1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT và đạo đức báo CHÍ đề tài tầm QUAN TRỌNG của PHÁP LUẬT với HOẠT ĐỘNG QUẢNG cáo

36 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Pháp Luật Và Đạo Đức Báo Chí Đề Tài Tầm Quan Trọng Của Pháp Luật Với Hoạt Động Quảng Cáo
Tác giả Nguyễn Thu Giang
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Thùy Vân Anh
Trường học Học Viện Báo Chí Và Tuyên Truyền
Chuyên ngành Truyền Thông
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 555,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quảng cáocho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải đảm bảo các điều kiện theo quyđịnh của pháp luật.Các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo bao gồm: Quảng cáo làm tiết lộ bí mật

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH

-TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ

Lớp hành chính: TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ K41

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: CÔ NGUYỄN THÙY VÂN ANH

Hà Nội, tháng 5 – năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 2 3 4 5 Tính cấp thiết của đề tài: 3

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

Phương pháp nghiên cứu: 4

Kết cấu: 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO VÀ PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO 6

1 2 Quảng cáo: 6

Pháp luật về quảng cáo – Luật Quảng cáo năm 2012: 8

CHƯƠNG II: TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 14

1 2 3 4 Quản lý hoạt động quảng cáo: 14

Ghi nhận những mối quan hệ xã hội trong hoạt động quảng cáo: 18

Đảm bảo sự phát triển của quảng cáo: 21

Bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, doanh nghiệp, tổ chức: 25

CHƯƠNG III: MỘT SỐ VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO 30

1 Vụ việc công ty nệm V.N quảng cáo phản cảm trên tàu metro Cát Linh – Hà Đông 30

2 Hà Nội xử phạt đơn vị treo biển quảng cáo Coca-Cola 31

Dược phẩm Hoàng Hường bị xử phạt vì vi phạm quảng cáo: 32

3 KẾT LUẬN 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Quảng cáo là một hình thức cơ bản của tiếp thị, một trong những khíacạnh của truyền thông đại chúng, nó góp phần liên quan đến đạt được sự quantâm đối với doanh nghiệp của bạn, đối với sản phẩm hay dịch vụ đang đượccung cấp Trên thực tế, nó xây dựng thương hiệu thông qua giao tiếp hiệu quả

và bản chất là một công nghiệp dịch vụ Quảng cáo là một thành phần củaquá trình tiếp thị, giúp tạo ra nhu cầu, thúc đẩy hệ thống tiếp thị và thúc đẩytăng trưởng kinh tế Thị trường tiêu dùng vẫn luôn tồn tại sự cạnh tranh giữacác thương hiệu, bởi mỗi ngày, trên cả nước có vô vàn những thương hiệumới ra đời Mục tiêu của quảng cáo không chỉ là để đưa ra thông tin về sảnphẩm của các nhãn hàng, mà còn là để thúc đẩy hình ảnh thương hiệu, khiếnhình ảnh đó tốt hơn hình ảnh của đối thủ cạnh tranh Có thể nói, quảng cáo vàthị trường ngày nay phát triển song hành theo tốc độ ổn định, đã tạo ra nhiềubước tiến lớn Điều này vừa là thuận lợi, cũng vừa là thách thức cho hoạtđộng quảng cáo, bởi thời đại công nghệ 4.0 kéo theo sự xuất hiện của cáchình thức quảng cáo mới, đặc biệt phải kể đến quảng cáo trên các nền tảngmạng xã hội; đòi hỏi luật pháp cần quản lý thật chặt chẽ và nghiêm chỉnh, bởimột khi quảng cáo với nội dung sai lệch được phát tán rầm rộ sẽ gây nguy hạiđến không chỉ khán giả, thương hiệu mà đôi khi còn là nhà nước

Ở mỗi quốc gia trong thời đại ngày nay, dù ít dù nhiều, bắt buộc phải cómột hệ thống pháp lý để quản lý quảng cáo Hệ thống pháp luật Việt Nam đã

có nhiều thay đổi nhằm điều chỉnh và quản lý hoạt động quảng cáo trong nềnkinh tế thị trường Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng vẫn còn tồn tại rấtnhiều những “tấm gương xấu” đi ngược lại với pháp luật và đạo đức quảngcáo

Trang 4

Từ năm 1990, Chính phủ nước ta đã ban hành các văn bản điều chỉnh hoạtđộng quảng cáo, nhưng phải cho tới năm 2012, Luật Quảng cáo đầu tiên mới

ra đời và được đánh giá là một văn bản quy định tương đối toàn diện về hoạtđộng quảng cáo, Luật Quảng cáo năm 2012 có vai trò rất lớn trong quản lýhoạt động quảng cáo; ghi nhận những mối quan hệ xã hội trong hoạt độngquảng cáo; đảm bảo cho sự phát triển quảng cáo; bảo vệ lợi ích của người tiêudùng, doanh nghiệp, tổ chức Pháp luật về quảng cáo là cơ sở pháp lý điềuchỉnh nội dung, hình thức của hoạt động quảng cáo, bao gồm tất cả các hoạtđộng quảng cáo trên bất cứ phương tiện nào, có mục đích sinh lời hoặc khôngsinh lời Thông qua những quy định cụ thể về những hành vi được phép vàkhông được phép thực hiện, Nhà nước thể hiện sự quản lý của mình để hạnchế và tránh tình trạng lộn xộn trong hoạt động quảng cáo Từ đó, các đốitượng liên quan sẽ phải tìm hiểu để biết, hiểu, thực hiện theo đúng quy địnhcủa pháp luật

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề của pháp luật về quảng cáo ở ViệtNam, phạm vi nghiên cứu là từ khi Luật Quảng cáo năm 2012 được ban hànhcho đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu:

Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản: phươngpháp tổng hợp, phân tích, khái quát hóa để có thể đánh giá pháp luật về quảngcáo một cách chính xác

Trang 5

5 Kết cấu:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungtiểu luận gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật quảng cáo

Chương 2: Tầm quan trọng của pháp luật quảng cáo với hoạt động quảng cáo Chương 3: Một số ví dụ điển hình về vi phạm pháp luật quảng cáo

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO VÀ PHÁP LUẬT

QUẢNG CÁO Quảng cáo:

1

1.1 Khái niệm:

Theo Khoản 1, Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012, “quảng cáo” là việc sửdụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức,

cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự;chính sách xã hội; thông tin cá nhân

Điều 102 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định về quảng cáo

thương mại như sau: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mạicủa thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hànghóa, dịch vụ của mình Như vậy, hiện đang tồn tại hai khái niệm quảng cáo, đó làquảng cáo và quảng cáo thương mại, suy cho cùng, bản chất của hoạt động

quảng cáo là việc giới thiệu hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhằm thuhút và gây sự chú ý của khách hàng thông qua sản phẩm quảng cáo”

Sản phẩm quảng cáo bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thể hiệnbằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng vàcác hình thức tương tự,

Quảng cáo là hình thức truyền thông tiếp thị hữu hiệu nhất và phổ biến nhất

Nó là một lĩnh vực có thể ảnh hưởng đến nhận thức xã hội bởi độ phủ sóng cao

và tần suất xuất hiện dày đặc trên đường phố, truyền hình, mạng xã hội, báo chí,radio,… Do đó, dù không có chủ ý tiếp nhận, khán giả vẫn bị tác động bởi quảngcáo

Như vậy, để có thể đảm bảo tính thống nhất, trung thực, chính xác và bảo vệquyền lợi hợp pháp của người quảng cáo cũng như người tiêu dùng, góp phần

Trang 7

góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, giữ gìn thuần phong mỹ tục, bảo tồn vàphát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm an ninh, trật tự trong thời kỳ mở cửa

và hội nhập, Nhà nước đã tạo lập một khung khổ pháp luật rõ ràng, minh bạchcho các hoạt động quảng cáo, cho dù là những hoạt động quảng cáo không mangtính thương mại (không có mục đích sinh lời)

1.2 Đặc điểm:

Thứ nhất, quảng cáo là hình thức truyền thông phải trả tiền Theo đó, bênmuốn sử dụng dịch vụ quảng cáo buộc phải bỏ ra một số tiền nhất định cho việctruyền bá thông tin về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp tổ chức tới côngchúng;

Thứ hai, quảng cáo mang tính chất đơn phương Tính đơn phương thể hiện ởviệc chỉ có thông tin một chiều từ bên quảng cáo chứ không có thông tin từ bênnhận quảng cáo;

Thứ ba, quảng cáo không dành riêng cho cá nhân nào Đối tượng mà nó

hướng tới là tất cả mọi người, vì mục đích của quảng cáo là quảng bá tới càngnhiều đối tượng càng tốt Chính vì không giới hạn đối tượng, pháp luật đã quyđịnh một số trường hợp hạn chế quảng cáo và cấm quảng cáo để tránh tạo ảnhhưởng xấu đến dân chúng;

Thứ tư, quảng cáo buộc phải qua trung gian Trung gian ở đây là đài truyềnhình, cơ quan báo chí, băng rôn, biển quảng cáo,… Doanh nghiệp, tổ chức hay

cá nhân có thể sử dụng bất cứ một hình thức trung gian nào hoặc tất cả các hìnhthức nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá

1.3 Vai trò của hoạt động quảng cáo:

Thứ nhất, quảng cáo có vai trò truyền tải thông tin, là phương tiện, cầu nốigiữa nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng Quảng cáo không chỉ dừng ởviệc thông báo đến người mua về sự tồn tại của hàng hóa, dịch vụ mà họ cần Nócòn có nhiệm vụ làm cho người mua lựa chọn và quyết định mua một loại hàng

Trang 8

hóa, dịch vụ vừa ý nhất giữa vô vàn loại hàng hóa, dịch vụ có tính năng, côngdụng tương tự có mặt trên thị trường Nhận biết và ghi nhớ chỉ là yếu tố bướcđầu, quảng cáo hướng đến hành động mua hàng cụ thể của người tiếp nhận

quảng cáo Chỉ khi đó, mục đích, lợi nhuận của thương nhân là người quảng cáomới có thể đáp ứng

Thứ hai, quảng cáo có vai trò thúc đẩy thương mại, phát triển kinh tế - xã hội.Thương nhân nhờ hoạt động quảng cáo có thể bán được nhiều sản phẩm hơn, thuđược lợi nhuận tái đầu tư sản xuất Quảng cáo thúc đẩy hành vi mua hàng hóa,dịch vụ của người tiêu dùng và từ đó thúc đẩy phát triển kinh doanh Pháp luậtđiều chỉnh quảng cáo một mặt nhằm đảm bảo tính chính xác, trung thực để hoạtđộng xúc tiến thương mại có hiệu quả, mặt khác lại phải có chỗ cho những ýtưởng sáng tạo, phù hợp với những đặc trưng của loại hình thông tin này

Thứ ba, quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong việc đem lại lợi ích trongthực hiện mục tiêu chính trị, xã hội Các hình thức quảng cáo chính trị hay quảngcáo xã hội được coi là hoạt động tuyên truyền, thông tin đơn thuần nhằm phục vụchức năng, nhiệm vụ của Nhà nước hay các tổ chức khác Các quảng cáo phi lợinhuận, chẳng hạn như quảng cáo chính trị phục vụ bầu cử hay quảng cáo vậnđộng cho một chương trình xã hội, chỉ thực hiện trong một thời điểm, một thờihạn xác định

2 Pháp luật về quảng cáo – Luật Quảng cáo năm 2012:

.1 Khái niệm:

2

Pháp luật về quảng cáo có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật doNhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản

lý hoạt động quảng cáo, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp

tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế thực hiện bằng các cơ quan c hức năngtrong bộ máy nhà nước

Trang 9

Ngày 21/06/2012, Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số

51/2001/QH10, Quốc hội đã ban hành Luật Quảng cáo Luật có hiệu lực thi hành

từ 01/01/2013, thay thế Pháp lệnh Quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 ngày6/11/2001

1

2.2 Nội dung Luật Quảng cáo năm 2012:

Luật Quảng cáo năm 2012 gồm 05 chương:

Chương I: Những quy định chung;

Chương II: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo;Chương III: Hoạt động quảng cáo;

Chương IV: Quảng cáo có yếu tố nước ngoài;

Chương V: Điều khoản thi hành

Các nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, điều chỉnh tổng thể về hoạt động quảng cáo:

Sản phẩm quảng cáo bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thểhiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng

và các hình thức tương tự; được thực hiện thông qua thời gian phát sóng các sảnphẩm quảng cáo trong một kênh, chương trình phát thanh, truyền hình hoặc phầnthể hiện các sản phẩm quảng cáo trên mặt báo in, báo hình, báo điện tử, trangthông tin điện tử, xuất bản phẩm, bảng quảng cáo, phương tiện giao thông hoặctrên các phương tiện quảng cáo tương tự

Quảng cáo có thể được thực hiện trên các phương tiện như: báo chí; các trangthông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thôngkhác; các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác; bảngquảng cáo, băng rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo; các

phương tiện giao thông và các phương tiện quảng cáo khác theo quy định củapháp luật

Trang 10

Nội dung quảng cáo phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gâythiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo Về điềukiện, quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải có giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh Quảng cáo cho các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụphải có các tài liệu chứng minh về sự hợp chuẩn, hợp quy của sản phẩm, hànghóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật Quảng cáo tài sản mà pháp luật quyđịnh tài sản đó phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thìphải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản Quảng cáocho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải đảm bảo các điều kiện theo quyđịnh của pháp luật.

Các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo bao gồm: Quảng cáo làm tiết

lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia ; quảng cáothiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹtục Việt Nam; quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giaothông, an toàn xã hội; quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối vớiQuốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa,lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phânbiệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về ngườikhuyết tật; quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cánhân; quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưađược cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép; quảng cáokhông đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sảnphẩm, hàng hóa, dịch vụ, về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng…theo nội dung đã đăng ký hoặc đã được công bố; quảng cáo bằng việc sử dụngphương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác; quảng cáo có nội dung

Trang 11

cạnh tranh không lành mạnh ; quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ;quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, gâyảnh hưởng xấu sự phát triển bình thường của trẻ em…

Bên cạnh đó, pháp luật về quảng cáo cũng nghiêm cấm các hành vi ép buộc

cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ýmuốn; treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tínhiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng; đặc biệt, đối với quảng cáo có sửdụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩatương tự, bắt buộc phải có tài liệu hợp pháp kèm theo để chứng minh được bảnchất “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” của sản phẩm

Thứ hai, quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động

quảng cáo:

Các chủ thể chủ yếu tham gia quan hệ quảng cáo bao gồm:

(i) Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm,

hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó;

(ii) Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một,một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cungứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo;

(iii) Người phát hành quảng cáo là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện quảng cáothuộc trách nhiệm quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến côngchúng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, chủ trang thông tin điện tử,người tổ chức chương trình văn hóa, thể thao và tổ chức, cá nhân sử dụng

phương tiện quảng cáo khác;

(iv) Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo là người trực tiếp đưa các sản phẩmquảng cáo đến công chúng hoặc thể hiện sản phẩm quảng cáo trên người thôngqua hình thức mặc, treo, gắn, dán, vẽ hoặc các hình thức tương tự;

Trang 12

(v) Người tiếp nhận quảng cáo là người tiếp nhận thông tin từ sản phẩm quảngcáo thông qua phương tiện quảng cáo.

Pháp luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo, ngườikinh doanh dịch vụ quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảngcáo

(i) Quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo:

Người quảng cáo có quyền quảng cáo về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hànghóa, dịch vụ của mình; quyết định hình thức và phương thức quảng cáo và được

cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạchquảng cáo ngoài trời đã phê duyệt;

Bên cạnh các quyền, người quảng cáo có nghĩa vụ phải cung cấp cho ngườikinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo thông tin cầnthiết, trung thực, chính xác về cơ quan, tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa,dịch vụ, các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo và chịu trách nhiệm vềcác thông tin đó; bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp vớinội dung quảng cáo; chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình trongtrường hợp trực tiếp thực hiện quảng cáo trên các phương tiện; liên đới chịutrách nhiệm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện;cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảngcáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; thực hiện quyền và nghĩa vụkhác theo quy định của pháp luật

(ii) Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo:

Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có quyền quyết định hình thức và

phương thức kinh doanh dịch vụ quảng cáo; được người quảng cáo cung cấpthông tin

trung thực, chính xác về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đượcquảng cáo và các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo; được tham gia ý

Trang 13

kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch quảng cáo của địa phương và được cơquan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảngcáo ngoài trời;

Bên cạnh các quyền, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có nghĩa vụ phảihoạt động theo đúng phạm vi, lĩnh vực đã được quy định trong giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh và tuân thủ quy định của pháp luật về quảng cáo; thực hiệnkiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo của tổ chức, cá nhân, sảnphẩm, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo và thực hiện thủ tục có liên quan theohợp đồng dịch vụ quảng cáo; chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mìnhtrực tiếp thực hiện; phải cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khingười tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; thựchiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

(iii) Quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo:

Người phát hành quảng cáo được quảng cáo trên phương tiện của mình và thuphí dịch vụ theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm kiểm tra các tài liệu liênquan đến điều kiện quảng cáo của khách hàng, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cầnquảng cáo; có trách nhiệm cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáokhi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Thứ ba, xác định rõ trách nhiệm và nội dung quản lý của nhà nước với hoạt động quảng cáo:

Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý đối với hoạt động quảng cáo quy định

rõ chính sách đối với hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo, tạo điều kiện để họ pháttriển các loại hình và nâng cao chất lượng quảng cáo; khuyến khích các tổ chức,

cá nhân nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại vào việc thiết kế,

Trang 14

xây dựng sản phẩm quảng cáo, đầu tư có hiệu quả vào quảng cáo; tạo điều kiện

và khuyến khích phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động quảng cáo…

Nhà nước có trách nhiệm ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quyphạm pháp luật về hoạt động quảng cáo; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển, phổ biến, giáo dục pháp luật vềhoạt động quảng cáo Đặc biệt, thường xuyên thực hiện thanh tra, kiểm tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhànước về hoạt động quảng cáo Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và

Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo Ủy ban nhân dâncác cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo trong phạm vi địaphương theo thẩm quyền

CHƯƠNG II: TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO

VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO

1 Quản lý hoạt động quảng cáo:

Nội dung quản lý hoạt động quảng cáo của Nhà nước được quy định trongĐiều 4 và Điều 5 – Luật Quảng cáo năm 2012, trong đó:

Điều 4: Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo

1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt độngquảng cáo

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển hoạt động quảng cáo

Phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động quảng cáo

2

3

Trang 15

4 Chỉ đạo hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong hoạt độngquảng cáo.

Chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho hoạtđộng quảng cáo

5

6

7

8

Tổ chức thực hiện công tác khen thưởng trong hoạt động quảng cáo

Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quảng cáo

Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạtđộng quảng cáo

Điều 5: Trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo:

1

2

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo

3 Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có tráchnhiệm phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước

về hoạt động quảng cáo

4 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáotrong phạm vi địa phương theo thẩm quyền

Thông qua hai điều khoản trên, nhà nước thể hiện sự quản lý chặt chẽ củamình để hạn chế và phòng tránh tình trạng lộn xộn trong hoạt động quảng cáo.Điều 4 quy định các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáonhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng quảng cáo cũng như năng lực của nhânlực hoạt động quảng cáo; điều 5 quy định trách nhiệm của nhà nước đối với hoạtđộng quảng cáo, trong đó phân chia rõ ràng nghĩa vụ, quyền hạn của các cơ quantrong việc quản lý lĩnh vực này Từ đó, các đối tượng liên quan sẽ phải tìm hiểu

để biết, hiểu và thực hiện theo quy định của pháp luật

Luật còn quy định rõ ràng những sản phẩm không được quảng cáo sau nhằmđảm bảo trật tự an ninh, an toàn xã hội:

Trang 16

khi có phát sinh trên thực tế.

Trong hoạt động quảng cáo cũng không được thực hiện những hành vi sau:– Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 7 của Luậtnày

– Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyềnquốc gia, an ninh, quốc phòng

– Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức,thuần phong mỹ tục Việt Nam

Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, antoàn xã hội

Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy,

Trang 17

– Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cánhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng–

cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản

phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng,bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hànhcủa sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố

– Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chấtlượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chấtlượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cánhân khác

– Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc

từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quyđịnh của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của phápluật về cạnh tranh

Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ

Quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức,thuần phong mỹ tục; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triểnbình thường của trẻ em

– Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảngcáo trái ý muốn

Treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu–

giao thông và cây xanh nơi công cộng

Sự quản lý của pháp luật trong hoạt động quảng cáo góp phần đảm bảo tínhtrung thực, chính xác, có văn hóa, có tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nộidung quảng cáo Bằng các chế tài cụ thể, nhà nước kiểm soát các thông tin được

Trang 18

đưa lên phương tiện truyền thông đại chúng với mục đích đảm bảo thông tintrung thực, chống quảng cáo gian dối hoặc gây tác động xấu cho xã hội.

2 Ghi nhận những mối quan hệ xã hội trong hoạt động quảng cáo:

Nội dung được quy định xuyên suốt trong Chương II: Quyền và nghĩa vụ của

tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo – Luật Quảng cáo năm 2012:

Điều 12 Quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo

1 Người quảng cáo có các quyền sau:

a) Quảng cáo về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình;

b) Quyết định hình thức và phương thức quảng cáo;

c) Được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quyhoạch quảng cáo ngoài trời đã phê duyệt;

d) Yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo

2 Người quảng cáo có các nghĩa vụ sau:

a) Cung cấp cho người kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc người phát hànhquảng cáo thông tin cần thiết, trung thực, chính xác về cơ quan, tổ chức, cá nhân,sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo vàchịu trách nhiệm về các thông tin đó;

b) Bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nội dung quảngcáo;

c) Chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình trong trường hợp trực tiếpthực hiện quảng cáo trên các phương tiện; liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩmquảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện;

d) Cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận

quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu

3 Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Điều 13 Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo

Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có các quyền sau:

1

Ngày đăng: 10/12/2022, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w