôn, cùng thể hiện ý chí tự nguyện của bản thân về việc mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật Ý chí tự nguyện của mỗi bên
vợ, chồng xuất phát trên cơ sở tự nhận thức, cảm nhận, đánh giá về tình cảm, thực trạng quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng, từ đó dẫn đến mong muốn chấm dứt hôn nhân Nếu yêu cầu li hôn được đưa ra trên cơ sở sự dụ dỗ, cưỡng ép, lừa dối,
đe doạ, khống chế… dù từ bất cứ ai khác (kể cả từ phía vợ hoặc chồng đối với người kia) đều vi phạm sự tự nguyện li hôn, khi bị phát hiện sẽ không được coi
là cùng có yêu cầu, tức là không phải thuận tình li hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu li hôn, với sự tự nguyện thật sự của cả hai vợ chồng, vợ chồng cùng là người đứng đơn và “cùng được xác định
là người yêu cầu” Tuy nhiên cần phải hiểu rằng vợ chồng chỉ được coi cùng là người yêu cầu khi họ có đủ các điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật và không bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn Khi đó việc li hôn sẽ được giải quyết theo thủ tục thuận tình li hôn nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định Trong điều kiện hai bên đều thuận tình, tự nguyện ly hôn thì việc giải quyết yêu cầu ly hôn khá đơn giản và nhanh chóng
b) Một bên vợ hoặc chồng yêu cầu li hôn
Yêu cầu li hôn có thể được đưa ra theo ý chí của một bên vợ hoặc chồng Khi chỉ một bên vợ hoặc chồng nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục tồn tại, không muốn tiếp tục đời sống hôn nhân thì người đó có quyền yêu cầu li hôn Yêu cầu li hôn là quyền tự quyết của vợ hoặc chồng hoặc cả hai người tuỳ thuộc vào nhận thức, tình cảm, ý chí của họ nhưng việc có cho li hôn hay không lại phụ thuộc vào sự đánh giá của toà án về căn cứ li hôn Điều đó đòi hỏi vợ hoặc chồng muốn yêu cầu li hôn phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự Do đó người
vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự nên không thể tự mình đứng đơn yêu cầu li hôn 6
Trong trường hợp vợ hoặc chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 24 Bộ luật dân sự năm 2015 thì họ vẫn có khả năng nhận thức
và làm chủ hành vi của mình Đối với quyền yêu cầu li hôn là một quyền gắn liền với nhân thân thì họ vẫn có quyền quyết định, do đó họ vẫn có quyền yêu cầu li hôn Khi giải quyết li hôn, họ hoàn toàn có đủ khả năng để tự bảo vệ mình trong quá trình tố tụng Trong trường hợp vợ hoặc chồng là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự,
đã có quyết định của toà án tuyên bố người đó là người có khó khăn trong nhận
6 Khoản 4 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 6thức và làm chủ hành vi thì “năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của toà án”.7 Do đó, đối với quyền yêu cầu li hôn, vợ hoặc chồng là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi vẫn có quyền tự mình đứng đơn yêu cầu li hôn Khi giải quyết yêu cầu li hôn, theo quy định tại
khoản 5 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, “việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ tố tụng dân sự của họ, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được xác định theo quyết định của Toà án” Điều đó có nghĩa là do vợ hoặc chồng có khó
khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi của mình, nên trong quá trình tố tụng giải quyết li hôn, quyền lợi, nghĩa vụ của họ sẽ được thực hiện qua cơ chế giám
hộ Tuỳ theo từng trường hợp, việc xác định tư cách khởi kiện yêu cầu li hôn của
vợ chồng là khác nhau, căn cứ vào khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của
vợ, chồng Điều đó cũng được áp dụng đối với trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu li hôn Kết hôn và li hôn là quyền nhân thân và là quyền dân sự cơ bản của con người Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu li hôn
để chấm dứt quan hệ hôn nhân
Cũng nên hiểu rằng, nếu quan hệ vợ chồng đã không phản ánh đúng bản chất của nó nhưng vợ chồng vẫn không muốn li hôn thì không ai có quyền buộc
họ phải li hôn Hôn nhân tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả trong việc tồn tại hôn nhân Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ, chồng nhận thấy cuộc sống chung của họ đã mất ý nghĩa, không những không đem lại hạnh phúc cho mỗi bên mà còn mang lại sự khổ đau nhưng vì con, vì gia đình…
mà họ không li hôn Trong trường hợp này, không ai buộc họ phải li hôn Vì vậy, quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng là phù hợp cả về lí luận và thực tế
2 Hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng
Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật và nhà nước, luật hôn nhân và gia đình 2014 của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong một số trường hợp Việc hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng được pháp luật quy định từ lâu và sau đó tinh thần này đã được tiếp tục kế thừa trong các luật Hôn nhân gia đình ở nước ta
từ đó đến nay Có thể nhận thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa quy định của cả ba bộ luật hôn nhân và gia đình trước đó (năm 1959, năm 1986
và năm 2000) về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng
Theo quy định tại khoản 3 điều 51 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014,
hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng được đặt ra khi “người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Có thể thấy, việc xác định có
7 Khoản 3 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 7hay không quyền yêu cầu li hôn của người chồng bị hạn chế phụ thuộc vào trạng thái có thai, nuôi con và sự kiện sinh con của người vợ
- Về trạng thái có thai của người vợ: Việc xác định trạng thái có thai của
người vợ dựa trên cơ sở sinh học thông qua quá trình thụ thai và phát triển của trứng để thành thai nhi Trứng sau khi được thụ tinh di chuyển vào buồng tử cung
để làm tổ Sau khi làm tổ, trứng phát triển qua hai thời kì:Thời kì thứ nhất bắt đầu
từ khi thụ tinh cho đến hết 8 tuần lễ đầu (thời kì sắp xếp tổ chức) Đây là thời kì hình thành bào thai Thời kì thứ hai từ tháng thứ 3 đến khi đủ tháng (thời kì hoàn chỉnh tổ chức) Đây là thời kì phát triển của thai Thai nhi đã được hình thành đầy
đủ các bộ phận và tiếp tục lớn lên, phát triển và hoàn chỉnh các tổ chức của thai Như vậy, có thể nói người vợ có thai được tính từ khi trứng hoàn thành quá trình làm tổ trong buồng tử cung cho đến khi thai nhi được sinh ra
Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của y học nên con người đã can thiệp vào quá trình thụ tinh Sự thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể người phụ nữ hoặc
có thể diễn ra trong phòng thí nghiệm (gọi là thụ tinh trong ống nghiệm) Tuy nhiên, quá trình phát triển của trứng để thành thai nhi nhất định phải diễn ra trong
cơ thể người phụ nữ Do vậy, đối với các trường hợp thông thường, người vợ có khả năng mang thai thì dù sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể của họ hay trong ống nghiệm rồi được cấy vào tử cung của họ (thành công) thì họ đều được xác định
là đang có thai Khi đó, việc xác định chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn là hoàn toàn có cơ sở Nhưng đối với những trường hợp vì lí do nào đó mà người vợ không thể mang thai nên đã nhờ người khác mang thai hộ (vì mục đích nhân đạo) thì việc xác định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng của cả bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ như sau:
• Đối với bên mang thai hộ: Nếu người vợ đang mang thai hộ thì chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn Bởi vì, về mặt sinh học rõ ràng người vợ đang mang thai
• Đối với bên nhờ mang thai hộ: Có ý kiến cho rằng người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn ngay cả trong thời gian nhờ mang thai hộ.Tuy nhiên, xét về mặt sinh học của việc mang thai, có thể nhận thấy người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn Bởi lẽ, trong trường hợp này người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không "có thai” mà là người phụ nữ mang thai hộ "có thai”
- Về việc người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi: Việc xác định người
vợ đang nuôi con dưới 12 tháng dựa trên sự thực là người vợ đang chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng con dưới 12 tháng Người con này có thể là con đẻ, có thể
là con nuôi (của người vợ hoặc của cả hai vợ chồng) Trong trường hợp mang
Trang 8thai hộ vì mục đích nhân đạo, pháp luật quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Do vậy, nếu người vợ mang thai hộ sau khi sinh mà đang chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ thì cũng được coi là người vợ đang nuôi con và người chồng không có quyền yêu cầu li hôn
- Về việc người vợ sinh con: Sinh con được diễn ra trong quá trình gọi là
chuyển dạ, bắt đầu khi tử cung mở, tiếp theo là sổ thai và cuối cùng là sổ rau Về hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi vợ sinh con còn có ý kiến khác nhau Ý kiến thứ nhất cho rằng người chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong thời gian vợ sinh con, có nghĩa là người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn chỉ trong thời gian diễn ra quá trình sinh con Ý kiến này dựa trên sự phân tích câu chữ trong điều luật cho rằng: Cụm từ "dưới 12 tháng tuổi” không bổ nghĩa cho cụm từ "sinh con” mà chỉ bổ nghĩa cho cụm từ "nuôi con” Ý kiến thứ hai cho rằng người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn khi vợ sinh con mà tính từ thời điểm sinh là chưa được 12 tháng Tức là người chồng chỉ có quyền yêu cầu
li hôn sau khi vợ sinh con được 12 tháng
Căn cứ vào bản chất, ý nghĩa của quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng, cũng như phân tích câu chữ trong điều luật có thể nhận thấy rằng ý kiến thứ hai là phù hợp Xét trên khía cạnh bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nếu người chồng chỉ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn trong quá trình sinh con là không hợp lí Quá trình sinh con chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian Theo y học thì quá trình này diễn ra trong thời gian tối đa là khoảng 10 giờ Nếu pháp luật hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng chỉ trong thời gian đó thì không có ý nghĩa trong việc bảo vệ bà mẹ, trẻ em Sự kiện sinh con của người phụ nữ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ Vì vậy, hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng phải được kéo dài trong khoảng thời gian sau khi
vợ sinh con Hơn nữa, quy định này nhằm hạn chế quyền li hôn của người chồng
cả trong trường hợp người vợ sinh con mà không được nuôi con (do con chết, do mang thai hộ…) Xét về mặt câu chữ của điều luật thì giữa cụm từ "sinh con” và
"nuôi con” có từ "hoặc”, do đó cụm từ "dưới 12 tháng tuổi” bổ nghĩa cho cả cụm
từ "sinh con” và "nuôi con” Như vậy, sự kiện sinh con của người vợ được coi là một trường hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng nhưng không chỉ vào thời điểm người vợ sinh con mà kéo dài cho đến khi được 12 tháng
Một vấn đề đặt ra là trường hợp vợ chồng cùng thuận tình li hôn thì người chồng có quyền yêu cầu li hôn không? Câu hỏi này đã làm dẫn tới hai quan điểm như sau:
- Quan điểm 1: trường hợp người vợ có thai, đang sinh con, nuôi con dưới
12 tháng tuổi mà vợ chồng lại có đơn yêu cầu thuận tình li hôn, trong đó đã thoả
Trang 9thuận được việc chia tài sản, vấn đề nuôi con chung (nếu có),… thì toà án không thụ lý việc thuận tình li hôn này vì nếu thụ lý thì vô hình chung đã đồng nhất với việc thừa nhận người chồng được quyền li hôn trong trường hợp ghi nhận tại khoản 3 điều 51
- Quan điểm 2 cho rằng mục đích của việc hạn chế quyền của ng chồng trong trường này là nhằm bảo vệ người mẹ và trẻ em; đồng thời, giúp đõ các bà
mẹ thực hiện tốt chức năng thiêng liêng và cao cả của họ Vậy nên khi người vợ đồng ý thuận tình li hôn là do bản thân họ mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân và không muốn duy trì cuộc sống chung nên việc hạn chế quyền của người chồng trong trường hợp này là không cần thiết Điều này có cách hiểu khác là việc hạn chế này không áp dụng đối với quyền li hôn của người vợ, khi người vợ
có yêu cầu li hôn thì toà án vẫn thụ lí để xem xét Tuy nhiên nếu người vợ đang
ở trong trường hợp trên mà người chồng đơn phương mong muốn, gửi đơn yêu cầu li hôn thì toà án sẽ không nhận đơn xin li hôn của người chồng vì người chồng không có quyền yêu cầu li hôn Đây là quan điểm được đa số thẩm phán và học giả đồng ý và áp dụng trên thực tế
Chúng ta có thể thấy quan điểm thứ hai hợp lý hơn vì việc quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong trường hợp này là biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích của vợ Hơn ai hết, ng vợ là ng hiểu rõ nhất tình trạng hôn nhân của bản thân sẽ có những đánh giá, nhận định, cân nhắc việc li hôn là tốt cho bản thân họ hơn hay tiếp tục duy trì hôn nhân Trong tg ng vk mang thai, sinh con và nuôi con dưới 12 tháng tuổi nếu xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã sâu sắc, mục đích hôn nhân không đạt được, việc tiếp tục duy trì sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đến quyền lợi và sức khoẻ người vợ, thai nhi và trẻ sơ sinh do đó mà người vợ có yêu cầu li hôn thì toà án vẫn thụ lý giải quyết theo thủ tục chung
3 Quyền yêu cầu li hôn của cha mẹ, người thân thích khác của một bên
vợ, chồng
Quyền yêu cầu li hôn của cha mẹ, hoặc người thân thích khác của một bên
vợ chồng được quy định tại khoản 2 điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 21014: “
Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình
do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức
khỏe, tinh thần của họ.”
Về nguyên tắc, quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng do đó là một quyền nhân thân Lịch sử lập pháp của Việt Nam từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho
Trang 10đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cả ba luật về hôn nhân và gia đình (ban hành năm 1959, năm 1986 và năm 2000) đều chỉ quy định quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng
Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận cho vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn thì sẽ không giải quyết được những trường hợp đặc biệt khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
vi của mình lại bị ngược đãi, hành hạ… Thực tế đã có không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bên kia không những không quan tâm, chăm sóc theo đúng nghĩa vụ mà còn hành hạ, ngược đãi hoặc có các hành vi khác đe dọa đến sức khoẻ, tính mạng của họ Đối với trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn
Việc quy định đối tượng khác ngoài vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn được coi là điểm tiến bộ của bộ Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 so với cả các
bộ luật trước Tuy nhiên, quy định này còn tồn tại những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, quy định này vừa mở rộng phạm vi chủ thể, đồng thời cũng nảy
sinh tình trạng có thể có nhiều chủ thể có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp
này Khi quy định về quyền yêu cầu li hôn, tại Khoản 2 điều 51 đã tách cha mẹ
khỏi phạm vi những thân thích khác nên có thể hiểu quyền này được ưu tiên trao cho cha mẹ của bên vợ/chồng trong tình huống trên Điểm bất cập ở đây là pháp luật hôn nhân gia đình lại không quy định rõ cha, mẹ ở đây được hiểu là cha mẹ
đẻ hay cha mẹ nuôi, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng
Thứ hai, không phải tất cả các trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc
bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích đều có quyền yêu cầu li hôn Chỉ những trường hợp người vợ hoặc chồng
đó đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng mới có quyền yêu cầu li hôn Như vậy, có thể nhận thấy rằng cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn khi có đủ ba yếu tố: Một là một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; hai là bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; ba là tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu li hôn