0 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 PHẦN MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 2 1 Quyền khởi kiện yêu cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp 3 2 Hình thức và nội dung đơn khởi kiện 6 3 Gửi đơn khởi kiện 8 4 Thủ tục nhận.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
1 Quyền khởi kiện yêu cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp 3
2 Hình thức và nội dung đơn khởi kiện 6
3 Gửi đơn khởi kiện 8
4 Thủ tục nhận đơn và xử lí đơn khởi kiện 9
5 Thụ lý vụ án 10
PHẦN KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự TTDS Tố tụng dân sự
TAND Tòa án nhân dân VADS Vụ án dân sự
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Quyền dân sự là một quyền năng cơ bản mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự Để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể, pháp luật có quy định những biện pháp bảo đảm quyền của chủ thể bằng những biện pháp hình
sự, hành chính Nhưng đặc biệt hơn cả trong các biện pháp bảo vệ đó là biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự Tuy nhiên, pháp luật hiện nay cũng đã có những quy định mới về vấn đề khởi kiện VADS Để tìm hiểu kĩ hơn về
vấn đề này, em xin chọn đề bài số 22: “Phân tích, đánh giá những điểm mới của BLTTDS 2015 về khởi kiện vụ án dân sự” làm bài tập học kì của mình
Do đề tài khá rộng và vốn kiến thức của em còn hạn chế, trong bài còn nhiều thiếu sót kính mong các thầy cô giúp đỡ để em hoàn thành bài viết này tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
Khởi kiện VADS có thể được hiểu dưới góc độ là một quyền tố tụng hoặc một hành vi tố tụng Nếu xét dưới góc độ quyền thì quyền khởi kiện của các chủ thể phải được bảo đảm và thực hiện bởi hệ thống cơ quan tư pháp, trong đó có Tòa án Tòa án phải tạo điều kiện và bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền khởi kiện của mình Nếu xét khởi kiện dưới góc độ đó là hành vi tố tụng của chủ thể có quyền lợi hoặc chủ thể được pháp luật trao quyền khởi kiện thì hành vi này cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự thủ tục, thời hạn và Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét yêu cầu các chủ thể phải thực hiện theo các quy định này
Bản chất của khởi kiện có thể hiểu là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi lợi ích này bị tranh chấp hay vi phạm Khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn và theo nghĩa rộng thì khởi kiện
Trang 4là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền và quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
do họ đã không thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn khởi kiện
vụ án BLTTDS năm 2015 có 17 điều (từ Điều 186 đến Điều 202); trong đó giữ nguyên 2 điều, sửa đổi 15 điều Nhằm thể chế hóa tinh thần Nghị quyết số
49-NQ/TW năm 2005 của Bộ chính trị “Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo
đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý”, BLTTDS 2015 đã
sửa đổi với yêu cầu là quy định rõ ràng về quyền khởi kiện, trình tự thủ tục, phương thức nộp đơn khởi kiện; trách nhiệm và thời hạn xem xét thụ lý hoặc không thụ lý đơn khởi kiện của Tòa án Trong đó những nội dung chủ yếu như sau:
1 Quyền khởi kiện yêu cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Quyền khởi khởi kiện trong TTDS là một trong những quyền tố tụng quan trọng nhắm tới mục đích bảo đảm quyền con người liên quan đến lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự được hiểu là quyền tự quyết định và định đoạt của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc yêu cầu Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho mình khi có tranh chấp thông qua việc thực hiện hành vi khởi kiện theo quy định của pháp luật TTDS.1
Điểm mới mang tính đột phá trong quan điểm lập pháp được thể hiện ở BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 về quyền khởi kiện đó
là việc thừa nhận cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân được khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề đã được pháp luật quy định và cả những vấn đề chưa được
1 Bình luận những điểm mới trong BLTTDS 2015 – PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Phương
Trang 5pháp luật quy định Tại Điều 4 BLTTDS 2015 đã thể hiện ba vấn đề mới so với Điều 4 BLTTDS 2004 như sau:
Thứ nhất, cơ quan, tổ chức, cá nhân không chỉ có quyền yêu cầu TAND bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà còn có quyền yêu cầu
TAND bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước
Thứ hai, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu TAND bảo vệ mọi lợi ích
mà họ cho là hợp pháp phát sinh từ quạ hệ pháp luật dân sự, không phụ thuộc vào việc lợi ích đó đã được pháp luật điều chỉnh hay chưa
Thứ ba, những trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu TAND bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng chưa có điều luật quy định thì TAND không được quyền từ chối giải quyết mà phải giải quyết yêu cầu đó trên cơ sở áp dụng phong tục tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng Điều này làm cho
cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện trong BLTTDS 2015 gần như là tuyết đối
Về quyền khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, BLTTDS 2015 có những thay đổi so với BLTTDS 2004 theo hướng
mở rộng phạm vi chủ thể khởi kiện:
Một là liên quan đến vụ án lao động, quyền khởi kiện bảo vệ lợi ích của người
lao động, khoản 2 Điều 162 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 quy định :“
Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định” Sang BLTTDS 2015, tại khoản 2 Điều 187, quy định về chủ
thể trong lĩnh vực này thay đổi theo hướng: “Tổ chức đại diện tập thể lao động có
quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 6pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật” So với “công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở” trong quy
định của luật cũ, tổ chức đại diện tập thể lao động là tổ chức gần gũi hơn với tập thể người lao động, nắm rõ quyền và lợi ích của người lao động nên có điều kiện tốt hơn trong việc khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
Hai là liên quan đến việc khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, khoản 3
Điều 187 BLTTDS 2015 (trước đây BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 không
đề cập đến đối tượng này) quy định:“ Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dung” Hiện nay, ngoài hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) đã có 48 Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở 48 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Việc bổ sung quy định này là nhằm thống nhất với quy định về người khởi kiện tại Điều 41 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Ba là liên quan đến hôn nhân và gia đình, khoản 5 Điều 187 BLTTDS 2015
(trước đây BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 không đề cập đến đối tượng này)
quy định:“Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình” Các cá nhân có quyền khởi kiện ở đây có thể hiểu là cha, mẹ, người thân
thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết li hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ (khoản 2
Trang 7Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014) Ngoài ra, hiện nay thời hiệu không còn
là một điều kiện để thụ lí vụ án
Như vậy việc mở rộng chủ thể thực hiện quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự một mặt đảm bảo quyền tiếp cận công lý, tiếp cận Tòa án của mọi chủ thể, tạo cơ hội bình đẳng cho các cá nhân trong việc yêu cẩu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, mặt khác bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành giữa Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luât lao động 2012, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,… và các văn bản pháp luật khác liên quan đến quyền khởi kiện trong TTDS
2 Hình thức và nội dung đơn khởi kiện
Quy định về hình thức đơn và nội dung đơn khởi kiện trong BLTTDS 2015 được viết lại hoàn toàn khác so với Điều 164 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 trước đây Vấn đề này được viết theo hướng rõ ràng và dễ hiểu hơn bằng cách tách bạch đơn khởi kiện của cá nhân với đơn khởi kiện của cơ quan tổ chức (Điều 189 BLTTDS 2015), bởi các chủ thể này có những đặc thù riêng nên cần những hướng
dẫn riêng:
Thứ nhất, khoản 2 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định cụ thể về việc làm đơn
khởi kiện cho từng trường hợp cụ thể:
Đối với cá nhân: Nếu cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có
thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn cá nhân đó phải kí tên hoặc điểm chỉ Nếu cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại
Trang 8diện hợp pháp của cá nhân đó; ở cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải kí tên hoặc điểm chỉ Nếu cá nhân thuộc 2 trường hợp trên không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình kí tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người
đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng Ở khoản 3 Điều 164 BLTTDS 2004 quy định người làm chứng phải kí xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng Tuy nhiên, Điểm c khoản 2 Điều 189 BLTTDS 2015 chỉ quy định người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện, không bắt buộc phải ký trước người có thẩm quyền chứng thực và cũng không bắt buộc phải có chứng thực chữ ký của người làm chứng Sự thay đổi này hoàn toàn phù hợp với đặc trưng của việc kiện trong tố tụng dân sự là quyền tự định đoạt và điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án
Đối với cơ quan, tổ chức: cơ quan tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của
cơ quan tổ chức và họ tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải kí tên, đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp
Thứ hai, khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định chi tiết hơn Điều 164
BLTTDS 2004 về nội dung trong đơn khởi kiện Bên cạnh việc phải ghi nhận đầy
đủ tên, nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người khởi kiện, người bị kiện vầ người liên quan thì bổ sung thêm thông tin về số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử,… Đồng thời cho phép các bên lựa chọn địa chỉ khác với địa chỉ nơi cư trú, làm việc
có trụ sở để Tòa án liên hệ Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở
Trang 9của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người đó… Quy định mới của BLTTDS 2015 tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình tố tụng thực hiện liên hệ với Tòa án đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong thủ tục gửi và tiếp nhận các loại văn bản, giấy tờ
tố tụng liên quan đến vụ án
3 Gửi đơn khởi kiện
Về phương thức nộp đơn khởi kiện, ngoài 2 phương thức khởi kiện được quy định tại khoản 1 Điều 166 BLTTDS 2004 là nộp trực tiếp tại Tòa án và gửi đến Tòa án qua bưu điện, thì khoản 1 Điều 190 BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm một phương thức mới là gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử thông qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, hầu hết các Tòa án đều có website riêng (thường các Tòa án cấp tỉnh đều có website) nên việc bổ sung phương thức trên là phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khởi kiện
Tuy nhiên, tùy vào phương thức khởi kiện mà ngày khởi kiện cũng được xác định khác nhau Theo Khoản 2 Điều 190 BLTTDS 2015 xác định cụ thể ngày khởi kiện như sau: Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi Trường hợp nếu không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính Đương sự phải chứng minh ngày gửi đơn của mình tại tổ chức dịch vụ bưu chính, trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn; trường
Trang 10hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác thì ngày khởi kiện là ngày đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thu lý nhưng không đúng thẩm quyền
Việc quy định đa dạng phương thức gửi đơn khởi kiện trong BLTTDS 2015 khẳng định trong mọi trường hợp Tòa án đều không thể từ chối nhận đơn khởi kiện
và mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn phương thức gửi đơn phù hợp nhất để thực hiện quyền khởi kiện
4 Thủ tục nhận đơn và xử lí đơn khởi kiện
So với Điều 167 BLTTDS 2004 các quy định của BLTTDS 2015 về thủ tục nhận đơn và xử lí đơn khởi kiện có những điểm mới như sau:
Thứ nhất, về thủ tục nhận đơn, BLTTDS 2004 chỉ quy định Tòa án nhận đơn
khởi kiện và ghi vào sổ nhận đơn nhưng không quy định thủ tục cấp giấy cho người khởi kiện để xác định việc Tòa án đã nhận đơn khởi kiện của họ Để khắc phục hạn chế này, khoản 1 Điều 191 BLTTDS 2015 quy định đầy đủ về cách thức, thủ tục Tòa án phải thực hiện khi nhận đơn để đảm bảo quyền lợi cho người khởi kiện Theo đó, Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng hình thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Thứ hai, khoản 2 Điều 191 BLTTDS 2015 quy định mới về việc phân công
Thẩm phán xem xét và xử lí đơn khởi kiện Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem