1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỌC PHẦN văn học THIẾU NHI (SG425) bài THUYẾT TRÌNH NHÓM 9l01 TRẦN ĐĂNG KHOA và tập THƠ góc sân và KHOẢNG TRỜI

49 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuyết Trình Nhóm 9L01 Trần Đăng Khoa và Tập Thơ Góc Sân Và Khoảng Trời
Tác giả Trần Đăng Khoa
Người hướng dẫn ThS. Lữ Hùng Minh
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Văn học Thiếu Nhi
Thể loại bài thuyết trình nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 347,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Cuộc đời và sự nghiệp (5)
  • II. Nội dung thơ của Trần Đăng Khoa (8)
    • 3.1 Những tình cảm trong sáng (0)
    • 3.2 Nội dung thơ Trần Đăng Khoa ở giai đoạn tham gia chiến đấu chống Mĩ (23)
  • III. Nghệ thuật trong thơ Trần Đăng Khoa (25)
  • IV. Phân tích tác phẩm minh họa: Bài thơ “Cây dừa” (31)
  • V. Một số bài thơ của Trần Đăng Khoa (34)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (48)

Nội dung

Nhà thơ đã viết bài thơ vào năm 1968, đây là bài thơ mà Trần Đăng Khoa đã viết tặng “Ông hoàng thơ tình ViệtNam” – Xuân Diệu: “Hạt gạo làng ta Có vị phù saCủa sông Kinh Thầy Có hương sen

Cuộc đời và sự nghiệp

Nhà thơ Trần Đăng Khoa sinh ngày 24/4/1958, quê ông ở làng Trực Trì, xã

Trần Đăng Khoa sinh và lớn lên ở Nam Sách, Hải Dương, trong một gia đình nông dân nơi bầu không khí thơ ca luôn hiện hữu Bố mẹ ông thuộc nhiều truyện và thơ ca cổ, còn anh trai Trần Nhuận Minh và em gái Trần Thị Thuý Giang cũng đắm mê văn học, yêu thơ và thích làm thơ Ở độ tuổi 6–7, Khoa đã thuộc lòng nhiều ca dao và thơ cổ và ham đọc sách ngay từ khi học lớp một Anh thích nghe truyện cổ tích, nghe anh trai đọc thơ và bắt chước làm thơ, từ đó hình thành trong gia đình một cái nôi văn hóa cho một tâm hồn thơ trẻ Từ năm 8 tuổi, Trần Đăng Khoa đã có thơ đăng báo, cho thấy tài năng và niềm đam mê chữ nghĩa sớm nảy nở.

Trần Đăng Khoa là một nhà thơ, nhà báo và biên tập viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, được biết đến với vai trò Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Ông từng đảm nhận Trưởng ban Văn học Nghệ thuật và là Giám đốc Hệ Phát thanh có hình VOVTV thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam Ngoài ra, ông còn giữ chức Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam.

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26/2/1975 khi đang học lớp 10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, gia nhập Tiểu đoàn 691, Trung đoàn 2 Quân tăng cường Hải Hưng; sau thống nhất, việc bổ sung quân cho chiến trường không còn cần thiết, ông được chuyển về quân chủng hải quân, rồi theo học Trường Viết Văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học thế giới M.Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga Khi trở về nước, ông làm biên tập viên Văn nghệ Quân đội; từ tháng 6/2004, khi đã mang quân hàm thượng tá, ông chuyển sang Đài Tiếng nói Việt Nam, giữ chức Phó Trưởng Ban Văn học Nghệ thuật, sau đó là Trưởng Ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam Năm 2008, Đài Tiếng nói Việt Nam thành lập Hệ phát thanh hình VOVTV, ông được phân công làm Giám đốc đầu tiên của hệ này; khoảng giữa năm 2011, chức vụ này được chuyển giao cho ông Vũ Hải – Phó Tổng Giám đốc Đài kiêm nhiệm Hiện nay, ông là Phó Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam VOV.

Từ thuở ấu thơ, ông đã được nhiều người xem là thần đồng thơ văn của Việt Nam Lên tám tuổi, những bài thơ của ông đã được đăng trên báo, cho thấy tài năng vượt trội từ sớm Đến năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông chính thức ra mắt độc giả, mở đầu một sự nghiệp thơ ca đầy ấn tượng và gợi mở cho tương lai.

Từ góc sân nhà em, tập thơ tiếp theo mang tên Góc sân và khoảng trời, được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông có lẽ là bài thơ Hạt gạo làng ta (1968), được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính và sau đó phổ nhạc bởi Trần Viết Bính (1971), thành một ca khúc được đông đảo thiếu niên, nhi đồng yêu thích Khi mới 10 tuổi, nhà thơ Trần Đăng Khoa đề nghị đổi câu thơ Đường ta đi rộng thênh thang tám thước trong bài Ta đi tới của Tố Hữu thành Đường ta rộng thênh thang ta bước, khiến giới văn học Việt Nam một phen ngỡ ngàng.

Sự nghiệp sáng tác của Trần Đăng Khoa lên tiếng mạnh mẽ sau khi Xuân Diệu đăng bài giới thiệu thơ ông trên báo, đưa tên tuổi của “thần đồng” đến với công chúng Nhiều fan hâm mộ đã lặn lội về thôn Điền Trì để tận mắt xem ông làm thơ Thơ Trần Đăng Khoa được dịch và in ở nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Bulgaria, Hungary, Na Uy, Bồ Đào Nha, Ca-na-đa, Tiệp Khắc, Thụy Điển, Mỹ và Liên Xô cũ Trong sự nghiệp, ông may mắn gặp gỡ và nhận sự dìu dắt của nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận, Tô Hoài, Chế Lan Viên; những người này đã giúp ông vượt qua sự ấu trĩ, phát triển tư duy nghệ thuật và nhanh chóng trưởng thành Trần Đăng Khoa thường trao đổi thơ với Xuân Diệu, và hầu như các bài viết của ông đều được thầy đọc trước và góp ý; sự ảnh hưởng của người thầy nghiêm khắc này giúp ông trưởng thành vững vàng, lao động thực sự như một nhà thơ, một nghệ sĩ, để thơ của ông vượt qua sự ngây thơ, hồn nhiên của một em bé làm thơ.

❖ Thành tích: Giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong các năm

968, 1969, 1971; Giải nhất báo Văn nghệ năm 1982; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

❖Những tác phẩm nổi bật của Trần Đăng Khoa:

Từ góc sân nhà em, 1968

Góc sân và khoảng trời, tập thơ, 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch

- và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới

Khúc hát người anh hùng, trường ca, 1974.

Bên cửa sổ máy bay, tập thơ, 1986.

Chân dung và đối thoại là tiểu luận phê bình được ấn hành ở Hà Nội bởi Nhà xuất bản Thanh niên vào năm 1998 và đã tái bản nhiều lần Theo tác giả, ban đầu ông dự định phát hành tập II của tác phẩm này, nhưng hiện nay toàn bộ bản thảo đã được gộp vào phần I để tái bản.

Bài “Thơ tình người lính biển” đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc. Đảo chìm, tập truyện – ký, đến đầu năm 2009 đã tái bản 25 lần.

- Đi đánh thần Hạn, trường ca 4 chương, 1970.

Thơ Trần Đăng Khoa (T1), tuyển tập thơ, 1970 (T2), tuyển tập thơ, 1983. Trường ca Trừng phạt, trường ca, 1973.

Khúc hát người anh hùng, trường ca, 1974.

Trường ca Giông bão, trường ca, 1983.

Hầu chuyện Thượng đế, đàm thoại văn học, 2015, gồm 80 bài.

❖Tập thơ Góc sân và khoảng trời

Trần Đăng Khoa nổi tiếng là thần đồng thơ từ thuở nhỏ; ngay từ thời thơ ấu, anh đã tạo ra một thế giới riêng mang tên Góc sân và Khoảng trời, nơi những quan sát giản dị trở thành thi ca sống động và ghi dấu ấn riêng trong văn học Việt Nam.

Tuyển tập thơ “Góc sân và Khoảng trời” do ông sáng tác từ những năm lên 8

Đến năm ông lên 10 tuổi thì “Góc sân và Khoảng trời” được in lần đầu, gồm

Trần Đăng Khoa ban đầu có hai bài thơ, sau này được bổ sung lên 66 bài thơ, bao gồm các bài thơ nổi tiếng đã đăng báo Năm 2002, tập thơ Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa là một trong ba tập thơ được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, khẳng định vị thế của ông trong nền thơ Việt Nam.

Việc sáng tác từ khi còn trẻ đã giúp tập thơ của ông để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả nhí, mang đến một cái nhìn hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Nhờ đó, các em dễ học tập và yêu mến văn học hơn Đồng thời với sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và liên tưởng độc đáo về sự vật, hiện tượng và con người, thơ của ông trở nên gần gũi, quen thuộc và thân thiện với mọi người.

❖Một số bài thơ đã được đưa vào chương trình dạy ở Tiểu học:

Kể cho bé nghe SGK Tiếng Việt 1, tập 2, Trang 104.

Lớp 2: tri thức với cuộc sống).

+Trăng ơi…từ đâu đến? SGK Tiếng việt 3, tập 2, Trang 72 ( Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống).

Mẹ ốm SGK Tiếng Việt 4, tập 1, Trang 9.

Trăng ơi từ đâu đến SGK Tiếng Việt 4, tập 2, Trang 107.

+Hạt gạo làng ta SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 139.

Nội dung thơ của Trần Đăng Khoa

Nội dung thơ Trần Đăng Khoa ở giai đoạn tham gia chiến đấu chống Mĩ

Trong sự nghiệp thơ, Trần Đăng Khoa nổi bật với những bài viết ở tuổi trưởng thành về bộ đội và cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc So với những nhận thức thời niên thiếu, thơ trưởng thành của ông thể hiện sự chín chắn, sâu sắc về hy sinh, lòng đồng đội và trách nhiệm với quê hương Những câu chữ của ông không chỉ kể về chiến tranh mà còn phản ánh những suy tư về ý thức con người, niềm kiên định và những câu chuyện đời sống giữa khói lửa Đây là mảng thơ làm nổi bật phong cách Trần Đăng Khoa, nơi chiến tranh được nhìn nhận qua lăng kính nhân văn và tinh thần, gợi mở cho người đọc ý nghĩa của sự bảo vệ Tổ quốc.

“Cháu nghe chú đánh những đâu Những tàu chiến cháy, những tàu bay rơi Đến đây chỉ thấy chú cười

Chú đi gánh nước, chú ngồi đánh bi”

(Gửi theo các chú bộ đội)

Trần Đăng Khoa đã sống trong cuộc chiến, nên ông trực tiếp đối diện và cảm nhận sự khốc liệt của chiến tranh Vì vậy, nhà thơ viết thay lời những người lính ở biên giới Tây Nam trước khi ra trận, chuyển tải nỗi niềm và ước vọng của họ thành những câu chữ giàu cảm xúc Những dòng thơ của ông phản ánh sự tàn phá và cả tinh thần kiên cường, đồng cam cộng khổ của quân đội trước giờ bước vào trận địa Đó là lời kể của người trong cuộc, gắn chặt với biên giới Tây Nam và lịch sử chiến tranh Việt Nam.

“Có điều gì phấp phỏng thế, rừng ơi?

Mà nghe rối cả ruột rừng, gió thổi

Ta muốn hít cả đất trời chật căng hai lá phổi Ôi đêm nay có thể chỉ là một đêm Nhưng cũng có khi là cả một đời người”

Viết về người lính đi qua chiến tranh và sống ở thời bình, thơ Trần Đăng Khoa dung dị và dễ tiếp cận Dù chưa có nhiều hình ảnh độc đáo, ông vẫn tạo được điểm nhấn với độc giả bằng sự chân thật, ngôn ngữ gần gũi và nhịp điệu dịu nhẹ khiến ký ức chiến tranh trở nên gần gũi hơn Bằng cách giản lược hình ảnh nhưng sâu sắc ở cảm xúc, Trần Đăng Khoa khắc họa nỗi niềm của người lính, từ quá khứ đau thương đến cuộc sống bình yên hôm nay, qua đó gợi mở những suy ngẫm về hy vọng, đoàn kết và ý nghĩa của thời bình trong thơ Việt Nam.

“Đất nước không bóng giặc Tưởng về gần lại xa

Vẫn gian nan làm bạn Vẫn gió sương làm nhà”

“Những mùa đi thăm thẳm Trong mung lung chiều tà

Có bao chàng trai trẻ

Cứ lặng thinh mà già”

Trong thơ Trần Đăng Khoa, người lính hiện lên sinh động và mang đậm chất lãng mạn: trước khi ra trận, họ vẫn thấy vầng trăng đêm nay cứ vằng vặc ngang đầu, như một biểu tượng của niềm tin và sự bình thản giữa gian nan Khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới, hình ảnh ấy được đặt trong sự kiên định, lòng yêu nước sâu nặng và tấm lòng trách nhiệm, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy để bảo vệ tổ quốc Sự giao thoa giữa nét thơ mộng và ý thức trách nhiệm tạo nên một hình tượng vừa mềm mại vừa chắc chắn, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc về nhân cách và lòng dũng cảm của người lính.

“Lán buộc vào hoàng hôn Ráng vàng cùng đến ở Bao nhiêu là núi non Ríu rít ngoài cửa sổ”

Và người lính không thể lãng mạn hơn với hình ảnh thơ của Trần Đăng Khoa:

“Bỗng ngời ngời chóp núi

Bàng hoàng xô toang cửa Hóa ra vầng trăng xa”

Trần Đăng Khoa có duyên và dí dỏm đặc sắc trong văn xuôi, phê bình và chân dung văn học, và điều đó không mất đi ở thơ ông – ngược lại, đó còn là đặc sản của thơ ông, nhất là khi ông viết về người lính Khi kể về buổi sinh hoạt văn nghệ của lính đảo, thơ của Trần Đăng Khoa thể hiện sự hóm hỉnh, nhạy bén và mang đến cho độc giả những câu chữ khiến ai đọc cũng tự mỉm cười và hình dung sống động về thời chiến.

“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu.

Thôi lặng yên nghe có gì đang sóng sánh Hóa ra là sư cụ hát tình ca

Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót

. Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau Ngoài mép biển người đâu lên đông thế Ồ, hóa ra toàn những đá trọc đầu

(Lính đảo hát tình ca trên đảo)

Chính sự hài hước, hóm hỉnh đã tạo niềm tin, lạc quan cho người lính, kể cả khi khó khăn, gian khổ nhất.

Thơ của Trần Đăng Khoa về người lính không cầu kỳ mà mang vẻ mộc mạc, đắm sâu vào lòng người đọc Sau năm 1975, nhiều nhà thơ viết về chiến tranh cách mạng và hình ảnh người lính, nhưng anh lại nổi bật với những bài thơ về người lính thời bình, đặc biệt là những câu chuyện ở Trường Sa và Bộ đội Hải quân Trần Đăng Khoa là một trong số ít nhà thơ đã tiên phong khai phá chủ đề này và gặt hái nhiều thành công Ông từng là người lính và sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nghệ thuật trong thơ Trần Đăng Khoa

1 Cách nhìn cảnh vật qua đôi mắt và tâm hồn trẻ thơ

Nhìn cảnh vật và con vật qua đôi mắt của một cậu bé 10 tuổi, thơ Trần Đăng Khoa thể hiện sự giản dị, gần gũi và hài hòa, đồng thời mang sắc thái đặc trưng của thơ thiếu nhi Việt Nam Các bài thơ của Trần Đăng Khoa thường sử dụng biện pháp nhân hóa để miêu tả cảnh vật, biến thiên nhiên thành những nhân vật sống động, giúp người đọc dễ hình dung và đồng cảm với thế giới quanh ta.

“Cây lúa mừng vui phất cờ Dây khoai nảy xanh lá mới Cau xòe tay hứng giọt mưa rơi Ếch nhái uôm uôm mở hội

Trong những cảnh vật thân thuộc của cuộc sống, cây lúa như đang vui mừng phất cờ trước cơn mưa, dây khoai nảy lá xanh, cây cau xòe tay đón nhận từng giọt mưa rơi, ếch nhái mở hội rộn rã Được nhân hóa khéo léo, vạn vật trở nên sống động, như trẩy hội để đón chờ mùa mưa, mang đến cảm giác háo hức và gắn kết giữa thiên nhiên và con người.

Trong bài thơ Mưa, bầu trời được nhân hóa thành một trận chiến thật sự, như một người lính mang áo giáp đen đang đứng đối đầu với không gian Màu đen của bầu trời giống như áo giáp kiên cố che phủ cả bầu trời, tạo nên hình ảnh rắn chắc của trận địa Hàng cây mía bị gió cuốn quật mạnh, lá mía quắt lại như đang giáp lá cà với bầu trời đen rộng lớn Đàn kiến gấp rút tìm nơi ẩn náu và nhanh chóng tập hợp thành một đội quân hùng hậu Đội quân kiến nay trở thành lực lượng hỗ trợ cho muôn nghìn cây mía, chống lại người lính mang áo giáp đen.

“Ông trời Mặc áo giáp đen

Ra trận Muôn nghìn cây mía Múa gươm

Kiến Hành quân Đầy đường”

Vào lúc mưa trút xuống và tiếng sấm giòn vang khắp sân, nỗi sợ của biết bao đứa trẻ hiện lên rõ nét khi chúng co ro nép dưới mái hiên Tuy vậy, với nhà thơ, tiếng sấm không còn là hiểm họa mà như một trận cười hả hê, một sự sảng khoái lan tỏa khắp tâm hồn Mưa và sấm trở thành nguồn cảm hứng, biến bầu không khí u ám thành không gian của sự sống và sáng tạo.

“Sấm Ghé xuống sân Khanh khách cười”

Trần Đăng Khoa sử dụng biện pháp nhân hóa để coi thiên nhiên và cảnh vật như những con người sống động, đồng thời thể hiện quan sát tinh tế và cảm nhận sâu sắc của mình Nhờ đó, ông đã tạo ra một thế giới đầy màu sắc, vừa rực rỡ vừa gần gũi và thân thuộc với mọi độc giả, giúp người đọc dễ dàng kết nối và đồng cảm.

2 Trí tưởng tượng phong phú và sự liên tưởng, so sánh đầy kì diệu, độc đáo

Trần Đăng Khoa không nhìn thế giới quanh mình bằng một quan điểm duy nhất, mà luôn liên kết các sự vật, hiện tượng ông chứng kiến với những sự vật hoặc hiện tượng khác có mối quan hệ tương đồng, từ đó làm tăng nét gợi hình và gợi tả cho bài thơ.

“Trăng hồng như quả chín Lửng lơ lên trước nhà Trăng tròn như mắt cá Chẳng bao giờ chớp mi”

(Trăng ơi từ đâu đến?)

Không giống như nhiều nhà thơ mô tả trăng bằng hình tượng tròn đầy như chiếc đĩa bạc, vẫn có người chọn cách tả trăng theo từng thời điểm để phản ánh sự biến đổi của nó qua đêm ngày Cách nhìn này nhấn mạnh rằng trăng không phải một hình ảnh cố định mà là một chu trình liên tục, từ trăng non e ấp đến trăng tròn rực sáng rồi khuyết dần Mỗi giai đoạn gợi lên một cảm xúc và bối cảnh riêng, thể hiện nhịp sống thiên nhiên và tâm trạng con người mỗi lúc đêm xuống Đó là sự đa dạng trong cách tả trăng của các nhà thơ, làm phong phú ý nghĩa và sức sống của thi ca về vầng sáng trên bầu trời đêm.

Mồng một lưỡi trai / Mồng hai lá lúa / Mồng ba câu liêm / Mồng bốn lưỡi liềm

Riêng với Trần Đăng Khoa, ông đã cảm nhận “Trăng” bằng thị giác và khứu giác, trăng hiện lên như một quả hồng chín trước hiên nhà — một thứ có thể nhìn thấy rõ ngay trước mắt và có mùi có vị Theo tâm lý trẻ con, mọi thứ đều nhìn thấy được, đều có thể ăn được và rất quen thuộc, gần gũi; ánh trăng ấy treo lửng lơ trước nhà, với người lớn trăng có vẻ xa xôi còn với lũ trẻ trăng gần ngay mắt.

Qua đôi mắt ngây thơ của đứa trẻ, vầng trăng được nhận diện như một quả bóng bị ai đá lên trời, mở ra những liên tưởng ngộ nghĩnh và tạo nên một tính chất kì diệu cho câu chuyện Từ đó, sức tưởng tượng phong phú được khai thông, khiến nội dung trở nên sinh động và hấp dẫn, đem lại sự thú vị cho người đọc và khơi gợi những hình ảnh, cảm xúc sâu sắc trong mỗi phần văn bản.

“Trăng bay như quả bóng Đứa nào đá lên trời”

Ngoài ra, hình ảnh đạn lửa trong thời kỳ kháng chiến cũng được ví von thành hình ảnh hoa lựu đỏ rực cả khoảng trời.

“Đêm về đạn chú bắn lên Đỏ như hoa lựu trên nền trời xanh”

Sự liên tưởng độc đáo và sáng tạo của Trần Đăng Khoa biến từng câu thơ thành tác phẩm sống động, đầy tính nghệ thuật, với những liên tưởng và tưởng tượng phong phú luôn tạo nên chất lãng mạn kỳ diệu trong thơ ông.

3 Ngôn ngữ giàu âm thanh, nhịp điệu và biểu cảm:

Dễ nhận ra Trần Đăng Khoa yêu thích việc sử dụng từ láy trong thơ, đặc biệt là từ láy tượng thanh và từ láy tượng hình, nhờ đó thơ của ông vừa gợi hình vừa biểu cảm một cách đặc sắc Trong bài thơ Mưa, 11 từ láy được sử dụng để tăng nhịp điệu và sinh động hóa các hình ảnh âm thanh: rối rít, cuồn cuộn, tần ngần, đu đưa, trọc lốc, khô khốc, khanh khách, ù ù, lộp bộp, chồm chồm, hả hê.

“Đầu tiên “nhà thơ” Lộ Tóc đỏ như râu tôm Chưa bước vào đến cửa Đã đọc thơ ồm ồm

Rồi đến “hoạ sĩ” Lập Tai gài chiếc bút lông Tay cầm quả bóng nhựa Vừa đi vừa tung tung”

(Họp báo “Chim họa mi”)

“Ồm ồm” và “tung tung” là các từ láy tượng hình dùng để tả dáng điệu và điệu bộ của chim họa mi Thay vì chỉ dùng từ miêu tả hình dáng bình thường, tác giả chọn các từ láy để diễn tả cách đi, nhịp bước và các cử động đặc trưng của các giống chim này, từ đó tạo nên hình ảnh sống động, giàu nhịp điệu và sắc thái nghệ thuật.

Trong thơ, các từ đơn chỉ màu sắc được nhà thơ ưa chuộng vì khi chúng là từ đơn, tính chất và đặc trưng của sự vật hiện tượng được nói đến mang ý nghĩa khái quát hơn Qua các câu chữ, màu sắc trở thành công cụ khái quát hóa cảm xúc và hiện thực trong thơ của ông Dễ nhận thấy, ba từ đơn chỉ màu sắc được ông dùng nhiều nhất là xanh, vàng và đỏ, thể hiện sự đa dạng của thế giới tự nhiên và cuộc sống Việc lựa chọn màu sắc một cách cô đọng giúp tăng tính nhịp điệu, gợi hình và tạo ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

“Em mang sắc biển về quê đó Sắc biển xanh trên những mái nhà”

“Ông trăng nhìn thấy xôi

Là ông nhoẻn miệng cười Áng chừng ông thích lắm Trăng nở vàng như xôi”

“Kẹo xanh, kẹo đỏ rất nhiều Đứa nào anh cũng chia đều như nhau”

4 Những hình ảnh đẹp sáng tạo độc đáo

Trần Đăng Khoa đặc biệt chú ý học tập những tinh hoa văn hóa truyền thống và đương đại để sáng tạo nên những hình ảnh thơ đẹp, độc đáo; ông dựa vào ca dao, điệu hát quen thuộc và những câu chuyện cổ trong vốn văn hóa dân gian làm nguồn cảm hứng, từ đó hình thành nhiều hình ảnh sống động và giàu biểu đạt Hình tượng Thánh Gióng (trong truyện Thánh Gióng) và Thần trụ trời (trong truyện Thần trụ trời) đã giúp ông sáng tạo ra những hình ảnh rất đẹp trong bài thơ Mưa.

“Ông trời Mặc áo giáp đen

“Bố em đi cày về Đội sấm Đội chớp Đội cả trời mưa”.

Từ một câu đố dân gian về quả dừa:

Mà đeo bụng nước” Đã giúp Trần Đăng Khoa viết rất hay về cây dừa:

"Ai mang nước ngọt, nước lành

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa" Đọc bài thơ “Đám ma bác giun”, ta cũng thấy thấp thoáng bóng những câu ca dao cổ:

“Con cò mắc giò mà chếtCon cua ở nhà mua nến làm chay

Việc sáng tạo hình ảnh con cò trong ca dao là một quá trình học hỏi và vận dụng sâu sắc tinh hoa văn hóa truyền thống để biến thành tiếng nói và phong cách cá nhân, thể hiện một tri thức vững vàng và sự làm việc nghiêm túc vượt lên tính trẻ thơ của một tác giả trẻ Không chỉ tiếp thu những giá trị văn hóa truyền thống, Trần Đăng Khoa còn chăm chú học hỏi từ các tác giả hiện đại và lưu giữ những gì đã đọc để nuôi dưỡng sự độc đáo riêng của mình; ví dụ hình tượng Dế Mèn trong Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài đã giúp ông viết nên những câu thơ nổi tiếng.

"Ao trường vẫn nở hoa sen

Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu"

Hay từ câu thơ của Bàng Bá Lân:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi" Đã gợi ý cho Trần Đăng Khoa sáng tạo ra hình ảnh:

"Mẹ em tát nước, nắng đầy trong khau"

Phân tích tác phẩm minh họa: Bài thơ “Cây dừa”

“Quê hương ơi đẹp lắm những cây dừa Trái xanh ngoài xanh trong trắng”

Bốn mùa nước ngọt lại trong như tấm lòng người dân Việt Nam thủy chung…”

Từ thuở nào mà cây dừa xuất hiện trong đời sống người Việt Nam một cách thân thuộc như vậy? Nhắc đến cây dừa, tức khắc chúng ta lại nhớ đến những áng lúa đồng quê nặng trĩu bông, mé dòng sông nước ngọt là những hàng dừa soi bóng… Cây dừa gắn bó với người nông dân trong những ngày ra đồng, với mảnh đất miền Nam trong khói đạn bom sa, với chân Bác trong gốc sân quen thuộc, với mẹ già trông ngóng chờ đàn con,… Và cũng không thể quên nhân vật quen thuộc với cây dừa là hình bóng của bọn trẻ hồn nhiên, nô đùa Đó là nét đẹp bình dị không thể thiếu trong những buổi chiều muộn Có lẽ, vì cái nhìn ngây thơ ấy, vì cái nét gần gũi thân quen ấy nên Trần Đăng Khoa – “Thần đồng thơ trẻ” đã gửi gắm “Cây dừa” từ tập thơ “Góc sân và khoảng trời” đến với bao thế hệ trẻ em ngày nay Cây dừa ấy hiện lên hết sức ngộ nghĩnh và đáng yêu được bộc lộ qua ánh mắt, qua cảm nhận của một cậu bé chín tuổi.

Vốn là một vật vô tri vô giác, ấy thế mà khi đi vào thơ của Trần Đăng Khoa, cây dừa được thổi hồn tự khi nào mà ta không biết Loại cây quen thuộc ấy bỗng trở nên sinh sộng và dạt dào sức sống hơn bao giờ hết Từ gốc đến ngọn, ngòi bút của cậu bé đã khắc họa lên mỗi chi tiết một cách tỉ mỉ Ắt hẳn, để có được điều đó, tác giả đã phải dùng không chỉ là thị giác mà còn bằng tâm tư, tình cảm của một người nghệ sĩ dành cho thiên nhiên và cho đất nước.

“Cây dừa xanh toả nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng”

Trong hai câu đầu của bài thơ, ta như bắt gặp một người bạn dễ mến, mang tâm hồn phóng khoáng và một thái độ sẵn sàng kết giao với thiên nhiên và vũ trụ Tác giả thể hiện tài năng nhân hóa tinh tế khi biến cây dừa vô tri thành một cái “người” biết dang tay và gật đầu trước mọi mở cửa của thế giới Ngọn lá và thân cây được mô tả như một người trẻ tự do, bay lượn dưới bầu trời, nhưng ở phần thân, cây dừa lại xuất hiện như một người từng trải, mang nhiều trải nghiệm cuộc sống Qua đó, bài thơ gửi gắm sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, và sức sống rộng mở của tâm hồn.

Tháng năm cuộc đời là hành trình của con người Việt Nam lam lũ, chịu thương chịu khó nhưng vẫn giữ được sức khỏe và sức sống tươi trẻ, như hình ảnh quen thuộc từ xưa đến nay Dù thân cây bạc phếch theo thời gian, nó vẫn cho ra những quả dừa sum xuê, đầy ắp, biểu tượng cho sự kiên cường và khả năng sinh trưởng mãnh liệt của người Việt Câu chuyện ấy phản chiếu lòng kiên nhẫn, tinh thần lao động và niềm tin vào tương lai dù trải qua bao thử thách.

Thân dừa bạc phếch tháng năm, quả dừa treo cao như đàn lợn con nằm trên cao Những ngày tháng kết tinh của thời tiết đã làm nên những quả dừa ngọt nước, mát lạnh tỏa hương trên thân cây Nhưng trong mắt trẻ thơ, những quả dừa ấy hiện lên thật đáng yêu, như một “đàn lợn con” ngộ nghĩnh đang ngủ trên cao Chỉ có trẻ em mới có những liên tưởng thú vị và độc đáo đến mức ấy khi ngắm nhìn khu vườn dừa với những quả dừa tuyệt đẹp.

Trần Đăng Khoa, người mang trong mình tình yêu thiên nhiên, dành cho cây dừa một sự quan sát cẩn trọng và đưa những biến đổi của thiên nhiên vào trong thơ Trong đêm đen huyền dịu, vẻ đẹp của cây dừa không bị lu mờ mà ngược lại càng rực rỡ và lung linh như sao trời Trước khi chạm tới dư vị "nước ngọt", "nước lành", Trần Đăng Khoa đã vẽ cho những tàu dừa thành những chiếc lược răng cưa để vuốt ve, vỗ về từng áng mây xanh Những tàu xanh ngát ấy vươn mình hòa vào chân trời và không gian bao la rộng lớn, thỏa sức vui đùa.

“Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh

Ai mang nước ngọt, nước lành

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa”

Không chỉ miêu tả hình dáng, Trần Đăng Khoa tỉ mỉ đến mức ví vị ngọt của đàn lợn con như những hũ rượu mang vị gây nghiện, cho thấy sự tinh tế trong hình ảnh và ngôn từ của tác giả Chi tiết sắc sảo còn gợi hình khi có người treo quanh cổ dừa những chùm bọng nước như một vật trang trí, tạo nên bức tranh sống động và đầy chất thơ Hai câu hỏi tu từ xuất hiện để thể hiện sự thích thú và tò mò của trẻ con, và có lẽ đó cũng là một nét đẹp trong tâm hồn tác giả, phản chiếu nguồn cội và sự nguyên sơ của cuộc sống.

Nhà thơ trẻ này chín chắn vượt tuổi, không chỉ vẽ tranh bằng thơ mà còn có những suy nghĩ sâu sắc và ý nghĩa về cuộc sống Từ góc nhìn của trẻ con, cây dừa có thể chỉ là nơi để rong chơi, nhưng ở đây cây dừa dường như mang lại nhiều lợi ích thực sự cho mọi người.

Tiếng dừa dịu nắng trưa gọi gió đến để dừa múa reo, khiến cả khung trời như được nhạc hoà với tiếng rì rào của gió và những cánh cò bay vào bay ra Đối với nông dân Việt trong những ngày oi ả và vụ đồng áng bận rộn, cây dừa là chỗ dừng chân lý tưởng, che chắn nắng và mang lại sự thư thái giữa nhịp sống đồng quê Từng tán lá hòa cùng gió, tạo ra một điệu múa nhẹ nhàng giữa trời xanh và mây trắng, nơi không khí yên bình làm rung động lòng người Có thể thấy đàn cò cảm nhận được khung cảnh ấy, cùng nhau đánh nhịp "bay vào bay ra" với đàn gió và điệu múa vui tươi của thiên nhiên.

“Đứng cạnh trời đất bao la

Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi”

Vẻ đẹp của cây dừa được cô đọng ở hai câu thơ cuối, khi hình ảnh nó hiện lên thật hùng vĩ giữa trời rộng bát ngát Trong không gian ấy, cây dừa đứng tự tin và uy nghi, như một biểu tượng ngang bằng với đất trời, thể hiện thần thái ung dung bề thế của Trần Đăng Khoa Theo nhà thơ, trời đất dù bao la vẫn là người bạn đồng hành thân thuộc, chỉ cần vươn tay cũng có thể chạm tới những điều giản dị quanh ta Chính sự nhìn nhận bằng ánh mắt của một đứa trẻ đã thổi vào thiên nhiên một luồng sống động, làm cho thơ thêm phần tuyệt vời Quả thật, tài hoa của Trần Đăng Khoa là một ưu thế vượt trội, và hình ảnh cây dừa là chìa khóa mở ra một thế giới thơ ca vừa chân thực vừa mộng mơ.

Trong bài thơ "Cây dừa", Trần Đăng Khoa cho độc giả thấy tài hoa của mình ở cách chơi chữ và sự độc đáo trong việc nhân hóa cùng so sánh, để cây dừa trở nên sống động, vượt khỏi hình ảnh tàu xanh – thân xám Qua ngôn ngữ của cậu bé, cây dừa hiện lên với muôn màu muôn vẻ, tràn đầy sắc thái biểu cảm và tiếng động gợi hình mạnh mẽ Những biện pháp nghệ thuật như nhân hóa và so sánh được kết hợp khéo léo, khiến cây dừa không chỉ là một cây dừa bình thường mà còn mang âm hưởng của cuộc sống và cảm xúc Các từ láy như "đủng đỉnh" và "rì rào" đẩy cao nhịp điệu và gợi thanh cho bài thơ, như một nốt nhạc son thấm đẫm tiếng lòng của tác giả Với ngòi bút tài hoa, Trần Đăng Khoa đã thành công trong việc làm nổi bật hình bóng cây dừa trong mắt trẻ thơ và làm nó trở nên thơ mộng trong ký ức của hàng ngàn trẻ em cũng như sâu lắng trong tim người Việt Nam.

Những áng văn của Trần Đăng Khoa để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn người đọc bằng cái nhìn tinh tế và nhạy bén về sự hồn nhiên của đứa trẻ, giúp ta cảm nhận vẻ đẹp của ký ức tuổi thơ và những cảnh tình xưa không thể trộn lẫn với bất kỳ thi nhân nào khác Theo nhận định của nhà văn Đình Kính, thơ Trần Đăng Khoa vẫn là một miền riêng, không trộn lẫn, tương tự như nhạc Trịnh Công Sơn: khi giai điệu được cất lên, dù ở đâu, người ta vẫn nhận ra chất nhạc riêng của một người.

Một số bài thơ của Trần Đăng Khoa

Nhà em treo ảnh Bác Hồ và phía trên là lá cờ đỏ tươi, tạo nên một không gian vừa trang nghiêm vừa ấm áp cho gia đình Ngày ngày Bác Hồ mỉm nụ cười hiền từ, nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà Ở ngoài sân có vài con gà, mang lại nhịp sống quen thuộc và bình yên cho khuôn viên.

Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi

Em nghe như Bác dạy lời Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa Trồng rau, quét bếp, đuổi gà Thấy tàu bay Mỹ nhớ ra hầm ngồi

Bác lo bao việc trên đời Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em

Có ai se sẽ ngồi xuống đầu giường Đưa bàn tay mát như kem sữa Xoa lên trán em đang dịu lửa Vuốt lên mắt em đang bớt mờ

Bác mặc tấm áo ka ki Bàng bạc sương rừng Pắc Bó Trán Bác có ngôi sao

Thảo nàoBác đi đêm không lạcBác cười rung rung chòm râu

Mắt Bác sao mà thương thế

Tóc Bác thơm lừng gió bể

Bác cho em nhiều quà

Và khen dạo này em béo khỏe

Cúc áo em bị đứt từ chiều Đêm phanh ra, hở ngực

Bác đắp vào cho em

Rồi Bác ra rất êm

Em bỗng oà lên khóc

Tỉnh dậy thấy ướt đầm mái tóc

Nhìn xem Bác có đâu đây

Chỉ thấy đầy trời đèn sáng, mưa bay

Người người lặng im đi viếng Bác

Bóng đèn rưng rưng nước mắt Đúng rồi

Bệnh viện em vừa truy điệu Bác chiều nay

Nhưng Bác chỉ yên nghỉ ban ngày

Chứ ban đêm là Bác rời linh cữu

Bác chào chú đứng gác

Rồi đi vòng quanh khắp trên thế giới Để chăm sóc trẻ con

Nhất là đứa nào phải nằm trong bệnh viện

Viện Mắt - phố Bà Triệu, đêm 9-9-1969

Thầy ngồi ghế giảng bài

Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ

Một bàn chân đâu rồi

Sáng nào bom Mỹ dội

Phượng đổ ngổn ngang, mái trường tốc ngói

Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi

Thầy cầm súng ra đi

Bài tập đọc dạy chúng em dang dở

Hoa phượng cháy một góc trời như lửa

Năm nay thầy trở về

Nụ cười vui vẫn nguyên vẹn như xưa

Nhưng một bàn chân không còn nữa Đôi bàn chân Ôi bàn chân

In lên cổng trường những chiều giá buốt

In lên cổng trường những đêm mưa dầm

Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo

Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo

Như nhận ra cái chưa hoàn hảo

Của cả cuộc đời mình

Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh

Hay Tây Ninh, Đồng Tháp?

Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc

Cho lẽ sống làm người

Em lắng nghe thầy giảng từng lời

Rung động bao điều suy nghĩ

Nghe thầm vọng bàn chân đi đánh Mỹ

Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường

Em đi suốt chiều dài yêu thương

Theo những dấu chân người thầy năm trước

Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất

Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời

Lúa rơm tạm thu gọn lại

Màn phông căng đỏ sân đình Điện xanh vòm đa cổ thụ

Người xem đông như mít tinh

Xóm làng như xóm làng xưa

Trong tiếng trống chèo sâu vợi

Tiếng mõ đưa hương hoa đại

Len dần vào mọi tâm tư

Kìa cô Thị Mầu lên chùa Đỏng đảnh dáng đi, mắt liếc

Ngắm cái tay cô phẩy quạt

Tưởng mình sống đã trăm năm

Người xem thoáng như quên chị

Chiều nay gánh lúa trên đồng

Tần tảo nuôi em, nuôi mẹ

Mười năm ròng rã chờ chồng

Gửi theo các chú bộ đội

Cháu nghe chú đánh những đâu

Những tàu chiến cháy, những tàu bay rơi Đến đây chỉ thấy chú cười

Chú đi gánh nước, chú ngồi đánh bi

Rồi từ nhà cháu chú đi

Lúa chiêm vào mẩy, chim ri bay về

Nghiêng nghiêng buồng chuối bên hè

Rặng tre, bãi mía bốn bề vẫy theo

Chú qua bao suối bao đèo Đến nay chắc đã thêm nhiều chiến công

Ngoài này cháu đứng cháu trông

Những đêm súng nổ, lửa hồng chân mây

Cháu về lớp cũ tường xây

Thông hào luồn dưới bóng cây xanh rờn

Chú đi phá nốt bốt đồn

Cuối trời còn giặc, chú còn ra đi

Vẫn mong ngày chú trở về

Lại ngồi với cháu bên hè đánh bi

Em trồng cây lựu xanh xanh

Cuốc kêu chưa dứt mà cành đầy hoa

Hoa lựu như lửa lập lòe

Nhớ khi em tưới, em che hàng ngày

Nhớ khi mưa lớn, gió lay

Em mang que chống cho cây cứng dần

Trưa nay bỗng thấy ve ngân

Ve ngân trưa nắng, quả dần vàng tươi

Em ăn thấy nó ngọt bùi

Tặng chú bộ đội, chú cười với em Đêm về đạn chú bắn lên Đỏ như hoa lựu trên nền trời xanh

Hà Nội có Bác Hồ

Em chưa về Hà Nội

Nhưng đêm đêm nghe cơn gió mới

Về gò thiêng Đống Đa

Về chiếc cầu sắt bắc trên những mái nhà

Xe lửa và ô tô đi không gãy

Về nước hồ Gươm xanh như một mảnh trời

Ngọc Hoàng đánh rời xuống đấy!

Về ngôi nhà Bác ở giữa Ba Đình

Bóng Bác bên cây vú sữa

Trưa nay đài bỗng đưa tin

Giặc Mỹ ném bom Hà Nội

Tiếng loa dội từ mái ngói

Từ bờ vùng mới đắp

Tiếng loa dậy lên từ đất

Tiếng loa dội xuống từ trời

- Thằng giặc Mỹ ném bom Hà Nội rồi

Hà Nội có Bác Hồ đang ở

Mẹ em nấu cơm giụi lửa

Bố em họ trâu giữa đường cày

Ngừng giảng bài giữa lớp

Bạn Tĩnh, bạn Nho, bạn Lập

Bạn nào mắt cũng đỏ hoe

Bé Giang ngồi ở đầu hè

Cũng thôi đánh chuyền đánh, chắt.

Tiếng loa dậy lên từ đất

Tiếng loa dội xuống từ trời

- Thằng giặc Mỹ ném bom Hà Nội rồi

Hà Nội có Bác Hồ đang ở

Tiếng trống gọi ngoài trụ sở

Tiếng ho dội từ mái ngói

- Đà đảo giặc Mỹ xâm lược! Đà đảo giặc Mỹ xâm lược!

Người người kéo ra đồng

Viên đạn bỗng nhiên nóng bỏng

Tên lửa lóa nắng trời

Các chú bộ đội ơi!

Các chú bộ đội ơi!

Thằng giặc Mỹ nó ném bom Hà Nội rồi!

Hà Nội có Bác Hồ đang ở.

Lấp lóe lửa chài - sao hiện ra

Mây bay lóng lánh - cánh buồm xa

Em mang sắc biển về quê đó

Sắc biển xanh trên những mái nhà

Rối rít tìm nơi Ẩn nấp Ông trời

Bế lũ con Đầu tròn

Bố em đi cày về Đội sấm Đội chớp Đội cả trời mưa

Sao không về Vàng ơi?

Tao đi học về nhà

Là mày chạy xồ ra Đầu tiên mày rối rít

Cái đuôi mừng ngoáy tít

Rồi mày lắc cái đầu

Khịt khịt mũi, rung râu

Rồi mày nhún chân sau

Chân trước chồm, mày bắt

Bắt tay tao rất chặt

Thế là mày tất bật Đưa vội tao vào nhà

Dù tao đi đâu xa

Cũng nhớ mày lắm đấy

Hôm nay tao bỗng thấy

Cái cổng rộng thế này!

Vì không thấy bóng mày

Nằm chờ tao trước cửa

Không nghe tiếng mày sủa

Như những buổi trưa nào

Không thấy mày đón tao

Cái đuôi vàng ngoáy tít

Cái mũi đen khịt khịt

Mày không bắt tay tao

Tay tao buồn làm sao!

Sao không về hả chó?

Nghe bom thằng Mỹ nổ

Mày bỏ chạy đi đâu?

Tao chờ mày đã lâu

Cơm phần mày để cửa

Sao không về hả chó?

Tao nhớ mày lắm đó

Vàng ơi là Vàng ơi!

Trăng sáng sân nhà em Ông trăng tròn sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em

Trăng khuya sáng hơn đèn Ơi ông trăng sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em

Hàng cây cau lặng đứng

Hàng cây chuối đứng im

Con chim quên không kêu

Con sâu quên không kêu

Chỉ có trăng sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em

Trăng khuya sáng hơn đèn Ơi ông trăng sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em

Tay em cầm một cành đào

Ngày mồng một tết, chúng em vào thăm anh

Các anh ở giữa đồng xanh

Giơ tay ra đón, các anh cùng cười

Cành đào em tặng rất tươi

Thấy các anh khỏe, các anh cười, em yêu

Kẹo xanh, kẹo đỏ rất nhiều Đứa nào anh cũng chia đều như nhau Đứa nào anh cũng xoa đầu Đứa nào anh cũng bế lâu trong lòng

Khẩu pháo nó đứng nó trông

Chú ta cũng muốn kẹo hồng, kẹo xanh

Con cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về

Khi cơn mưa đen rầm đằng đông

Khi cơn mưa đen rầm đằng tây

Khi cơn mưa đen rầm đằng nam, đằng bắc

Bay ra đón cơn mưa

Cây lúa mừng vui phất cờ

Dây khoai nảy xanh lá mới

Cau xòe tay hứng giọt mưa rơi Ếch nhái uôm uôm mở hội

Trên cành cây Đến khi cơn mưa lại đen rầm đằng đông, đằng tây Đến khi cơn mưa lại đen rầm đằng nam, đằng bắc

Họp báo: “Chim họa mi”

Chiều nay “Toà soạn” họp Ở nhà bạn Thuý Giang

Chủ nhà đã sẵn sàng

Ngả ra con lợn béo Đầu tiên “nhà thơ” Lộ

Tóc đỏ như râu tôm

Chưa bước vào đến cửa Đã đọc thơ ồm ồm

Rồi đến “hoạ sĩ” Lập

Tai gài chiếc bút lông

Tay cầm quả bóng nhựa

Vừa đi vừa tung tung

Cuối cùng, “nhà báo” Tĩnh Đánh một chiếc quần đùi

Anh chàng vừa đi hôi

Tay còn tanh mùi cá

Mấy “nhà” ngồi xuống đất

Bàn ra báo ngày mai

Nhà thơ” thì nói ngắn

Nhà báo” thì nói dài

Chưa bàn xong công việc

Chủ nhà đã bưng lên

Toàn là chả với nem:

Những khoanh khoai lang luộc!

Thấy ụ pháo giữa đồng quê

Bao nhiêu khẩu pháo đều rê rê nòng

Pháo vươn theo ngọn cờ hồng

Trong tay một chú vẫy trong nắng chiều

Nòng pháo bỗng nhiên dừng lại

Bao nhiêu cái mũ lắng nghe

Xa xa từ một ngọn tre

Tiếng chim chích choè đang hót Đất trời sáng lắm hôm nay

Bác ơi! Cháu đến đây rồi

Ba Đình phượng đỏ, một trời tiếng ve

Cháu nghe Hà Nội vào hè

Hồ Gươm nước biếc, bốn bề hoa tươi

Sang năm Bác tám mươi rồi

Bác ơi! Bác thấy trong người khỏe không?

Hàng ngày chúng cháu ước mong

Bác vui, Bác khỏe là lòng cháu vui

Bác lo nghĩ suốt một đời Để cho chúng cháu vui chơi từng ngày Đất trời sáng lắm hôm nay

Cháu nhìn mái ngói bóng cây bồi hồi

Bác ơi! Cháu đến đây rồi

Xanh trên nhà Bác vẫn trời mùa thu

Góc sân và khoảng trời

Góc sân nho nhỏ mới xây

Chiều chiều em đứng nơi này em trông

Thấy trời xanh biếc mênh mông

Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy

Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai

Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo

Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm

Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ vườn

Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng

Sớm mẹ về, thấy khoai đã chín

Buổi mẹ về, gạo đã trắng tinh

Trưa mẹ về, cơm dẻo và ngon

Chiều mẹ về, cỏ đã quang vườn

Tối mẹ về, cổng nhà sạch sẽ

Mẹ bảo em: Dạo này ngoan thế!

- Không mẹ ơi! Con đã ngoan đâu Áo mẹ mưa bạc màu Đầu mẹ nắng cháy tóc

Mẹ ngày đêm khó nhọc

Con chưa ngoan, chưa ngoan!

Buổi sáng nhà em Ông trời nổi lửa đằng đông

Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay

Bố em xách điếu đi cày

Mẹ em tát nước, nắng đầy trong khau

Cậu mèo đã dậy từ lâu

Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng

Mụ gà cục tác như điên

Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi

Cái na đã tỉnh giấc rồi Đàn chuối đứng vỗ tay cười, vui sao!

Chị tre chải tóc bên ao

Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương

Bác nồi đồng hát bùng boong

Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà

Em thường rải cái nong

Ra góc sân ngồi học

Những đêm có trăng mọc

Em chơi cho đến khuya

Thường là xỉa cá mè

Hay làm mèo đuổi chuột

Những lúc mưa sậm hột

Em bắt cái vòi cau

Chảy vào giữa chum sâu

Khi trời râm em vẽ

Vẽ cô tiên lặng lẽ

Rải hoa trên bầu trời

Thế là bao đồng lúa

Cứ chín vàng, vàng tươi

Ngày đăng: 10/12/2022, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w