MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 1 1 1 Khái.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Cơ sở lý luận của nguyên tắc 2
1.3 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc 3
1.4 Ý nghĩa của nguyên tắc 3
II NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 4
2.1 Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập 4
2.1.1 Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với các yếu tố bên ngoài 4
2.1.2 Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với nhau 6
2.2 Khi xét xử Thẩm phán, Hội thầm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật 7
2.3 Mối quan hệ giữa độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự 7
III THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 8
3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 8
3.2 Những bất cập trong quy định của pháp luật 10
Trang 23.3 Một số giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc thẩm phán
và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 12 KẾT LUẬN 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
Các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự là những tư tưởng pháp lý cơ bản Vì vậy, việc vi phạm các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tố tụng Trong hoạt động xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự là dạng hoạt động có tính chất đặc biệt, hoàn toàn dựa trên hoạt động
tư duy của phẩm phán, hội thẩm nhân dân Để đảm bảo việc xét xử, giải quyết vụ việc được khách quan, công bằng, đúng pháp luật thì khi xét xử vụ án, giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, hội thẩm nhân dân phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự nên
đã được pháp luật quy định là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc, em xin được lựa chọn đề bài số
02 “Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm
phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này” để được đi sâu và làm rõ hơn về vấn đề này Trong
quá trình làm bài sẽ không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong thầy, cô giúp
đỡ để bài làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI T HẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
1.1 Khái niệm
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản cấu thành nên hệ thống các
nguyên tắc cơ bản của luật TTDS Việt Nam “Nguyên tắc của Luật tố tụng dân
sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng
và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự.”
Với nguyên tắc này, trong bốn bản Hiến pháp của nước ta từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp hiện hành, qua từng giai đoạn, từng thời kì vẫn luôn được coi trọng và ghi nhận Nó đã trở thành một nguyên tắc tối thượng trong tổ
chức và hoạt động của tòa án nói chung và hoạt động xét xử VADS nói riêng
“Độc lập” là đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy ai, không
bị ai kiềm chế Nguyên tắc này được hiểu theo hai khía cạnh là độc lập với các
Trang 4yếu tố bên ngoài, tức là độc lập với các cơ quan, tổ chức, cá nhân và độc lập với các yếu tố bên trong là sự độc lập giữa các thành viên trong HĐXX Sự độc lập ở đây thể hiện khi ra bản án, quyết định sẽ được đưa ra một cách công bằng, vô tư, khách quan Do đó, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, không phải phụ thuộc vào bất cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác Ngoài ra, các thành viên của HĐXX không bị chi phối bởi quan điểm của nhau, ý kiến của lãnh đạo cấp trên và độc lập với ý kiến phát biểu của những người tham gia tố tụng
Cụm từ “chỉ tuân theo pháp luật” chỉ định hướng hoạt động của HĐXX,
đó là việc HĐXX ngoài việc tuân theo các quy định của pháp luật thì không tuân theo một ai khác Trong hoạt động xét xử, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo các quy tắc xét xử mà thôi Chính việc tuân theo các quy tắc một cách nghiêm ngặt như vậy sẽ nhằm đảm bảo được quyền con người, quyền và lợi ích cơ bản của mỗi công dân, tránh sự lạm quyền, lụng quyền của cơ quan xét
xử
Như vậy, nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự,
Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thể hiện tư tưởng pháp lý khi xét xử các vụ án dân sự Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tự mình quyết định và tự chịu trách nhiệm về bản án và quyết định của mình mà không phụ thuộc vào quan điểm, ý kiến cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau và chỉ căn cứ các quy định của pháp luật để xem xét
và quyết định từng vấn đề của vụ án
1.2 Cơ sở lý luận của nguyên tắc
Thứ nhất, xuất pháp từ nguyên tắc tổ chức và phân công quyền lực ở nhà
nước Việt Nam Tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Đây cũng là cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án
Thứ hai, xuất pháp từ bản chất của hoạt động Tư pháp mà Tòa án thực
hiện Tòa án là cơ quan thực hiện hoạt động tư pháp hoạt động nhân danh công
lý và dựa vào công lý thì Tòa án phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào và chỉ tuân theo những quy định của pháp luật thì mới thực hiện đúng nhiệm vụ của mình
Trang 5Thứ ba, xuất pháp từ chế độ dân chủ ở nước ta Việc xét xử của Tòa án có
sự tham gia của Hội thẩm nhân dân đã được quy định trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật, đó thể hiện rõ tư tưởng “Nhà nước là của dân, do dân, vì dân” và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa Pháp luật giao trọng trách cho Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, giám sát, bảo vệ công lý, chế độ xã hội chủ nghĩa Giúp cho việc xét xử của Tòa án được rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được những nguyện vọng chính đáng của nhân dân
1.3 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật Hiến pháp năm 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan,
tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”
Đây là một nguyên tắc hiến định được quy định trong văn bản pháp luật cao nhất là Hiến pháp Chính vì vậy để đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật đều phải đảm bảo nguyên tắc này Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân khi xét xử các vụ án phải độc lập và chỉ được tuân theo pháp luật
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì nguyên tắc này sẽ được thể hiện qua các quy định pháp luật khác nhau để đảm bảo việc thực thi trên thực tế Trong Luật
Tố tụng dân sự thì sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được quy định tại Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Đây
là một trong những nguyên tắc cơ bản cấu thành nên hệ thống các nguyên tắc trong luật tố tụng dân sự Việt Nam
1.4 Ý nghĩa của nguyên tắc
Nguyên tắc này là cơ sở, nền tảng của Tư pháp và cũng là cơ sở để xây dựng, thực hiện các quy phạm khác của pháp luật Tố tụng dân sự
Thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng xét xử vụ án dân sự của Tòa án, khẳng định vai trò, vị trí, trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử vụ án dân sự
Thực hiện nguyên tắc là góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vụ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đảm bảo ổn định nền kinh tế-xã hội trong các mối quan hệ dân sự
Trang 6II NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ VỤ
ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
2.1 Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập
Khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm không bị phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy
tố của Viện kiểm sát, không phụ thuộc vào ý kiến của các cơ quan khác hay của Tòa án cấp trên Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập từ việc nhận định vụ án, diễn giải pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật và ra bản án Các cá nhân, cơ quan, tổ chức không được can thiệp, tác động tới các thành viên của Hội đồng xét xử để buộc họ phải xét xử theo ý chí của mình Mọi hành vi can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án đều bị coi là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng tới tính khách quan của hoạt động xét xử
2.1.1 Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với các yếu
tố bên ngoài
Thứ nhất, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với Viện
kiểm sát Xét xử vừa là hoạt động chấp hành pháp luật, vừa là hoạt động áp dụng pháp luật Do vậy, Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trước khi áp dụng đối với các đối tượng khác Để đảm bảo được điều này thì hoạt động xét xử của Tòa án được đặt dưới sự giám sát của Viện kiểm sát
Theo Điều 232 và Điều 262 BLTTDS năm 2015 thì tại phiên tòa xét xử phải có Kiểm sát viên và Kiểm sát viên có quyền phát biểu ý kiến Tuy nhiên, những ý kiến này chỉ mang tính chất khuyến nghị và không có ý nghĩa trực tiếp làm thay đổi hành vi tố tụng và phán quyết của Hội đồng xét xử Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiếm tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật và trên cơ sở nhận định, đánh giá của mình để ra bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự và có quyền kết luận khác với ý kiến của Viện kiểm sát
Thứ hai, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với Tòa án
các cấp Ở nước ta hiện nay, việc xét xử các VADS được thực hiện theo nguyên tắc hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm Theo đó, các bản án, quyết định giải quyết VADS của Tòa án cấp sơ thẩm khi ban hành sẽ chưa có hiệu lực pháp luật
Trang 7ngay mà sẽ có khoảng thời gian nhất định để đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị Thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định lần lượt tại các điều 273 và điều 280 BLTTDS 2015
Khi vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể xem lại những phần khác của bản án, quyết định có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Xét xử phúc thẩm sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc khắc phục những sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định của TA cấp sơ thẩm, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Khi xét xử lại vụ án, HĐXX cấp phúc thẩm hoàn toàn độc lập với nhận định của
TA sơ thẩm về nội dung vụ án Song, để đảm bảo được tính độc lập của cấp sơ thẩm, TA cấp trên trong bản án phúc thẩm chỉ nêu lên những sai sót của TA sơ thẩm và lý do hủy bản án, quyết định sơ thẩm mà không có quyền yêu cầu TA cấp sơ thẩm công nhận hay bác bỏ những chứng cứ nào trong quá trình xét xử lại
vụ án Do đó, TA sơ thẩm khi xét xử lại vụ án thì vẫn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Bên cạnh đó, Tòa án cấp trên chỉ quản lý cấp dưới về mặt chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức hành chính còn Tòa án cấp dưới vẫn có toàn quyền quyết định đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình Các hướng dẫn của Tòa
án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới thông qua việc tổng kết kinh nghiệm xét xử không phải là hướng dẫn hay chỉ đạo việc xét xử một vụ án cụ thể mà chỉ có ý nghĩa là đường lối xét xử chung, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật Nguyên tắc trao đổi án cũng chỉ giúp TP xem xét vụ án ở nhiều góc cạnh, hạn chế những sao sót chứ không bắt buộc TP phải tuân theo Trong mối quan hệ giữa các cấp xét xử, trong xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hoàn toàn độc lập với những nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm về nội dung của vụ án
Thứ ba, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với cơ quan
nhà nước, tổ chức và dư luận xã hội Mức độ độc lập trong hoạt động xét xử thể hiện sức mạnh không chỉ của ngành tư pháp mà còn thể hiện uy tín, sức mạnh của cả bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị Với nước ta thì Đảng lãnh đạo chặt chẽ cơ quan tư pháp về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cán bộ nhưng Đảng không can thiệp vào hoạt động xét xử từng vụ án cụ thể của Tòa án Chính vì vậy khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân luôn độc lập với các cơ quan trong
Trang 8bộ máy nhà nước Không chỉ thế Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân còn độc lập với tổ chức và các cá nhân và dư luận xã hội mà chỉ xét xử khách quan, tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Sau phán quyết của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng tòa xét xử như vậy đúng hay không, có công bằng hay không, nặng hay nhẹ Đặc biệt là các vụ án bị cấp trên xử hủy, những vụ án xét xử lưu động
và các vụ án lớn được dư luận quan tâm Những vấn đề đó đều tác động mạnh
mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử Như vậy việc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân này là rất cần thiết
2.1.2 Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập với nhau
Bên cạnh sự độc lập với các yếu tố bên ngoài, nguyên tắc này còn đòi hỏi chính các thành viên của Hội đồng xét xử cũng phải độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và đưa ra các kết luận
về vụ án, mà không phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử Hội thẩm nhân dân là đại diện của nhân dân tham gia xét xử Do đó, Hội thẩm nhân dân khi xét xử phải độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và ngang quyền với Thẩm phán điều này được quy định tại Điều 49 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 “ Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử ”
Tại phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tất cả đều có quyền hỏi đương sự về các vấn đề liên quan đến vụ án mà mình cho là cần thiết để giải quyết vụ án Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó đến Hội thẩm nhân dân Như vậy thể hiện được sự ngang bằng và độc lập của các thành viên trong Hội đồng xét xử và không phụ thuộc vào nhau đặc biệt là phụ thuộc vào chủ tọa phiên tòa
Trong quá trình nghị án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập thể hiện qua việc giải quyết tất cả các vấn đề bằng việc biểu quyết theo đa số và việc nghị án này được ghi lại bằng biên bản và được quy định tại Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Các thành viên trong Hội đồng xét xử có một phiếu như nhau và đều được thể hiện quan điểm của bản thân về vụ án và các thành viên khác phải lắng nghe ý kiến đó Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình
Trang 9bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án Thẩm phán không được lấy quyền do mình là chủ tọa phiên tòa mà áp đặt ý kiến, nhận định lên Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân cũng không được dựa vào ưu thế số đông để giải quyết vụ án theo quan điểm của riêng họ
2.2 Khi xét xử Thẩm phán, Hội thầm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật
Đây chính là giới hạn của hoạt động xét xử Độc lập xét xử không đồng nghĩa với xét xử tùy tiện Sự độc lập trong hoạt động xét xử đòi hỏi Thẩm phán phải có trách nhiệm xét xử đúng pháp luật, phải làm theo đúng những gì mà pháp luật đã quy định để ngăn chặn được sự lạm dụng địa vị pháp lý trong quan hệ tố tụng Phải dựa trên những quy định của pháp luật thì khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các tình tiết của vụ án để có thể áp dụng chính xác pháp luật và đây chính là căn cứ duy nhất để đưa ra quyết định trong vụ án
Thẩm phán và HTND phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật Khi nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm
có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong phán quyết của mình Mọi kết luận của bản án, quyết định của HĐXX phải phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án Mỗi nhận định của bản án đều phải dựa trên những chứng cứ và tình tiết xác thực được thẩm tra tại phiên tòa có lập luận chặt chẽ, không kết luận dựa trên ý nghĩ chủ quan, cảm tính cá nhân của mỗi thành viên HĐXX Không chỉ vậy mà việc tuân thủ và áp dụng luật phải sáng tạo, linh hoạt đối với từng trường hợp chứ không được rập khuôn máy móc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật ,bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức Hoạt động xét xử thể hiện trực tiếp thái độ của nhà nước đối với các vụ án cụ thể chính vì vậy phải chính xác và công minh trong việc vận dụng và áp dụng pháp luật trên thực tiễn
2.3 Mối quan hệ giữa độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật trong
tố tụng dân sự
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Độc lập trong xét xử là không chịu sự chi phối hay tác động của bất
kì điều gì vào những nhận định cũng như đánh giá của Thẩm phán và Hội đồng nhân dân chính là điều kiện cần để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật Do vậy khi đánh giá, ý kiến Thẩm phán và Hội thẩm
Trang 10nhân dân cũng phải dựa trên những quy định của pháp luật để đưa ra các quyết định, bản án đúng luật nhất
Còn nếu chỉ độc lập mà không tuân thủ đúng những quy định của pháp luật thì sẽ dẫn đến tình trạng lạm quyền, sự tùy tiện cũng như ý chí chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong khi giải quyết các vụ việc dân sự Nếu lại chỉ tuân thủ theo các quy định của pháp luật mà không có sự độc lập của Thẩm phán và Hội đồng nhân dân lại sẽ dẫn đến tình trạng các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án
Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được
sự độc lập Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật Độc lập nhưng phải dựa trên những quy định của pháp luật Yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không thể tách rời nhau Từ những phân tích trên có thể thấy rằng yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, độc lập trong sự thống nhất với việc tuân theo pháp luật Chính vì vậy độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ quan lại, tác động và bổ sung cho nhau để đảm bảo cho việc xét xử các vụ án dân sự được khách quan, công bằng và đúng luật
III THỰC TIỄN VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ
VỤ ÁN DÂN SỰ, THẨM PHÁN GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ ĐỘC LẬP
VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
Như đã phân tích ở phần trên, có thể thấy nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong hệ thống nguyên tắc của luật TTDS Việt Nam
3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án và được ghi nhận từ rất sớm trong Hiến pháp và pháp luật Điều này tạo được nền tảng cơ sở pháp lý vững chắc cho Tòa án xét xử một cách độc lập, khách quan, công bằng và đúng