DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ANQG An ninh quốc gia ANTT An ninh trật tự BVTQ Bảo vệ tổ quốc BĐBP Bộ đội Biên phòng CAND Công an nhân dân CNXH Chủ nghĩa xã hội DQTV Dân quân tự vệ KT XH Kinh t.
Trang 1CNXH Chủ nghĩa xã hội
KT-XH Kinh tế – xã hộiLLVT Lực lượng vũ trang
QP, AN Quốc phòng, an ninhTTATXH Trật tự an toàn xã hộiXHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 2ĐỀ TÀI NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG CHIẾN
DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Trang 3Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể thầy giáo, bạn bè, ngườithân, gia đình những người đã luôn bên cạnh, cổ vũ tinh thần, ủng hộ em suốtthời gian qua.
Quá trình nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp là một sự nỗ lực của bản thân,nhưng chắc hẳn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhậnđược sự bổ sung, đóng góp ý kiến của các thầy và các bạn để đề tài của em đượchoàn thiện hơn Cuối cùng em kính chúc quý thầy cô và các bạn dồi dào sứckhỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của truyền thống đấu tranh dựng nước và giữnước vô cùng oanh liệt Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữnước, dân tộc ta đã đánh bại nhiều cuộc tiến công xâm lược của các thế lực phảnđộng phương Bắc, thực dân Pháp và đế quốc Mĩ có trình độ khoa học công nghệhơn ta nhiều lần, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ củaTổ quốc
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thựcdân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và pháttriển thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra giai đoạn cách mạngmới, tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam,thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ được tạo nên bởi nhiều nguyênnhân, trong đó phải kể đến nghệ thuật tổ chức, sử dụng và phối hợp chặt chẽ,hiệu quả giữa các lực lượng bộ binh, pháo binh và phòng không, giữa lực lượngtiến công tiêu diệt từng cứ điểm với lực lượng đánh địch phản kích bảo vệ mụctiêu đã chiếm, bảo vệ trận địa tiến công bao vây; giữa các trận đánh tiêu diệt lớnvới tiêu hao rộng rãi của các đơn vị đánh lấn, bắn tỉa, luồn sâu đánh hiểm trongtrung tâm phòng ngự của tập đoàn cứ điểm
Hơn sáu mươi năm đã trôi qua kể từ khi chiến thắng Điện Biên Phủ kếtthúc, nhưng bài học về sử dụng và phối hợp các lực lượng trong chiến dịch vẫnđặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần nghiên cứu trao đổi, nhất là trong côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Vì vậy đề tài: “Nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954” sẽ góp phần giải quyết vấn đề trên.
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và ý nghĩa của nghệ thuật phối hợpLLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
Trang 5- Từ kết quả nghiên cứu về những nét đặc sắc trong nghệ thuật phối hợpLLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 góp phần xây dựng LLVTnhân dân vững mạnh trong giai đoạn cách mạng mới.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghệ thuật phối hợp LLVTtrong chiến dịch
- Làm rõ diễn biến chính, nội dung, ý nghĩa và những bài học kinhnghiệm của nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm
1954, từ đó đưa ra sự vận dụng trong xây dựng LLVT nhân dân vững mạnhtrong giai đoạn cách mạng mới
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện
Biên Phủ năm 1954
5 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởngquân sự Hồ Chí Minh Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận,nghiên cứu tài liệu, lịch sử
- Ngoài ra còn vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phươngpháp chuyên gia
6 Cấu trúc của khoá luận
Khóa luận gồm phần mở đầu, 2 chương; kết luận.
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn nghệ thuật phối hợp LLVT trong
chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
Chương 2 Nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ
năm 1954
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954
1.1 Khái niệm
1.1.1 Lực lượng vũ trang nhân dân
Lực lượng vũ trang là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dânViệt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước Cộng hòa XHCNViệt Nam quản lý, có nhiệm vụ “chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyềnthống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ ANQG và giữ gìn trật tự antoàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và những thành quả cáchmạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước Là lực lượng xung kích trong khởinghĩa toàn dân giành chính quyền, là lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàndân và chiến tranh nhân dân” [9;16]
LLVT bao gồm QĐND, CAND và DQTV [9;17] Trong đó, QĐND là lựclượng nòng cốt của LLVT nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, baogồm lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên Lực lượng thường trựccủa QĐND có bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương Công an nhân dân bao gồmlực lượng an ninh và lực lượng cảnh sát là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ anninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội DQTV là LLVT quần chúng không thoát
ly sản xuất, công tác; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tínhmạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dânđánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh, lực lượng này được tổ chức ởcấp xã gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan tổ chức gọi là tự vệ
Trang 71.2 Cơ sở lí luận về nghệ thuật phối hợp LLVT
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Ph.Ăngghen, nhà lý luận thiên tài của giai cấp vô sản đã viết: “Một dântộc muốn giành độc lập cho mình không được tự giới hạn trong hình thức củachiến tranh thông thường, khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, các đội
du kích ở khắp mọi nơi, đó là phương thức duy nhất, là sức mạnh tổng hợp, nhờ
đó mà một dân tộc có thể chiến thắng một dân tộc lớn, mà một quân đội ít mạnhhơn có thể đương đầu với quân đội mạnh hơn và có tổ chức tốt hơn” [1;43].Điều chỉ dẫn đó đã khắc phục tư tưởng quân sự cổ điển của chiến tranh chỉ bẳngquân đội chính quy, của tư duy quân sự lấy lớn thắng lớn, hoặc lấy lớn thắngnhỏ Trong đấu tranh cách mạng, các dân tộc muốn giành thắng lợi phải và cóthể dựa vào sự phối hợp của các phong trào, các lực lượng cách mạng để tiếncông địch trong lấy nhỏ thắng lớn, làm cho kẻ thù không chỉ đương đầu vớiLLVT mà còn với toàn thể dân tộc đang khao khát độc lập tự do Đó là
“phương thức duy nhất” giành thắng lợi của các dân tộc nhỏ yếu khi phải chống
chọi với quân đội nhà nghề của các thế lực xâm lược có tiềm lực quân sự, kinhtế lớn hơn
Tiếp thu các quan điểm của C.Mác và Ăng ghen, Lênin tiếp tục phát triểncác quan điểm, luận điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Quan điểm củaLênin được thể hiện ở việc vận dụng, phát triển sáng tạo quan điểm của Mác vàĂng ghen về vũ trang toàn dân, về sự phối hợp chặt chẽ, thực hiện tốt các chủtrương về mọi mặt trên tất cả các lĩnh vực, tất cả các lực lượng để tạo nên sứcmạnh tổng hợp lớn nhất đánh bại kẻ thù Lênin đã xây dựng học thuyết BVTQ,làm cơ sở để lãnh đạo công cuộc bảo vệ Nhà nước Xô viết và chế độ XHCNtrước sự tấn công xâm lược của kẻ thù Bảo vệ Tổ quốc XHCN là sự nghiệpthiêng liêng, cao cả, mang tính cách mạng, chính nghĩa và có ý nghĩa quốc tếsâu sắc, sự nghiệp đó phải được quan tâm, chuẩn bị chu đáo và kiên quyết.Lênin đã đưa ra nhiều biện pháp về BVTQ như: Củng cố chính quyền Xô viết ởcác cấp; bài trừ nội phản, tiêu diệt bạch vệ; đẩy mạnh phát triển kinh tế văn hóa,khoa học kĩ thuật, vận dụng đường lối đối ngoại khôn khéo, kiên quyết về
Trang 8nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ
kẻ thù, hết sức chăm lo xây dựng quân đội kiểu mới Lênin cùng Đảng Vích Nga lãnh đạo nhân dân, tranh thủ thời gian hòa bình, xây dựng đất nướcmạnh lên mọi mặt, từng bước biến các tiềm lực thành sức mạnh tổng hợp hiệnthực của nền quốc phòng, BVTQ XHCN.[2;306]
Bôn-Sê-Trong những điều kiện xác định, Mác – Lênin chỉ rõ yếu tố chính trị, tinhthần giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội Lênin khẳngđịnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào sự phốihợp, kết hợp với nhau của quần chúng của lực lượng quân đội đang đổ máu trênchiến trường” Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng conđường bạo lực kết hợp giữa lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũtrang, đặc biệt coi trọng sự phối hợp của lực lượng cách mạng
Khi bàn về chiến tranh cách mạng, Lênin chỉ ra: Chiến tranh là thử tháchtoàn diện giữa các bên tham chiến Bởi trong chiến tranh sự đối đầu khốc liệtgiữa các bên tham chiến không chỉ về mặt quân sự, mà bao giờ cũng diễn ra sựkết hợp đan xen giữa các lực lượng, giữa các mặt trận: chính trị, quân sự, ngoạigiao, kinh tế, văn hóa Vì vậy, bên nào không nhận rõ điều đó sẽ bị hạn chế sứcmạnh và dẫn đến thất bại Điều đó chứng tỏ để nâng cao sức mạnh của quân độicần phải gắn kết, phối hợp và nâng cao sức mạnh của lực lượng vũ trang
Lênin cũng chỉ ra rằng: Đảng Cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt sự nghiệpBVTQ Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sángkiến để lôi kéo, kết hợp quần chúng và phải có đội ngũ Đảng viên gương mẫu,
hi sinh Trong quân đội, chế độ chính ủy được thực hiện, cán bộ chính trị đượclấy từ những đại biểu ưu tú của công nhân, thực chất đó là người đại diện củaĐảng, để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội Đảng hướng dẫn, giámsát các hoạt động của các cấp tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động.Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nguyên tắc cao nhất, là nơi chỉ đạo phối hợpcủa LLVT tạo ra sức mạnh tổng hợp trên mọi mặt để bảo vệ vững chắc Tổ quốcXHCN
Trang 9Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phối hợp hoạt độngcác thành phần, lực lượng là yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh tổng hợp, lànhân tố hết sức quan trọng có giá trị to lớn đem lại thắng lợi cho cách mạng vànhiệm vụ BVTQ Nhờ có sức mạnh theo quan điểm của Mác – Lênin mà làmcho các cuộc cách mạng của ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó mà
ta tìm ra được những chủ trương, cơ chế tác động, chính sách phù hợp để đánh
kẻ thù, biết kết hợp với nhau để tạo nên sức mạnh to lớn, sức tổng hợp, làm hạnchế và suy yếu sức mạnh mọi mặt của đối phương giành thắng lợi
1.2.2 Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm: Phối hợp giữa các lựclượng là nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp đó sức mạnh của toàn dân tộc, củacác cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở, là sức mạnh của nhân tố chính trị,quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, sức mạnh truyền thống với hiện đại, sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khích lệ tinh thần chiến đấu của cán bộ,chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích Trong
thư, Người nêu rõ: “Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh Nay địch tự ra cho
ta đánh Đó là một cơ hội tốt cho ta” Người nhấn mạnh: “Bộ đội chủ lực đánh.
Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng” [10;341]
Điểm xuất phát để ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh lànhận thức rõ và có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh tổng hợp của dân tộc Đó làsức mạnh của chủ nghĩa yêu nước; tinh thần đoàn kết; ý chí độc lập, tự lực, tưcường, truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do
Phối hợp các lược lượng để tạo ra sức mạnh tổng hợp và vận dụng pháthuy nó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thầndân tộc chân chính của nhân dân ta, đồng thời cũng là của nhân dân các nướcthuộc địa đấu tranh với chủ nghĩa thực dân giành độc lập, tự do cho dân tộc
Trang 10Nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phối hợp giữa các lực lượng được hìnhthành từng bước, thông qua hoạt động thực tiễn và được tổng kết thành lý luận.
Trong phối hợp giữa các lực lượng để phát huy sức mạnh tổng hợp, Chủtịch Hồ Chí Minh chỉ đạo phải động viên và phát huy sức mạnh của chiến tranhnhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc Người cũng chỉ rõ: “Trước kia đánhnhau về mặt quân sự nhưng ngày nay đánh nh au về đủ mặt quân sự, chính trị,ngoại giao, kinh tế, tư tưởng” và không dùng sức mạnh kết hợp của toàn dântoàn quân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thắng lợi được [11;298]
Trong tác chiến, cần kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranhchính quy, phối hợp giữa các lực lượng, các chiến trường và các mặt đấu tranh,đánh địch ở nhiều môi trường, cả tiền tuyến và hậu phương, tất cả lực lượngcùng đánh Theo người chỉ có tiến công kiên quyết, liên tục mới phát huy đượcsức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, có tiến công mới giành đượcquyền chủ động, ngược lại có nắm quyền chủ động mới đảm bảo thế tiến công.Xuất phát từ đặc điểm của chiến tranh cách mạng Việt Nam là “Nước nhỏ đánhnước lớn”, “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều” tư tưởng của Chủ tịch HồChí Minh là sự phối hợp của toàn dân, toàn lực lượng, của mọi vũ khí với cáchđánh sáng tạo phối hợp nhịp nhàng
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về phối hợp giữa các lực lượng rấtquan trọng người luôn chủ trương chỉ đạo phối hợp trên mọi mặt để có thể tạo rađược sức mạnh tổng hợp, những ưu thế giành thắng lợi, người cũng khẳng địnhchỉ có sức mạnh tổng mới đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam ta, là nhântố chủ chốt để xây dựng và BVTQ XHCN, cần được vận dụng, kế thừa và pháttriển nó một cách sáng tạo, chỉ có sức mạnh tổng hợp mới đem lại thành côngnhất định
1.2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin, nghệ thuật đánh giặc giữ nước của ôngcha ta cũng như tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khẳng địnhphối hợp giữa các LLVT để tạo thành sức mạnh tổng hợp là nghệ thuật, quan
Trang 11điểm quan trọng hàng đầu, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng vàcông cuộc xây dựng đất nước XHCN hiện nay.
Từ khi Đảng ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền vàchiến tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất, trên cơ sở đường lối chính trịđúng đắn của Đảng, đường lối quân sự hình thành và không ngừng phát triểntừng bước qua mỗi thời kỳ cách mạng và chiến tranh cách mạng của nhân dân
ta Đảng đã khẳng định phối hợp giữa các LLVT tạo ra sức mạnh tổng hợp làmột trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nhân dân Việt Nam Thực tếkhởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng đã chỉ rõ, chỉ có dựa trên nền tảngchính trị vững chắc của toàn dân, đường lối quân sự của Đảng mới tạo nên thếtrận toàn dân đánh giặc, mới biến được sức mạnh chính trị của toàn dân thànhsức mạnh tổng hợp, toàn diện, để thắng địch trên chiến trường
Chỉ có phối hợp cao độ sức mạnh của ba thứ quân, thắng địch về quân sựtrên chiến trường mới đưa kháng chiến đến thắng lợi, vì đánh thắng về quân sựlà phương thức quyết định đập tan ý chí xâm lược của kẻ thù Để phối hợp, pháthuy đầy đủ sức mạnh của ba thứ quân, trong xây dựng Đảng đặc biệt quan tâmchỉ đạo tổ chức các lực lượng một cách hợp lý, có số lượng thích hợp, có chấtlượng cao, lấy chất lượng làm chính; trong tác chiến, Đảng lãnh đạo giải quyếttốt vấn đề nâng cao hiệu lực chiến đấu của từng thứ quân, đặc biệt là của bộ độichủ lực trong những chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quan trọng
Để giành thắng lợi trong chiến tranh, trên cơ sở dựa vào đường lối vànhiệm vụ chính trị đường lối và nhiệm vụ quân sự, phối hợp mọi lực lượng tiếnhành chiến tranh, lấy LLVT nhân dân làm nòng cốt, còn phải có cách đấu tranhvũ trang thích hợp trên tất cả các mặt của toàn bộ cuộc chiến tranh cũng nhưphải có cách đánh thích hợp về mặt quân sự Trong phối hợp giữa các lực lượng,Đảng ta đã chỉ đạo phát động toàn dân tiến hành chiến tranh toàn diện theophương châm đánh lâu dài và dựa vào sức mình là chính với một nghệ thuậtquân sự sáng tạo và độc đáo
Như vậy, phối hợp LLVT theo quan điểm của Đảng ta là phát huy sứcmạnh của toàn dân, phối hợp giữa các lực lượng, thực hiện đúng các chủ trương
Trang 12đường lối chỉ đạo của Đảng, thực hiện cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện vớicách đánh linh hoạt sáng tạo, trong đó LLVT làm nòng cốt Phối hợp giữa cáclực lượng là yếu tố quyết định đến thắng lợi của nhân dân ta, độc lập dân tộc.
1.3 Cơ sở thực tiễn về nghệ thuật phối hợp LLVT
1.3.1 Nghệ thuật phối hợp LLVT của ông cha ta
Nghệ thuật phối hợp LLVT của ông cha ta từng bước phát triển và được
sử dụng phổ biến qua các cuộc khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng dântộc Nó được kế thừa, vận dụng phát triển một cách sáng tạo đem lại nhữngthắng lợi cho các cuộc cách mạng của ông cha ta, tiêu biểu như cuộc khángchiến chống Tống, kháng chiến chống Nguyên - Mông, kháng chiến chống Minhvà kháng chiến chống xâm lược Mãn Thanh
Vào những năm 1068 – 1076, nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta mộtlần nữa Trước tình hình đó, Lý Thường Kiệt cho rằng: “Ngồi yên đợi giặc saobằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó” Chủ trương “ Tiên phát chế nhân”,ông quyết định mở trận tiến công đại quy mô sang đất Tống [12;40] Ngày 27tháng 10 năm 1075, cuộc tiến công bắt đầu, với hai cánh quân khoảng 10 vạnngười
Vào những ngày trung tuần tháng 1 năm 1076 đạo quân chủ lực của ta từKhâm Liên đã tiến đến Ung Châu Tại đây hai cánh quân đã gặp nhau, dưới sựchỉ huy trực tiếp của Lý Thường Kiệt quân ta bao vây bốn mặt thành và gấp rútchuẩn bị bước vào trận đánh chiếm thành Ung Châu Thực hiện kế hoạch từngày 17 tháng 1 năm 1076 đến tháng 3 năm 1076, Lý Thường Kiệt đã chỉ huyquân thủy bộ tiến công các căn cứ của địch ở biên giới phía Bắc nước ta vàgiành thắng lợi Trước kế hoạch tiến công bất ngờ, phối hợp linh hoạt, đã pháthuy được tối đa sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, nhất là quân thủy bộ Saukhi đánh thắng Lý Thường Kiệt rút quân về nước và điều hàng vạn binh sĩ cũngnhân dân xây dựng chiến tuyến sông Như Nguyệt Chiến tuyến sông NhưNguyệt hình thành thế trận phòng ngự có chính diện rộng, có chiều sâu cao Thếtrận này đã phát huy được đầy đủ sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trongchiến đấu, kể cả tiến công hay phòng ngự
Trang 13Trong trận trên sông Như Nguyệt, cuộc tiến công của thủy quân ta mặc dù
bị tổn thất nhưng đã gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề về lực lượng và làmcho thế trận địch bị đảo lộn Lợi dụng thời cơ, Lý Thường Kiệt cho 3 vạn quântrong đêm bất ngờ vượt sông vào sườn trái của địch ở bến sông Như Nguyệt,đánh vào sườn tây của đạo quân Quách Quỳ, chiếm Việt Yên Các đạo quânthừa thắng phát triển tiến công, đánh chiếm các trại quân Tống ở khu vực chùaĐổ, Tiên Lát và Ai Quan Cùng lúc đó, một cánh quân của ta vốn là lực lượngphòng ngự ở biên giới đã dãn ra trong quá trình địch tiến quân vào nước ta, vớigần 1 vạn quân đánh vào sau lưng cụm quân Triệu Tiết Hai cánh quân chủ lựccủa ta từ mặt tây và mặt đông như hai gọng kìm xiết chặt lấy chúng Kết hợp vớitiến công quân sự, Lý Thường Kiệt còn tiến công cả ngoại giao làm phát huy tối
đa được sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng
Có thể nói, chiến tuyến sông Như Nguyệt là một công trình quân sự lớncủa quân dân ta ở thế kỉ XI, được xây dựng một cách hợp lý, khoa học Đặcđiểm nổi bật của thế trận này là bố trí trên diện rộng, có trọng điểm, chiều sâu,phối hợp chặt chẽ giữa quân chủ lực với quân địa phương tạo thành sức mạnh tolớn nhằm đánh địch cả phía trước và phía sau Mặt khác, Lý Thường Kiệt khôngchủ trương phòng ngự đơn thuần, bị động, mà ngay trong phòng ngự đã dự kiếnnhững đòn phản kích của những cụm quân cơ động để thực hành tiêu diệt lớnquân địch, đánh trả quyết liệt những cuộc tiến công của chúng, kiên quyết phảnkích khi chúng lọt vào trận địa, đồng thời kết hợp phối hợp giữa các lực lượng
để đánh ngăn chặn, tiêu diệt đạo thủy binh địch Ông cũng chủ trương đánh vàosau lưng địch bằng mọi thủ đoạn tập kích, phục kích, quấy rối, đánh phá giaothông vận tải chuyển lương thực của địch Từ hành động tiến công sang đấtđịch, phá bàn đạp tiến công của chúng, tranh thủ thời gian thực hành chuẩn bị ởtrong nước, phối hợp nhịp nhàng linh hoạt giữa các lực lượng đã phát huy đượcsức mạnh tổng hợp, phát huy được thế mạnh của ta, khoét sâu chố yếu của địch,đánh địch cả bằng chặn đánh trước sau, buộc địch phải chuyển từ tiến công sangphòng ngự, tạo điều kiện và thời cơ để phản công tạo sức mạnh tổng hợp với sựkết hợp chặt chẽ của mọi nguồn lực và lực lượng
Trang 14Ở thế kỉ 13, trong vòng ba chục năm, dân tộc Việt Nam đã tiến hành liêntiếp ba cuộc kháng chiến, giành thắng lợi oanh liệt trước một đối tượng xâm
lược hùng mạnh và tàn bạo vào bậc nhất trong lịch sử lúc đó đế quốc Nguyên
-Mông Với ý chí sắt đá bảo vệ độc lập, chủ quyền, với tinh thần đoàn kết keosơn cả nước một lòng, với tinh thần xả thân, sẵn sàng chịu đựng và vượt quanhững hy sinh và sức sáng tạo trong vận dụng nghệ thuật quân sự, tổ tiên tatrong cuộc đó sức chênh lệch này đã phát huy sức mạnh tổng hợp của LLVT,càng đánh càng mạnh, cuối cùng phải cam chịu thảm bại
Tháng 5 năm 1285, Trần Quốc Tuấn cùng với Trần Quang Khải, TrầnNhật Duật đem quân ra Bắc phân làm hai tập đoàn kỳ, chính: Tập đoàn quân củaTrần Quang Khải đánh hệ thống đồn giặc trên sông Hồng phía Nam Thăng Longrồi tiến lên giải phóng kinh thành, còn tập đoàn quân của Trần Quốc Tuấn đivòng qua các lộ phía Đông, tiến về Vạn Kiếp, nơi này đã có quân các vương hầuchờ đón để cùng tiến đánh quân địch từ phía sườn và phía sau, tiêu diệt quânđịch rút chạy Trong lần tiến công chiến lược này là bên cạnh mưu kế hoàn hảo,còn có sự thực hiện kiên quyết, phối hợp chặt chẽ giữa chính binh và kỳ binh,phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng này làm cho địch thảm bại,rút chạy.Và các trận Quế Dương và Sông Sách cũng như các trận truy kích ởVĩnh Bình cùng cánh quân do Trần Hưng Đạo chỉ huy trực tiếp đã phối hợp nhịpnhàng ăn khớp, quyết định sự tan vỡ của trên 60 vạn quân Nguyên - Mông
Đến lần kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ ba, đạo quân xâmlược xuất phát từ Ngọc Chân vượt biên giới đến Bạch Hạc, thủy quân giặc vàovùng biển nước ta vào cuối tháng 12 năm 1287, vượt qua tuyến đánh chặn củaTrần Khánh Dư, tiến về Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan Trên khắc các ngảđường tiến quân, giặc đều bị chặn đánh kịch liệt Nhưng theo đúng kế hoạch, saukhi tiêu hao và làm chậm bước tiến của giặc, các cách quân ta đều phối hợp vớinhau để địch đi qua và khép vòng vây lại, hoạt động phía sau lưng chúng Trongkhi đó, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư tập kích, tiêudiệt toàn bộ Các trận đánh trên bộ cũng là kết quả của việc phối hợp các cánhquân của ta, trên đường rút chạy, địch liên tục bị quân ta phối hợp chặn đánh
Trang 15phía trước, truy kích phía sau, lần lượt bị tiêu diệt và bắt sống chỉ còn một nhómnhỏ chạy thoát, cuộc kháng chiến lần thứ ba thắng lợi oanh liệt.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của nhân dân ta dướisự lãnh đạo của nhà Trần, Nghệ thuật phối hợp các lực lượng đã có bước pháttriển mạnh mẽ Nhà quân sự thiên tài Trần Hưng Đạo cùng các tướng lĩnh nhàTrần đã đề ra những tư tưởng, phối hợp giữa các lực lượng, biết cách lợi dụngchỗ yếu của địch để phát huy được sở trường, sức mạnh của ta đánh thắng kẻthù Trần Hưng Đạo đã đề ra nguyên tắc quân sự độc đáo : “Dĩ đoàn chế trườnglà lệ thường của binh pháp” [13; 45] đó là nghệ thuật phối hợp các LLVT đểphát huy sức mạnh tổng hợp mà ông cha ta sử dụng trong đấu tranh giải phóngdân tộc, nó trở thành bài học có giá trị trong xây dựng và BVTQ hiện nay
Đến thế kỷ XV, cuộc kháng chiến chống quân Minh do Hồ Quý Ly lãnhđạo, được tiến hành trong lúc nội tình đất nước không yên, chính quyền khôngđược lòng dân, do đó không phát huy được sức mạnh của thế trận "cả nước đánhgiặc"; nặng về phòng ngự bị động và thiếu linh hoạt trong vận dụng cách đánhnên sớm thất bại Đến khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng dân tộc do
Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo không chỉ biết khắc phục những hạn chế của cuộckháng chiến trước đó mà còn có nhiều sáng tạo về nghệ thuật quân sự trong khởinghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc
Đại đa số nghĩa quân Lam Sơn là những người "mạnh lệ" - những ngườinghèo khổ bị bọn xâm lược và phản động áp bức nhiều nhất, theo tiếng gọi khởinghĩa họ đã đến tập hợp, trở thành những nghĩa binh dũng cảm Với mục đíchchính nghĩa hợp lòng dân nên nghĩa quân Lam Sơn được đông đảo nhân dân ủnghộ, từ đó Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã phát động được một cuộc chiến tranh nhândân, kết hợp tiến công địch bằng cả sức mạnh tổng hợp của nghĩa quân và sự nổidậy của quần chúng nhằm tiến công bao vây, diệt địch và giành quyền tự chủ Trong khởi nghĩa và chiến tranh, bộ chỉ huy nghĩa quân rất coi trọng việctạo thời, lập thế, từng bước chuyển hóa lực lượng, xoay chuyển tình thế Sự pháttriển của nghĩa quân gắn liền với nghệ thuật từng bước chuyển thế trận, phát huysức mạnh tổng hợp Nghĩa quân càng đánh càng mạnh, "mất biến thành còn,
Trang 16nhỏ hóa ra lớn", còn quân địch càng đánh càng thua "mạnh hóa ra yếu, yếu lạithành nguy" Với việc lựa chọn rất đúng đắn phương hướng và mục tiêu của cáccuộc tiến công chiến lược, khéo kết hợp giữa vây thành với diệt viện, bộ chỉ huynghĩa quân đã dẫn giải cuộc chiến tranh giải phóng đi hết từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác, cuối cùng đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Trong khởi nghĩa và chiến tranh chống quân Minh xâm lược, nhiều hìnhthức chiến thuật đã được vận dụng thành công Phục kích, tập kích là chiến thuật
sở trường nhất của nghĩa quân, được sử dụng có hiệu quả trong suốt quá trìnhkhởi nghĩa Chiến thuật vây thành và đánh thành cũng được vận dụng thànhcông trong quá trình khởi nghĩa và chiến tranh Nghĩa quân chủ trương vâythành là chính, nhưng khi cần thiết để phục vụ yêu cầu chiến lược và khi có điềukiện, nghĩa quân cũng đã thực hiện công thành, hạ thành để tiêu diệt địch, nhấtlà đối với những thành nằm dọc trên đường mà viện binh giặc có thể đi qua Khitiến công thành Xương Giang, quân ta đã vây chặt bốn mặt thành, đắp đất thànhnhững cao điểm để đặt pháo bắn vào thành, đào đường ngầm để đột nhập vàotrong và dùng thang trèo lên thành rồi ồ ạt tiến công Trận hạ thành XươngGiang chứng tỏ một bước trưởng thành của nghĩa quân Lam Sơn và cũng là mộtđiển hình của nghệ thuật phối hợp giữa LLVT trong lịch sử quân sự dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh (1788 – 1789)nghệ thuật phối hợp các lực lượng đã có sự phát triển rực rỡ Trước sức tiếncông ồ ạt và quy mô của 29 vạn quân Thanh, theo chủ trương của Ngô ThìNhậm, quân Tây Sơn đã rút khỏi Thăng Long về Tam Điệp - Biện Sơn để bảotoàn lực lượng, tạo điều kiện và thời cơ để chờ đại quân Nguyễn Huệ từ phíaNam ra tiến hành phản công lại giặc Đó là một kế hoạch chiến lược sáng suốt.Ngô Thì Nhậm đã xem xét sức mạnh chiến tranh trong mối tương quan giữađịch và ta cả về thế và lực, cả về chính trị lẫn quân sự Ông không chỉ thấy rõhiện trạng trước mắt mà còn thấy trước sự chuyển biến “nhân tình thế thái” sẽđưa đến sự chuyển biến của “quân cơ” do hành động cướp nước của giặc Thanhvà những hành động bán nước của bọn vua tôi nhà Lê gây ra, sự chuyển biến đó
sẽ theo chiều hướng từ chỗ bất lợi cho ta thành có lợi cho ta, bất lợi cho địch
Trang 17Trong điều kiện phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh với lực lượngchủ yếu là quân đội chính quy, Nguyễn Huệ dùng lối hành quân thần tốc, táobạo, bất ngờ, chọn đúng hướng, điểm đúng huyệt, phối hợp giữa các lực lượngđánh địch trên thế áp đảo, khiến quân thù tuy có binh hùng tướng giỏi, lực lượngđông gấp bội quân ta, nhưng do chủ quan nên không kịp trở tay, toàn quân rungchuyển rồi tan rã nhanh chóng.
Nghệ thuật phối hợp các lực lượng của Nguyễn Huệ và quân Tây Sơnđược biểu hiện tập trung nhất trong việc tổ chức và thực hành trận quyết chiếnchiến lược Ngọc Hồi - Đống Đa Nguyễn Huệ chọn Thăng Long làm mục tiêutiến công chủ yếu, tiên công địch vào đúng lúc quân địch lo nghỉ ngơi ăn tết làhết sức đúng đắn Trên cơ sở hiểu địch và với ý định chỉ đánh một trận là tiêudiệt, Nguyễn Huệ đã chia quân thành 5 đạo, tiến công trên ba hướng: hướngNam, hướng Tây Nam và Đông Bắc Thăng Long Trong “trận hội chiến” này,Nguyễn Huệ đã khéo phối hợp lực lượng tạo ưu thế cho từng hướng tiến công vàtừng trận đánh Sử dụng hai đạo quân vào hướng chủ yếu, ông đã tạo được thế
uy hiếp ở trước mặt và cạnh sườn để bao vây, tiến công chúng Từ thế uy hiếpmạnh mẽ ở hướng chính, ông lại tạo được ưu thế cho hướng vu hồi dễ dàng diệtgọn mấy nghìn quân của Sầm Nghi Đống, rồi nhanh chóng thọc sâu vào đầu nãođịch với thế như chẻ tre Uy thế áp đảo ở hướng này lại tạo thêm uy lực chohướng chính đánh trận then chốt quyết định ở Ngọc Hồi
Cùng một lúc đánh địch bằng nhiều mũi trên nhiều hướng, kết hợp chínhbinh và kỳ binh, giữa đánh chính diện và đánh vu hồi, nhanh chóng chia cắt, làmtan rã và tiêu diệt quân địch là điểm nổi bật của cách đánh Nguyễn Huệ và quânTây Sơn trong trận quyết chiến chiến lược Chiến thuật phát huy sức mạnh tổnghợp của quân đội Tây Sơn đã có bước phát triển trong việc nâng cao vai trò củahỏa lực và cơ động để phá vỡ đội hình địch, thực hiện đòn đột kích liên tiếp chođến thắng lợi
Trong chiến đấu không đơn thuần dùng bộ binh hoặc bộ binh làm nhiệm
vụ chủ yếu nhất mà đã có sự phối hợp chiến đấu giữa bộ binh với pháo binh,tượng binh và kỵ binh Chiến thuật dàn đều binh lực đã được thay thế bằng
Trang 18chiến thuật tập trung binh lực đột kích mãnh liệt trên một điểm quyết định, kếthợp giữa đánh vào mặt chính diện với thọc sâu, vu hồi, bao vây tiêu diệt quânđịch.
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh đã thể hiện tàitình nghệ thuật phối hợp của các lực lượng Nguyễn Huệ chủ trương tập trunglực lượng, bằng lối đánh thần tốc, táo bạo, bất ngờ và mãnh liệt, quyết tâm giảiquyết chiến tranh nhanh gọn trong một trận quyết chiến Phối hợp tất cả cácquân binh chủng nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp cho quân đội ta giành thắnglợi
Như vậy, những lần kháng chiến chống quân xâm lược là những lần thểhiện, tổ chức, hiệp đồng phối hợp các lực lượng rất tài tình của ông cha ta, là nétđặc sắc của nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta Vì vậy, các thời đại phải có tưtưởng, phương châm, biết vận dụng nghệ thuật phối hợp lực lượng vũ trang vàocông cuộc xây dựng đất nước, củng cố quốc phòng thời bình cũng như thờichiến, gắn chặt dân với nước, phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng, BVTQ
1.3.2 Nghệ thuật phối hợp LLVT từ khi có Đảng lãnh đạo
Qua từng thời kì, nghệ thuật phối hợp các LLVT đã được vận dụng vàphát triển mạnh mẽ Từ sau khi có Đảng lãnh đạo nghệ thuật này có bước pháttriển vượt bậc, góp phần làm cho các cuộc kháng chiến của nhân dân ta giànhthắng lợi hoàn toàn Nghệ thuật phối hợp LLVT từ khi có Đảng lãnh đạo đượcthể hiện rõ nét nhất trong: Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chiến dịch ViệtBắc Thu đông năm 1947, chiến dịch Hạ Lào năm 1953 và chiến dịch Hòa Bình
a) Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh tổng hợp đã được phát huy cao độđặc biệt trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đập tan chế độ thựcdân, phong kiến, xây dựng nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Thắnglợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa ra đời là một sự kiện lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam trong cuộcđấu tranh liên tục sau gần 90 năm để giành quyền được hưởng độc lập dân tộc.Thắng lợi có tầm vóc vĩ đại này là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân,
Trang 19trong đó nổi bật là nghệ thuật chọn thời cơ cách mạng và phối hợp các lựclượng phát huy được sức mạnh tổng hợp để tiến hành tổng khởi nghĩa, giànhchính quyền trong phạm vi cả nước của Đảng ta.
Tận dụng thời cơ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung chỉ đạothực hành tổng khởi nghĩa; chủ động tổ chức phối hợp hiệp đồng của toàn quân
ở từng vùng và trên quy mô cả nước Quán triệt và chấp hành Lệnh tổng khởinghĩa của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, từ ngày 14 tháng 8 năm 1945 các tầnglớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo được huy động tổ chức thành những độiquân chính trị đông đảo và đội quân vũ trang, trong đó có Việt Nam Giảiphóng quân và LLVT các địa phương làm nòng cốt, xung kích ở khắp ba miềnBắc, Trung, Nam, do Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và các Đảng bộ địa phươnglãnh đạo Toàn bộ lực lượng chính trị và lực lượng quân sự tham gia Tổng khởinghĩa quán triệt và thực hiện theo 3 nguyên tắc do Hội nghị toàn quốc củaĐảng đề ra Một là, tập trung lực lượng vào những mục tiêu chính Hai là,thống nhất các mặt chính trị, quân sự, hành động và chỉ huy Ba là, kịp thời tổchức hành động đồng loạt, phối hợp giữa các lực lượng, không bỏ lỡ cơ hội
Nhờ phát đồng kịp thời và sự phối hợp, hiệp đồng giữa các LLVT tiếnhành Tổng khởi nghĩa đúng thời cơ và vận dụng theo 3 nguyên tắc chỉ đạo,Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn quân, đại đoàn kết toàndân, tạo nên sức mạnh áp đảo kẻ thù, nhanh chóng giành thắng lợi Tổng khởinghĩa tháng Tám 1945 thành công do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnhđạo, chủ động kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng quân sự,tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa trên quy mô cả nước Thực hiện Lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương, đông đảo nhân dân ởnhiều địa phương có đội quân vũ trang (tổ, đội) hỗ trợ đã đồng loạt nổi dậy,giành chính quyền Ở một số địa phương, tuy chưa nhận được Lệnh Tổng khởinghĩa, nhưng thực hiện Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúngta”, các đảng bộ đã lãnh đạo quần chúng nhân dân, có các đội tự vệ xung kíchnổi dậy, giành chính quyền ở địa phương
Trang 20Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, cuộc Tổng khởi nghĩa do cácđảng bộ tỉnh, thành phố trực tiếp lãnh đạo diễn ra trên cả nước rất đa dạng,phong phú Hầu hết các tỉnh, thành phố đều tổ chức khởi nghĩa dưới hình thứckết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và LLVT, giữa đấu tranh chính trị vớiđòn tiến công quân sự, trong đó lực lượng chính trị tiến hành đấu tranh chínhtrị đóng vai trò quyết định, LLVT thực hiện đấu tranh vũ trang đóng vai trò chế
áp lực lượng địch, kết hợp với sách lược mềm dẻo, cô lập và vô hiệu hóa quânthù nên giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu Trong tất cả các tỉnh, thànhphố, đặc khu trong cả nước tiến hành khởi nghĩa, có 36 tỉnh, thành phố về cơbản ta tổ chức phối hợp lực lượng khởi nghĩa bắt đầu từ xã, huyện, phát triểnlên tỉnh lỵ, từ ngoại thành vào nội thành, rồi kết thúc ở một số huyện, xã cònlại; 15 tỉnh tổ chức lực lượng tiến hành khởi nghĩa ở tỉnh lỵ trước rồi lan về cáchuyện và 11 tỉnh, đặc khu khu tổ chức phối hợp với nhau khởi nghĩa trong mộtngày
Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa ở các tỉnh, thành phố, đặc biệt làthắng lợi ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, Huế ngày 23 tháng 8 và Sài Gòn ngày 25tháng 8 đã tác động mạnh tới phong trào nổi dậy ở các địa phương trong cảnước Nhờ phối hợp nhịp nhàng, kịp thời các đòn đấu tranh của bộ đội, nổi dậycủa quần chúng có tự vệ vũ trang xung kích hỗ trợ, kết hợp chặt chẽ đòn tiếncông quân sự của LLVT, chỉ trong nửa tháng (từ ngày 14 tháng 8 đến 28 tháng
8 năm 1945), cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nướcđã giành thắng lợi, để ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ CộngHòa ra đời, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và đặt cơ sở để xây dựng, pháttriển toàn diện đất nước
b) Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947
Thực hiện mưu đồ triệt phá cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ độichủ lực của ta nhằm giành thắng lợi quyết định kết thúc chiến tranh, ngày 07tháng 10 năm 1947, thực dân Pháp huy động lực lượng tinh nhuệ nhất trong hảiquân, lục quân, không quân khoảng 10 nghìn quân tiến công ồ ạt theo 3 hướng:đường không, đường bộ và đường sông vào vùng căn cứ địa Việt Bắc
Trang 21Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng chỉ huy và các mặt trận, bộ đội địaphương, dân quân, du kích và nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã thực hiện triệt
để “tiêu thổ kháng chiến”, “tiễu phỉ giữ nhà”… tránh các cuộc càn quét, đánhphá, cướp bóc của quân Pháp Do vậy, “Những nhát búa tiến công của địch đãgiáng vào chân không Chúng ta đã kịp thời khai thác đúng chỗ yếu nhất củacuộc tiến công là những đoàn quân xa, những chiến thuyền buộc phải thườngxuyên di chuyển trên những trục đường bộ, đường sông nhất định để duy trì sứcsống cho một đạo quân lớn không thể tìm ra lương thực, đạn dược ở địa phương
Nó cho phép những đơn vị nhỏ của ta với trình độ, trang bị hạn chế có thể giángtrả quân địch những đòn hiệu quả” [7; 210] LLVT của các địa phương trong căn
cứ địa Việt Bắc còn tích cực, chủ động phá các công trình kiên cố, cầu đường,đắp ụ chống xe tăng cản địch; làm trận địa giả, trận địa nghi binh để lừa địch;cắm chông tre, chông sào ở các khu vực trống trải đề phòng địch nhảy dù…Đồng thời, lực lượng này còn đảm trách việc kiểm soát, tuần tra, canh gácnhững khu vực bố trí các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; các nhà máy, xínghiệp, kho tàng; đoạn đường trọng điểm, những nơi xung yếu… Với nghệ thuậtphối hợp các lực lượng linh hoạt, khéo léo của Bộ Tổng chỉ huy, chiến dịch đã
có nhiều hình thức, biện pháp đánh địch sáng tạo đạt hiệu suất chiến đấu cao:phối hợp với LLVT địa phương vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa nghi binh, tạo giả(đốt rơm, rạ tạo khói; gây tiếng nổ…) nhằm thu hút hỏa lực địch về trận địa giả,tạo điều kiện, thời cơ cho các đơn vị bộ đội chủ lực (bộ binh, pháo binh, pháocao xạ) nổ súng tiến công tiêu diệt địch Cùng với đó, Bộ Tổng chỉ huy đã tổchức phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong từng mặt trận, giữacác mặt trận phục kích, bao vây, tiêu hao, tiêu diệt lực lượng chi viện, tiếp tế,trên sông, trên bộ, thậm chí còn đánh tiêu diệt những bộ phận nhỏ nằm sâu trongđịa bàn chiến dịch
Có thể khẳng định rằng, với việc vận dụng linh hoạt nguyên tắc tập trunglực lượng, chúng ta vừa tạo được ưu thế ở những địa điểm, thời cơ quyết định,vừa giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ, từ đó cơ động, phục kích đánh vào chỗ yếu,chỗ sơ hở để tiêu diệt địch Do tổ chức, biên chế lực lượng chủ lực hợp lý, khoa
Trang 22học, nên các “đại đội độc lập” và “tiểu đoàn tập trung” đã phát huy tối đa sởtrường, sức mạnh, thế mạnh của từng loại vũ khí trên từng mặt trận Trên hướngTây (Sông Lô), Bộ đội Pháo binh vừa tổ chức lực lượng bảo vệ, nghi binh lừađịch, vừa mưu trí, dũng cảm bố trí pháo ở sát bờ sông bắn chìm nhiều tàu địch,đánh thắng nhiều trận
Như vậy, với việc phối hợp binh lực thích hợp, chặt chẽ, phát động phongtrào toàn dân đánh giặc, cả nước phối hợp với Việt Bắc; dùng cách “đánh nhỏ ănchắc”, phối hợp tác chiến của các “tiểu đoàn tập trung” với hoạt động của các
“đại đội độc lập” và LLVT tại chỗ, quân và dân ta đã làm thất bại cuộc tiến côngcủa quân Pháp, góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trên toànchiến trường Việt Bắc Nghệ thuật phối hợp LLVT hợp trong chiến dịch nămxưa là một bước sáng tạo, trở thành phương thức cần thiết để phát động phongtrào toàn dân đánh giặc, tạo thế, tạo lực cho “du kích chiến” phát triển và “dukích vận động chiến” có đà mở rộng ra phạm vi chiến trường cả nước Đây làbước phát triển mới, đặt nền móng cho nghệ thuật chiến dịch Việt Nam; gópphần vào thắng lợi của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
c) Chiến dịch Hạ Lào năm 1953
Chiến dịch Trung Lào và Hạ Lào đã buộc Na-va phải phân tán khối cơđộng chiến lược của chúng góp phần làm giảm khối lượng chủ lực địch trênchiến trường chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính Điện Biên Phủ
Quân ta đã phối hợp với nhau đánh vào những nơi hiểm yếu và sơ hở củađịch để mở chiến dịch tiến công, không ngừng thọc sâu về phía hậu phương củađịch, từng bước làm đảo lộn thế phòng thủ của chúng Càng đánh xuống phíaNam, quân ta càng khoét sâu điểm yếu cơ bản của địch là mâu thuẫn giữa chiếntrường rộng với binh lực hạn chế, giữa tập chung binh lực trên chiến trườngchính và đối phó với nhiều mũi, nhiều hướng tiến công của ta, hoặc co cụm lạigiữa những vị trí the chốt, những mút giao thông chiến lược quan trọng Làmcho ta phát huy được sở trường tạo ra sức mạnh to lớn giành thắng lợi
Trang 23Lực lượng của ta chủ động phối hợp với LLVT Lào đánh vào những vùngquan trọng về chiến lược nhưng mỏng yếu của địch, phá vỡ tùng mảng thế trậncủa địch Quân ta đã phối hợp chặt chẽ hoạt động giữa các cách, các mũi của lựclượng chủ lực, giữa bộ đội Việt Nam với nhân dân nước bạn, giữa chủ lực ta vớiLLVT địa phương Đó là sự hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng của hainước thuộc các đơn vị các nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh thắng quânPháp xâm lược.
d) Nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch trong Chiến dịch Hoà Bình
Trên cơ sở phân tích đánh giá đúng tình hình, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủyTrung ương quyết định chuyển từ tác chiến phản công sang tiến công tiêu diệtđịch Tổng Quân uỷ nhanh chóng xác định quyết tâm chiến đấu, kịp thời đề xuấtphương án tác chiến đánh địch trên cả 2 mặt trận: tiến công tiêu diệt địch ở HoàBình; đồng thời, tiến công, bao vây, tiêu hao, giam chân, căng xé lực lượng địch
ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh hoạt động du kích, xây dựng các tổchức chính trị, vũ trang ở những địa bàn đã mất hoặc chưa có, làm cơ sở để tậphợp quần chúng đấu tranh, vạch mặt kẻ thù Tổng Quân uỷ nhận định: đây làthời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt địch, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng,
mở rộng địa bàn hoạt động của ta Đánh ra Hoà Bình, quân Pháp sẽ phải đối mặtvới những khó khăn: địa hình rừng núi, cách xa “hậu phương”; hệ thống công sựchưa kịp xây dựng kiên cố, vững chắc nên phải rải quân trên một tuyến dài màkhông có “boong-ke” bảo vệ Đối với ta, tuy lúc đầu ở thế bị động, nhưng cáclực lượng ở mặt trận chính diện có điều kiện phát huy sở trường đánh địch ở địahình rừng núi, gần căn cứ, thuận tiện cho việc chỉ huy, chi viện, ứng cứu Còn ởmặt trận sau lưng địch, mặc dù phạm vi không gian tác chiến rộng, địa hìnhđồng bằng trống trải dễ bị địch phát hiện, nhưng lực lượng của ta được nhân dânche chở, đùm bọc… Căn cứ vào những phân tích, đề xuất đúng đắn mang tínhchiến lược của Tổng Quân uỷ, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch tiến côngvây đánh địch ở Hoà Bình; đồng thời, mở mặt trận tác chiến rộng khắp ở vùngsau lưng địch Đây là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến tài tình, sáng tạo của Đảng ta
Trang 24và Chủ tịch Hồ Chí Minh Lần đầu tiên trên chiến trường chính Bắc Bộ, ta chủđộng mở chiến dịch và phối hợp chặt chẽ hai mặt trận: chính diện và sau lưngđịch để đánh địch, giành quyền chủ động trên chiến trường
Chiến dịch đã huy động được đông đảo quần chúng nhân dân phối hợpcùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích tham gia chiến đấuvới tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí, linh hoạt và sẵn sàng cơ động tăngviện, ứng cứu giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch Chớp thời cơkhi địch mới đánh chiếm được thị xã Hoà Bình, chưa kịp củng cố địa bàn đứngchân, quân và dân ta ở hai mặt trận đồng loạt nổ súng tiến công mãnh liệt vàochỗ hiểm, yếu, thậm chí đánh thẳng vào chỗ mạnh nhưng tương đối sơ hở củađịch, làm cho chúng hoàn toàn bất ngờ, lúng túng, buộc phải vội vàng chuyển từthế tiến công sang phòng ngự thụ động
Tại mặt trận Hoà Bình, quân ta chủ động tiến công tiêu diệt cứ điểm TuVũ - Núi Chẹ - một vị trí quan trọng thuộc tuyến phòng thủ vòng ngoài của phânkhu sông Đà; đồng thời, sử dụng lực lượng thọc sâu đánh thẳng vào trung tâmHoà Bình và các mục tiêu trọng yếu, làm cho quân địch tan vỡ từng mảng lớn Ởmặt trận sau lưng địch, ta tổ chức Trung đoàn 48, Đại đoàn 320 cùng với LLVTđịa phương tiến công vào thị trấn Phát Diệm - căn cứ mạnh của địch ở đồngbằng Bắc Bộ, làm rung chuyển vùng tề nguỵ mạnh của địch Cùng với đó, ta tổchức đánh địch từ Vĩnh Phúc, Bắc Giang… đến Nam Định, Ninh Bình; trong đó,
có nhiều địa bàn vùng đồng bào tôn giáo mà địch cho là đã bình định được,nhưng nhờ có chính sách tôn giáo, dân vận đúng đắn của Đảng, bộ đội ta đãtranh thủ được lòng tin và sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng bào theo đạo Thiênchúa, nhanh chóng đánh chiếm nhiều cơ sở quan trọng của địch, mở rộng căn
cứ, thu hẹp đáng kể phạm vi chiếm đóng của địch; xây dựng, phát triển nhiềuđội du kích mới ở khắp các địa phương Như vậy, sự phối hợp chặt chẽ về thờigian, chọn mục tiêu hiểm, yếu; các lực lượng phối, kết hợp với nhau tiến côngđồng loạt vào nhiều mục tiêu ở hai chiến trường cách xa nhau làm cho lực lượngcủa địch bị giằng xé giữa hai mặt trận, đối phó lúng túng, bị động không thể chiviện, ứng cứu cho nhau Đó là thắng lợi của đường lối chỉ đạo chiến tranh đúng
Trang 25đắn, sáng tạo của Đảng, làm cho địch phải chấp nhận “một thất bại kép về chiếnlược” trên cả hai chiến trường.
Trang 26Với mục đích góp phần tạo nên sự thống nhất về quan điểm và nhận thứcđúng đắn về phối hợp LLVT, làm cơ sở chỉ đạo trong hoạt động huấn luyện,chiến đấu của bộ đội Việc nghiên cứu tổng kết để bổ sung hoàn thiện lý luận vềphối hợp LLVT là yêu cầu cấp thiết, phù hợp với sự phát triển tiên tiến của đốitượng tác chiến và điều kiện mới của chiến tranh BVTQ.
Trang 27Chương 2
NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG
CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954
2.1 Khái quát về chiến dịch Điện Biên Phủ
Trong thế kỉ XX, địa danh Điện Biên Phủ đã từng khiến cho nhân loạihướng về dải đất hình chữ S trên bán đảo Đông Dương, một nước nguyên làthuộc địa bị các thế lực thực dân xóa tên gần 100 năm trên bản đồ thế giới
Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùngrừng núi Tây Bắc Thung lũng này có chiều dài khoảng 18km, chiều rộngkhoảng 8km, ở gần biên giới Việt – Lào, nằm trên ngã ba đường lớn và đườngnhỏ quan trọng Đối với đế quốc Pháp – Mỹ, chúng coi Điện Biên Phủ là mộtđịa bàn chiến lược hết sức quan trọng, có thể trở thành một căn cứ lục quân vàkhông quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùngĐông Nam Á
Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ lúc đầu có khoảng 6 tiểu đoàn, đếnsau tăng dần để đối phó với cuộc tấn công của ta Khi quân ta bắt đầu tấn côngĐiện Biên Phủ thì lực lượng của chúng lên đến 12 tiểu đoàn và 7 đại bộ binh,trong quá trình chiến dịch, chúng tăng thêm 4 tiểu đoàn và 2 đại đội nhảy dùtổng cộng là 17 tiểu đoàn bộ binh Ngoài ra còn có 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểuđoàn công binh, 1 đại đội xe vận tải có khoảng 200 chiếc và một phi đội khôngquân thường trực có 14 chiếc, tổng số binh lực là 16200 tên
Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ được bố trí thành tập đoàn cứ điểmgồm 3 phân khu yểm hộ lẫn nhau, tất cả có 49 cứ điểm Mỗi cứ điểm đều có khảnăng phòng ngự, nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành những cụm cứ điểm gọilà trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp, có lực lượng cơ động, có hỏa lực củamình, xung quanh có hào giao thông và hàng rào dây thép gai, có khả năng độclập phòng ngự khá mạnh Mỗi một phân khu gồm có nhiều trung tâm đề khángkiên cố Mỗi một trung tâm đề kháng cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm đều
Trang 28được che chở bằng hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất và bằng một hệthống hỏa lực rất mạnh.
Về phía ta, ngay sau khi địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, trong khi bộđội chủ lực ta mở cuộc tấn công lên Lai Châu ta đã cho một bộ phận cấp tốc tiến
về phía tây, cắt liên lạc giữa Lai Châu và Điện Biên Phủ, bám sát địch, chuẩn bịchiến trường
So sánh lực lượng về quân sự ta còn thua kém địch về vũ khí, trang bị,phương tiện chiến tranh Đạn pháo dự trữ của ta hạn chế, ta hoàn toàn không có
xe tăng và chỉ có một trung đoàn cao xạ 37 ly để đối phó với toàn bộ khôngquân địch Về quân số, tỷ lệ giữa địch và ta là: 3,3/1; súng pháo: 3,1/1 Riênglực lượng không quân, Pháp có một phi đội máy bay 14 chiếc, ta 0 Quân đội tatuy có quân số đông đảo hơn nhiều đối phương nhưng chưa có kinh nghiệmđánh công kiên lớn trên cấp tiểu đoàn Trong từng trận đánh cụ thể, việc tiếp cậnđồn Pháp cũng không dễ dàng
Chiến dịch diễn biến thành 3 đợt:
Đợt thứ nhất: quân ta tiêu diệt các vị trí ngoại vi phía Bắc và Đông Bắc
của địch, cụ thể là tiêu diệt vị trí Him Lam và toàn bộ phân khu phía Bắc
Đợt thứ hai: dài hơn hết và ác liệt hơn hết, quân ta tiêu diệt khu vực
phòng ngự the chốt phân khu trung tâm của địch, đánh chiếm các ngọn đồi phíaĐông, chiếm lĩnh sân bay, tạo thành một vòng vây lửa xung quanh địch, từngbước thắt chặt vòng vây lại, thu hẹp phạm vi chiếm đóng, thu hẹp vùng trời củađịch, đi đến triệt hẳn nguồn tiếp viện và tiếp tế của địch
Đợt thứ ba: thời gian ngắn hơn, do các điều kiện thuận lợi đã được tạo
nên đầy đủ, quân ta đánh chiếm điểm cao cuối cùng ở phía Đông và chuyển sangtổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Ngày 7 tháng 5, quân ta đánh chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ cátvà toàn bộ bộ tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta bắtsống Toàn bộ địch còn lại lũ lượt kéo ra hàng Lá cờ Quyết chiến quyết thắngcủa quân ta đã được nêu cao trên cánh đồng Điện Biên Phủ Sau 55 ngày đêmchiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ Tập
Trang 29đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máybay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch Như vậy, tuy là chúng ta gặp nhiều hạn chế về địa hình, thời tiết, trang
bị, phương tiện chiến tranh gây ra khó khăn lớn Nhưng dưới sự lãnh đạo sángsuốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự đoàn kết toàn dân tộc, quân và dâncả nước, và phối hợp hiệp đồng chặt chẽ của các LLVT trong chiến dịch đã dốcsức cho chiến dịch với một quyết tâm cao độ, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánhthắng kẻ thù trong một thế trận hiểm học, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiếntrường kỳ
2.2 Nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
2.2.1 Thành phần và nhiệm vụ LLVT tham gia trong chiến dịch
Lực lượng QĐND Việt Nam tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các Đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316), 1 Trung đoàn công binh, 1 Trung đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu), 1 Trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 Trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367) sau được
tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu vốn là phối thuộc của Đại đoàn công pháo 351(công binh – pháo binh), cùng với đó là lực lượng CAND và lực lượng DQTVđã làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu
a) Lực lượng QĐND
* Đại đoàn 304
Đại đoàn 304 (nay là Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2), là một sư đoàn bộ
binh cơ giới của QĐNDViệt Nam, thuộc biên chế của Quân đoàn 2, được thành
lập ngày 10 tháng 3 năm 1950 Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị đã hoànthành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Hồng Cúm
Đại đoàn 304 bao gồm Trung đoàn 57 và Trung đoàn 9 theo đó là cáctiểu đoàn: 353, 375, 400, 265, 346, 418 Tham gia từ đợt 3 trong chiến dịch, đơn
vị đã tấn công đại phá cụm Hồng Cúm trong, 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954,
pháo binh ta mở màn chiến dịch Hồng Cúm, chỉ sau các loạt đạn đầu, đã bắntrúng trận địa pháo và sở chỉ huy của địch; làm tê liệt pháo binh địch, tiêu diệt