1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

116 3 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả Lê Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn TS. Hà Thanh Vân
Trường học Trường Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (9)
  • 3. Lịch sử vấn đề (9)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (15)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (16)
  • 6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
  • 7. Cấu trúc khóa luận (17)
    • 1.1. NHÀ VĂN NGUYỄ N HUY THI Ệ P VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC (18)
      • 1.1.1. Cuộc đời (18)
      • 1.1.2. Quá trình sáng tác (19)
    • 1.2. H Ệ TH Ố NG KHÁI NI Ệ M (23)
      • 1.2.1. Khái niệm “truyện ngắn” (23)
      • 1.2.2. Khái niệm “nhân vật” (24)
      • 1.2.3. Khái niệm “nhân v ậ t l ị ch s ử” (26)
      • 1.2.4. Khái niệm “nhân vật dã sử” (26)
    • 2.1. NHÂN V Ậ T L Ị CH S Ử VÀ DÃ S Ử TRONG B Ố I C Ả NH TH ỜI ĐẠ I (0)
      • 2.1.1. Nhân v ậ t l ị ch s ử trong b ố i c ả nh th ời đạ i (28)
        • 2.1.1.1. Nhân vật là vua (28)
        • 2.1.1.2. Nhân vật là tướng (36)
        • 2.1.1.3. Nhân vật là nhà thơ (39)
      • 2.1.2. Nhân v ậ t dã s ử trong b ố i c ả nh th ời đạ i (42)
        • 2.1.2.1. Nhân vật là tướng (42)
        • 2.1.2.2. Nhân vật là nữ nhi (50)
        • 2.1.2.3. Nhân vật là cầu nối lịch sử (53)
    • 2.2. NHÂN V Ậ T L Ị CH S Ử VÀ DÃ S Ử TRONG B Ố I C ẢNH VĂN HỌ C (0)
      • 2.2.1. Nhân v ậ t l ị ch s ử trong b ố i c ảnh văn họ c (55)
        • 2.2.1.1. Nhân vật là nhà thơ (55)
        • 2.2.1.2. Nhân vật là nhà văn (74)
      • 2.2.2. Nhân v ậ t dã s ử trong b ố i c ảnh văn họ c (78)
        • 2.2.2.1. Nhân vật là nữ (78)
        • 2.2.2.1. Nhân vật là thi sĩ (0)
  • CHƯƠNG 3. NGHỆ THU Ậ T XÂY D Ự NG NHÂN V Ậ T L Ị CH S Ử VÀ DÃ S Ử (84)
    • 3.1. XÂY D Ự NG NHÂN V Ậ T QUA NGO Ạ I HÌNH (84)
    • 3.2. XÂY D Ự NG NHÂN V ẬT QUA HÀNH ĐỘ NG (87)
    • 3.3. XÂY D Ự NG NHÂN V Ậ T QUA NGÔN NG Ữ (92)
      • 3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại (92)
      • 3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm (101)

Nội dung

Đánh dấu cho thành công ở thể loại này ông đã giành được một số giải thưởng quan trọng: - Ngày 9 tháng 7 năm 2007, ông được đại sứ Pháp ở Việt Nam trao tặng Huân chương Văn học Nghệ thuậ

Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận phân tích hệ thống các nhân vật chủ yếu trong “Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” một cách hệ thống và toàn diện Qua đó, tác phẩm khẳng định cái nhìn đa chiều, mới mẻ và táo bạo của Nguyễn Huy Thiệp về con người Hệ thống nhân vật phong phú, đa dạng góp phần thể hiện rõ nét quan điểm sáng tạo và cá tính nghệ thuật đặc trưng của nhà văn.

Thông qua nghệ thuật xây dựng nhân vật tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả khẳng định tài năng vượt trội của "ông vua" truyện ngắn Việt Nam Các nhân vật trong các tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc tâm lý và đời sống xã hội, thể hiện khả năng sáng tạo độc đáo của tác giả Với phong cách đặc trưng và chiều sâu tư duy, Nguyễn Huy Thiệp đã góp phần nâng cao vị thế của truyện ngắn trong văn học Việt Nam Chính nhờ khả năng khắc họa nhân vật tinh tế, ông đã tạo ra các tác phẩm mang giá trị nghệ thuật và nhân văn cao cả Đó chính là minh chứng rõ nét cho tài năng xuất sắc của nhà văn lừng danh này trong làng văn học Việt Nam.

Trong khóa luận này, người viết mong muốn mang đến cái nhìn toàn diện về các sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và những đóng góp nổi bật của ông cho nền văn học Việt Nam Bên cạnh đó, bài viết còn làm nổi bật tuyến nhân vật lịch sử và dã sử được thể hiện một cách sáng tạo, hấp dẫn qua lăng kính của tác giả Hy vọng luận văn sẽ góp phần hoàn thiện hình ảnh về Nguyễn Huy Thiệp, giúp bức tranh về ông trở nên sinh động và rõ nét hơn trong lòng người đọc.

Lịch sử vấn đề

Hai mươi năm trước, trong giai đoạn đổi mới đã làm hồi sinh đất nước và con người, đồng thời đưa văn học Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới đầy sâu sắc, phức tạp và phong phú Trong bối cảnh đó, "Hiện tượng" Nguyễn Huy Thiệp nổi bật như một biểu tượng tiêu biểu thể hiện sự đổi mới và sáng tạo trong nền văn học Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự đa dạng và toàn diện của các giá trị văn chương trong thời kỳ đổi mới.

Sự xuất hiện của ông trên văn đàn đã gây chấn động lớn trong giới văn chương và người đọc, đặc biệt khi tác phẩm "Tướng về hưu" của Nguyễn Khải ra mắt, khiến ông phải thốt lên đầy cảm xúc rằng.

Bài viết bắt đầu bằng câu hỏi suy nghĩ về việc đã viết xong, khiến người đọc cảm nhận được sự ngỡ ngàng và phân vân của tác giả Trong bối cảnh dư luận vẫn đang còn sôi động, bàn tán về truyện ngắn này, tác giả tiếp tục giới thiệu tác phẩm mới mang tên "Những ngọn gió," thể hiện sự sáng tạo liên tục của ông Nội dung này không chỉ nhấn mạnh quá trình sáng tác của tác giả mà còn góp phần thu hút sự chú ý của độc giả đến các tác phẩm mới đầy hấp dẫn và gây tranh cãi.

Nguyễn Huy Thiệp không chỉ nổi bật với các truyện ngắn mang đậm nét văn hóa và phong cách độc đáo như "Hua Tát," "Con gái thủy thần," "Không có vua," "Giọt máu," "Vàng lửa," "Kiếm sắc," và "Phẩm tiết," mà còn sáng tác kịch, tiểu thuyết và các tiểu luận văn chương, góp phần làm sục sôi giới văn học Việt Nam Chính ông được xem là người “nạp điện” cho sự chuyển mình của nền văn học Việt Nam khi xuất hiện và đưa nền văn học trở nên sôi động hơn trước Các ý kiến xung quanh hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong hơn hai thập kỷ qua đã có hàng trăm luận văn đại học và sau đại học, thể hiện tầm ảnh hưởng sâu rộng của ông trong giới nghiên cứu và sáng tác, và dự báo còn nhiều hơn thế nữa trong tương lai.

Trong hơn hai mươi năm qua, các ý kiến về Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của ông đã được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông chẳng hạn như báo chí Người viết dựa vào cuốn sách "Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp" của Phạm Xuân Nguyên – một tập hợp đầy đủ các bài viết về Nguyễn Huy Thiệp, trong đó khoảng một phần ba là các bài đã đăng trên báo chí – để tổng hợp và phân tích những nhận định, ý kiến liên quan đến "Nhân vật lịch sử và dã sử" trong sáng tác của ông Các nguồn tư liệu còn lại được lấy từ các tài liệu bên ngoài nhằm đảm bảo tính toàn diện và khách quan trong quá trình nghiên cứu và đánh giá về tác phẩm cũng như tác giả Nguyễn Huy Thiệp.

3.1 Ý kiến, nhận định về nội dung, hình thức có liên quan đến nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Trong “ Bàn thêm v ề truy ệ n ng ắ n Vàng L ử a c ủ a Nguy ễ n Huy Thi ệ p ”, Văn Giá nhận định: “…nhân vật của anh là những ẩn dụđa nghĩa Đặng Phú Lân (Kiếm sắc),

Phăng (Vàng lửa) thể hiện tinh thần của những ý tưởng sâu sắc và có chiều sâu, chính là mạch ngầm của các suy nghĩ trong tác phẩm Đó là các giả định, biểu hiện của những suy nghĩ chưa được hoàn thiện mà tác giả dự định gửi gắm đến độc giả Theo nhận định của Văn Giá, mỗi nhân vật sử của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, qua đó tác giả truyền tải những suy tư và cảm nghĩ chủ quan của mình tới người đọc Đặc biệt, Đào Duy Hiệp đã nhận định về Hồ Xuân Hương trong “Đọ c Chút Thoáng Xuân”, thể hiện nét đặc trưng và chiều sâu tâm hồn nhân vật.

Trong truyện ngắn "Chút thoáng," Hồ Xuân Hương không còn xuất hiện như một hình tượng nhân vật chính mà chỉ xuất hiện trong suy nghĩ so sánh của Tổng Cóc Bà chỉ xuất hiện qua những đồ vật mang nhiều dấu vết từ con người cũng như từ bàn tay nàng tạo ra, thể hiện qua cái nhìn ngắm của Tổng Cóc Điều này cho thấy hình tượng Hồ Xuân Hương trở nên mờ nhạt, chỉ còn hiện hữu trong ký ức và cảm nhận của nhân vật, góp phần tạo nên chiều sâu và cảm xúc riêng biệt trong tác phẩm.

Trong bài viết, Hồ Xuân Hương không xuất hiện trực tiếp mà xuất hiện qua góc nhìn của Tổng Cóc, giúp người đọc cảm nhận hình ảnh của nàng Hương qua lăng kính của nhân vật khác Cách thể hiện này tạo điều kiện cho độc giả tự đánh giá và rút ra nhận thức về nhân cách của cả hai nhân vật, từ đó tăng thêm chiều sâu và cảm xúc cho tác phẩm Phương pháp này không chỉ thể hiện tài năng của tác giả trong xây dựng nhân vật mà còn mở ra nhiều góc nhìn đa chiều về cuộc đời và tâm hồn của Hồ Xuân Hương.

Trong “ Có ngh ệ thu ậ t Ba-R ố c trong các truy ệ n ng ắ n c ủ a Nguy ễ n Huy Thi ệ p hay không? ” Thái Hòa, giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhận định rằng:

Thiên nhiên là chân lý không thể tránh khỏi, chứa đựng toàn bộ các quy luật tồn tại, trong đó có các quy luật sinh tồn của con người Những trò bàn luận của chúng ta dù có ý nghĩa thế nào đi nữa đều vô nghĩa khi so sánh với sự trung thực và toàn vẹn của thiên nhiên Thái Hòa nhận thấy nhân vật trong truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện sự lương thiện và đẹp về tâm hồn, tượng trưng cho những giá trị cao quý của nhân cách con người qua hình mẫu của Nguyễn Du.

Hồ Xuân Hương nhấn mạnh rằng nét đẹp chân thực xuất phát từ nội tâm và hòa quyện với thiên nhiên, phản ánh qua những con người đã trải qua thử thách cuộc đời như Nguyễn Du và chính bà Nhà văn ghi nhận chỉ có hai loại người đẹp: một là những người tinh khôi, gần gũi với tự nhiên, chưa bị cuộc sống làm vẩn đục, và hai là những người đã trải qua thất bại đau thương, trở nên trong trẻo và cao quý sau những thử thách đó Đặc biệt, vẻ đẹp của thiên nhiên như rừng mùa xuân, suối dịu dàng, ánh trăng lộng lẫy, và vẻ đẹp của vườn chè trong cảnh vật hòa quyện tạo nên hình ảnh thiên nhiên hài hòa, rộng lượng, góp phần tôn vinh vẻ đẹp tinh thần và vạn vật.

Nguyễn Mai Xuân và Trương Hồng Quang đã chỉ ra rằng kết cấu truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp gồm bốn phần chính, trong đó phần đầu là phần dẫn chuyện, kể về cách người kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã thu thập các “tư liệu cổ” Đặc biệt, nhân vật Quách Ngọc Minh nhận xét về hình ảnh trong truyện, qua đó làm nổi bật sự phân tích về cấu trúc và ý nghĩa của tác phẩm Kết cấu này thể hiện rõ nét như một tác phẩm văn xuôi nghệ thuật, góp phần làm rõ giá trị nội dung và hình thức của truyện ngắn.

Trong bài viết, người kể chuyện mô tả về Nguyễn như một người trẻ tuổi trong quán, mang nét trong trẻo lạ lùng và tâm hồn sạch như nước núi ra Những hình ảnh này phản ánh vẻ đẹp thuần khiết, trong sáng và tinh tế của Nguyễn, giúp người đọc cảm nhận rõ nét về nhân vật qua sự mô tả chân thực và sống động Đó chính là biểu tượng cho tâm hồn trong sáng, thể hiện qua cách tác giả xây dựng nhân vật một cách tinh tế, sâu sắc.

Trong bài viết, phần hai chiếm phần lớn dung lượng với các trích đoạn bút ký của Phăng, phản ánh nội dung quan trọng của truyện Tuy nhiên, hành động chính liên quan đến chủ đề Vàng lửa chỉ bắt đầu xuất hiện từ phần ba, đặc biệt là trong bút ký của người Bồ Đào Nha Phần bốn kết thúc truyện bằng ba đoạn kết giả định của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, thể hiện sự mở nút của toàn bộ câu chuyện.

Các nhà nghiên cứu văn học đã đồng ý rằng nhân vật Phăng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một thành công đặc biệt, thể hiện rõ tài năng sáng tạo của tác giả Nhân vật Phăng đã thành công trong việc truyền tải thông điệp của nhà văn đến độc giả, góp phần làm nổi bật khả năng xây dựng nhân vật sâu sắc và gây ấn tượng mạnh mẽ trong văn học Việt Nam Thành công này được thể hiện qua việc Nguyễn Huy Thiệp đã “làm cho người đọc khiêu vũ bằng chính giai điệu của riêng mình,” chứng tỏ kỹ năng viết và khả năng tạo dựng nhân vật sinh động của ông.

PGS.TS Đặng Anh Đào với bài viết về “ Ki ế p luân h ồ i c ủ a Nguy ễ n Trãi qua

Nguyễn Thị Lộ đã thể hiện rõ nỗi cô đơn nội tâm của nhân vật lịch sử Nguyễn Trãi, đặc biệt là cảm giác bị cô lập dù ở giữa cộng đồng Nguyễn Huy Thiệp sử dụng câu chuyện của Nguyễn Trãi để phản ánh cảm giác cô đơn của con người hiện đại, trong đó ý thức về sự khác biệt và cá nhân nổi bật hơn, đặc biệt ở Việt Nam ngày nay Nhà văn nhấn mạnh rằng, chúng ta thường sống theo “bầy đàn”, sợ bị chú ý hoặc phản đối, thay vì sống theo chính mình và phát huy cá tính riêng Thông qua đó, ông truyền tải thông điệp rằng mỗi người là một cá thể riêng biệt với những suy nghĩ và ước muốn khác nhau, và hãy sống đúng với chính mình, chứ không phải để chiều theo đám đông hay xăm xoi, phê phán người khác dựa trên chính kiến cá nhân.

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Nhung, khoa Việt Nam học (Đại Học Sư

Nhiệm vụ nghiên cứu

Bài viết bắt đầu giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn nổi bật trong nền văn học Việt Nam Tiếp theo, nội dung đi sâu vào phân tích vai trò của nhân vật lịch sử và nhân vật dân gian trong các truyện ngắn của ông, thể hiện cách ông khai thác tư duy lịch sử và truyền thống dân gian để xây dựng câu chuyện Ngoài ra, bài viết trình bày chi tiết về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, nhấn mạnh khả năng khắc họa tâm lý và tính cách nhân vật độc đáo Cuối cùng, bài viết tổng quát các đóng góp của ông cho văn học Việt Nam, đưa ra những nhận định khái quát giúp làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật và ý nghĩa nhân văn trong sáng tác của ông.

Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, hệ thống

Dựa trên cơ sở dữ liệu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta sẽ tiến hành thống kê các nhân vật chính trong tác phẩm của ông và hệ thống hóa thành các tuyến nhân vật rõ ràng Quá trình này nhằm làm rõ các đặc điểm và mối quan hệ của từng nhân vật, từ đó thể hiện sự đa dạng cũng như chiều sâu trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Việc phân loại các tuyến nhân vật giúp làm nổi bật các chủ đề chính và cấu trúc nội dung của truyện, đồng thời tối ưu hóa cho các hoạt động SEO liên quan đến văn học Việt Nam và tác giả Nguyễn Huy Thiệp.

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Dựa trên cấu trúc đề cương đã lập, người viết tiến hành phân tích từng truyện ngắn một cách chi tiết để làm rõ nội dung và chủ đề của đề tài Quá trình này bao gồm việc phân tích các chi tiết quan trọng nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của tác phẩm Sau đó, cần tách riêng những đặc điểm cá nhân của từng truyện và tổng hợp các đặc điểm chung để hoàn thiện bài luận một cách logic và thuyết phục Việc này giúp xây dựng một bài viết phân tích sâu sắc, có tính hệ thống và tối ưu hóa cho các yếu tố SEO như từ khóa chính, nội dung rõ ràng, mạch lạc.

5.3 Phương pháp văn hóa lịch sử

Nguyễn Huy Thiệp dựa vào bối cảnh thời đại để thể hiện phong cách viết truyện ngắn đặc trưng, qua đó làm nổi bật tuyến nhân vật độc đáo, góp phần truyền cảm hứng sáng tác nổi bật trong tác phẩm của ông.

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn nổi bật với những tác phẩm sáng tác dựa trên nhân vật lịch sử và dã sử, thể hiện phong cách viết đặc trưng giàu tính chất nhân văn và sáng tạo Các tác phẩm của ông không chỉ tái hiện lại các nhân vật xưa mà còn khai thác chiều sâu tâm lý, thể hiện cái nhìn sâu sắc về lịch sử và văn hóa Việt Nam Phong cách viết của Nguyễn Huy Thiệp nổi bật với sự tinh tế trong cách lựa chọn ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật và thể hiện các mâu thuẫn nội tâm, góp phần làm nổi bật nét đặc trưng riêng biệt trong văn học Việt Nam hiện đại Chính nhờ những đặc điểm này, các tác phẩm của ông luôn gây ấn tượng mạnh mẽ và mang lại giá trị nghệ thuật cao, mở ra những góc nhìn mới về các nhân vật lịch sử và dã sử trong văn học Việt Nam.

Cấu trúc khóa luận

NHÀ VĂN NGUYỄ N HUY THI Ệ P VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC

Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại Thanh Trì, Hà Nội, là nhà văn nổi bật của văn học Việt Nam Thuở nhỏ, ông cùng gia đình trải qua cuộc sống lưu lạc khắp các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên đến Phú Thọ và Vĩnh Phúc Những trải nghiệm này góp phần hình thành nên nét đặc trưng trong phong cách sáng tác của ông, mang đậm dấu ấn cuộc sống làng quê Việt Nam.

Nhà văn của chúng ta sinh ra trên đường, khi mẹ ông đang mang bầu và vẫn phải đi buôn để mưu sinh, phản ánh cuộc sống lam lũ của nông dân Việt Nam Nông thôn là nơi chứa đựng những ký ức thiêng liêng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giúp nhà văn hiểu rõ giá trị bản thân cũng như các tầng lớp xã hội khác Những ấn tượng về quê hương và người lao động đã in đậm trong các sáng tác của ông, như trong truyện ngắn "Những bài học nông thôn," nơi ông khẳng định: “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ở nông thôn”.

Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn là người am hiểu nho học và mẹ, vốn là người sùng đạo Phật

Năm 1960, ông cùng gia đình định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ, Hà Nội

Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và bắt đầu hành trình giảng dạy tại Tây Bắc, nơi để lại trong ông những ký ức khó quên về mười năm cắm bản Những trải nghiệm vượt qua khó khăn về đi lại, sinh hoạt hàng ngày và đối mặt với đói nghèo đã giúp ông tích lũy vốn sống quý giá, trở thành nguồn cảm hứng cho những tác phẩm văn học được độc giả yêu thích Chính sự giản dị, chân phương và những thử thách trong quá trình giảng dạy đã góp phần hình thành nên nét đặc biệt trong phong cách viết của ông.

Năm 1980, ông trở về Hà Nội và lập gia đình cùng vợ là cô giáo Trang, dạy môn lịch sử Khi cưới nhau, vợ ông công tác ở Bắc Ninh trong khi ông còn sống ở miền rừng núi Sơn La Con trai đầu lòng Nguyễn Huy Thiệp mới 3 tuổi khi gia đình trở về, khiến ông từ bỏ nghề dạy học để theo đuổi nhiều công việc khác nhau Ông đã từng làm công chức tại Cục xuất bản Bộ Giáo dục, Công ty Sách và Thiết bị Giáo dục, sau đó làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục Bản đồ trước khi nghỉ hưu.

Sự nghiệp cầm bút của ông bắt đầu trong bối cảnh nền văn học nước nhà đang chuyển mình đổi mới, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam Ông chính thức ra mắt tác phẩm đầu tiên khi đã 36 tuổi, khi đó đã có cuộc sống gia đình với vợ hai mặt con, trong đó con trưởng đã hơn mười tuổi Các tác phẩm của ông đa dạng gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, tiểu luận và phê bình văn học, thể hiện sự đa tài và phong phú trong sáng tạo Hiện nay, ông vẫn sinh sống cùng gia đình tại căn nhà số 71 Bùi Xương Trạch, Khương Đình, Hà Nội, nơi giữ gìn nhiều ký ức và dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Sau 30 năm cầm bút cống hiến cho sự nghiệp văn chương, Nguyễn Huy Thiệp đã quyết định dừng bút vào cuối năm 2014

Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu sự nghiệp sáng tác khá muộn, với những truyện ngắn đầu tiên đăng trên báo Văn Nghệ năm 1986 nhưng chưa gây tiếng vang Tác phẩm của ông thực sự được biết đến sau khi ra mắt cuốn sách "Tướng về hưu" năm 1987 Đặc biệt, chuỗi truyện "Kiếm Sắc," "Vàng Lửa," và "Phẩm Tiết" xuất bản vào tháng 4 năm 1988 đã giúp ông trở thành một tên tuổi nổi bật trong nền văn học Việt Nam.

“nổi đình đám” trong làng văn chương lúc bấy giờ

Gần 40 tuổi Nguyễn Huy Thiệp mới cho in truyện ngắn đầu tiên, nhưng chỉ sau vài năm ông đã trở thành một “hiện tượng” khiến văn đàn phải xôn xao Ngay cả một nhà văn tầm cỡnhư Nguyễn Khải, sau khi đọc Tướng vềhưu còn hoảng sợ nói rằng: “Tôi cầm bút cảđời, nhưng may ra tôi viết được một phần ba truyện như vậy” [36]

Nguyễn Huy Thiệp nổi bật với sở trường viết truyện ngắn, thể loại mà ông khai thác đa dạng về đề tài Các tác phẩm của ông bao gồm các chủ đề lịch sử và văn học, mang đậm hơi hướng huyền thoại và cổ tích, phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam đương đại, đời sống làng quê và những người lao động Hơn 40 truyện ngắn của ông chủ yếu được tập hợp trong các tập như "Những ngọn gió Hua Tát", góp phần khẳng định phong cách sáng tạo độc đáo của ông trong văn học Việt Nam.

Nguyễn Huy Thiệp là tác giả nổi bật với các tác phẩm tiêu biểu như "1989", "Con gái thủy thần" (Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1993), và "Xuân Hồng" (Tân Thư, California, 1994) Ông còn để lại dấu ấn với tuyển tập truyện ngắn chọn lọc mang tên "Những ngọn gió" (Văn Học, Hà Nội, 1995), phản ánh sâu sắc những tâm tư, cuộc sống qua lăng kính nghệ thuật Các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện phong cách viết đặc trưng, đầy cảm xúc và giàu ý nghĩa nhân văn, góp phần làm phong phú nền văn học Việt Nam đương đại.

(Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội, 2000), Mưa Nhã Nam (Văn Học, Hà Nội, 2001),

Nguyễn Huy Thiệp là tác giả nổi bật với tuyển tập truyện ngắn "Phụ Nữ" xuất bản năm 2001, cùng nhiều tác phẩm quan trọng khác như "Truyện ngắn" (Nxb Trẻ, 2003) và tập hợp các truyện huyền thoại, lịch sử trong "Những truyện huyền thoại và lịch sử" (Nxb Hội nhà văn, 2004) Ông còn sáng tạo các câu chuyện thành thị trong "Những truyện thành thị" và phản ánh cuộc sống nông thôn qua "Những truyện nông thôn" (đều do Nxb Hội nhà văn xuất bản năm 2004) Ngoài ra, các tác phẩm về danh nhân của ông góp phần làm phong phú kho tàng văn học Việt Nam.

2004), Những truyện tình yêu (Nxb Hội nhà văn, 2004), Cánh buồm nâu thuở ấy

(Hội nhà văn, 2005), Tình yêu, tội ác và trừng phạt (Tp.HCM, 2012), Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt (Tp HCM, 2013)

Ngoài sáng tác truyện ngắn, tác giả “Tướng về hưu” còn viết tiểu thuyết và thơ, trong đó tiểu thuyết của ông còn ít và chưa nổi trội bằng truyện ngắn Một số tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu gồm “Tiểu Long Nữ” (1996), “Tuổi hai mươi yêu dấu” (2002), và “Gạ tình lấy điểm” (2007) Các sáng tác kịch của Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu được tập hợp trong các tập như “Suối nhỏ êm dịu” (2001), “Mổ nhà văn” trên trang mạng Talawas, và “Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp”.

Nhà văn Trẻ, năm 2003, đã sáng tác nhiều vở kịch tiêu biểu như "Xuân Hồng", "Còn Lại Tình Yêu", "Gia Đình", "Nhà Tiên Tri" và "Hoa Sen Nở" vào ngày 29 tháng 4 Trong đó, tác phẩm "Vọng Bướm" nổi bật với nội dung sâu sắc và phong phú về tâm lý nhân vật, thể hiện rõ nét tài năng sáng tạo của tác giả trong lĩnh vực kịch bản chèo.

(Nxb Nhã Nam, 2012) gồm có hai tác phẩm là: Vong Bướm và Truyền thuyết tìm vua, đây là cuốn kịch bản chèo đầu tiên mà Nguyễn Huy Thiệp viết

Nguyễn Huy Thiệp sáng tác nhiều thơ dù chưa có tập thơ riêng được xuất bản, nhưng thơ của ông xuất hiện phổ biến trong các truyện ngắn Một số tác phẩm thơ của ông đã được dựng thành phim như "Tướng về hưu", "Thương nhớ đồng quê" (đạo diễn Đặng Nhật Minh) và "Những người thợ xẻ" Ngoài ra, thơ của ông còn xuất hiện trong kịch bản chèo "Vong Bướm" với những câu thơ lục bát vừa buồn vừa tươi sáng, thể hiện nét đặc sắc trong sáng tạo văn hóa của ông.

Nguyễn Huy Thiệp không chỉ nổi bật với các tác phẩm sáng tạo mà còn đóng góp đáng kể cho lĩnh vực phê bình văn học qua các bài viết trên báo chí Năm 2004, ông viết bài "Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn" được bắt nguồn từ cuộc trò chuyện trong chuyến đi chơi Tết Giáp Thân cùng bạn Thích Thiện Ngân đến vùng núi Kim Bôi - Hòa Bình, nơi ông chia sẻ những suy nghĩ về văn học Trong bài viết, nhà văn trình bày quan điểm cá nhân về vẻ đẹp của văn học, vấn đề doping trong văn học, góp phần làm rõ hơn về tư duy và nhận định của ông về sáng tác và phê bình.

Văn học hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức và thiếu những giá trị cốt lõi, điều này đã gây ra nhiều tranh luận sôi nổi trong giới văn chương suốt một thời gian dài Những suy nghĩ của Nguyễn Huy Thiệp được thể hiện qua các bài viết trong tập "Giăng lưới bắt chim," bao gồm tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu và ghi chú, góp phần thúc đẩy các cuộc tranh luận về văn học Việt Nam hiện đại Trong cuốn sách, ông phân tích các vấn đề như “Một góc sơ xuất trong thế giới nội tâm nhà văn” và “Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn,” nhấn mạnh vai trò của nội tâm và tư duy sáng tạo trong sáng tác văn học Những bài viết này đã góp phần khai phá và thảo luận sâu về con đường của nhà thơ và nhà văn, khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì và phát huy giá trị văn học đích thực trong thời đại mới.

H Ệ TH Ố NG KHÁI NI Ệ M

Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, truyện ngắn là loại truyện bằng văn xuôi có dung lượng nhỏ, tập trung miêu tả một số khía cạnh nhất định trong cuộc đời của nhân vật Khái niệm “truyện ngắn” này ngắn gọn và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt cốt lõi chính của thể loại này.

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường viết bằng văn xuôi, phản ánh các phương diện của đời sống con người và xã hội, với đặc điểm rõ ràng là dung lượng hạn chế, phù hợp để độc giả đọc liền một mạch Khác với các thể loại truyện trung đại và các hình thức chuyện kể dân gian, truyện ngắn phát triển mạnh mẽ trong văn học hiện đại, gắn liền với sự xuất hiện của báo chí Thường nhằm khắc họa một hiện tượng hoặc phát hiện đặc tính trong quan hệ xã hội hay đời sống tâm hồn, truyện ngắn thường có ít nhân vật và sự kiện phức tạp, nhân vật không tạo thành một thế giới hoàn chỉnh mà thường là biểu tượng cho các trạng thái xã hội hoặc tồn tại của con người.

Truyện ngắn là các tác phẩm tự sự có chiều dài ngắn, thường được viết bằng văn xuôi Nội dung của truyện ngắn phản ánh đa dạng các phương diện của đời sống con người và xã hội Đây là thể loại văn học nổi bật thể hiện khả năng truyền tải câu chuyện, cảm xúc, ý nghĩa sâu sắc trong một phạm vi nhỏ gọn, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về cuộc sống.

Nhân vật là khái niệm đa chiều không chỉ trong văn chương mà còn trong nhiều lĩnh vực khác nhau Theo bộ Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, "nhân vật" có thể là vai trong tác phẩm văn học, như nhân vật chính diện hoặc nhân vật điển hình, hoặc là người có tiếng tăm, vai vế, vai trò trong xã hội, như nhân vật lừng danh, nhân vật đáng kính Thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong đời sống nghệ thuật và xã hội, thể hiện sự đa dạng trong các lĩnh vực Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung phân tích khái niệm “nhân vật” trong các tác phẩm văn chương để làm rõ vai trò của họ trong câu chuyện.

Thuật ngữ "nhân vật" trong lý luận phương Tây bắt nguồn từ từ "persona" trong tiếng Latinh, nghĩa là mặt nạ diễn viên đeo khi biểu diễn kịch, sau này dùng để chỉ nhân vật trong văn học Từ lâu, chúng ta vẫn sử dụng thuật ngữ này, đặc biệt trong lĩnh vực văn chương, để chỉ đối tượng mà nhà văn miêu tả và thể hiện trong tác phẩm.

Nhân vật văn học là hình tượng các cá thể con người hoặc sinh vật trong tác phẩm, được nhà văn nhận thức, tái tạo và thể hiện qua các phương tiện nghệ thuật ngôn từ Các nhân vật bao gồm nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, nhân vật không tên như vợ Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân, các nhân vật trong truyện cổ tích, thần thoại, truyện ngụ ngôn mang tính ẩn dụ, như con sói trong Tiếng gọi nơi hoang dã của J.London hay con người – côn trùng trong Biến hình của Kafka Đây là những hình tượng đa dạng phản ánh các nét đặc sắc của đời sống và tâm hồn con người trong văn học.

Một định nghĩa khác về nhân vật trong cuốn Lí luận văn học của Lê Tiến Dũng:

Nhân vật trong tác phẩm văn học thường được hiểu là những con người được xây dựng bằng các phương tiện của văn học, nhưng phạm vi nhân vật rộng hơn nhiều Nhân vật có thể là những con người cụ thể như Thạch Sanh, A.Q, Chí Phèo hoặc chỉ xuất hiện qua đại từ như “tôi”, “chàng”, “thiếp” Ngoài ra, nhiều nhân vật trong văn học không phải là con người mà còn có thể là những sự vật, đồ vật như “bông hoa biết nói” hoặc “con cóc biết kiện trời”, trở thành nhân vật khi được “người hóa” và mang đặc điểm tâm hồn, tính cách như con người.

Nhân vật văn học được định nghĩa là hình tượng nghệ thuật phản ánh con người, thể hiện sự tồn tại toàn diện của con người trong nghệ thuật ngôn từ Ngoài con người, nhân vật còn bao gồm các loài vật, cây cối và các sinh thể tưởng tượng mang đặc điểm giống con người, tạo dấu ấn đặc trưng trong sáng tạo nghệ thuật Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, không thể hoàn toàn đồng nhất với nguyên mẫu thật ngoài đời Nó thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người và được xây dựng dựa trên những quan niệm đó, góp phần thể hiện cách nhìn nhận và quan điểm sáng tạo của tác giả.

Nhân vật văn học là đối tượng được xây dựng bằng các phương tiện văn học, thường là con người, động vật, cây cối hoặc đồ vật được “người hóa” nhằm phản ánh linh hồn và tính cách con người Các nhà văn và nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng nhân vật văn học mang tính ước lệ, không hoàn toàn đồng nhất với nguyên mẫu đời thực, phản ánh quan niệm nghệ thuật về con người qua lăng kính chủ quan của nhà văn Khái niệm về “nhân vật văn học” thể hiện sự sáng tạo và cách thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của tác giả thông qua các hình tượng nhân vật đặc trưng, góp phần quan trọng vào việc truyền tải nội dung và giá trị nghệ thuật trong tác phẩm văn học.

Lịch sử được định nghĩa là quá trình ra đời và phát triển của các sự kiện, nhân vật hoặc hiện tượng cho đến khi kết thúc hoặc tiêu vong, bao gồm lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử kiến trúc Môn khoa học nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người hoặc của quốc gia, dân tộc được gọi là lịch sử học Trong đó, vai trò của các nhân vật lịch sử đóng vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện qua những bước ngoặt trong lịch sử và ảnh hưởng định hướng của các sự kiện Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân vật lịch sử” là những nhân vật có thật trong lịch sử và mang ý nghĩa cũng như tính chất quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội và nền văn minh.

Dã sử là ký ức lịch sử truyền miệng trong dân gian, phản ánh các câu chuyện, truyền thuyết về quá khứ của dân tộc Khác với chính sử, được nhà nước tổ chức, biên soạn và công bố chính thức, dã sử góp phần giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống Theo từ điển Tiếng Việt, dã sử đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ nền văn hóa qua từng thế hệ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc.

Dã sử là các ghi chép về những chuyện truyền miệng trong dân gian, được viết bởi cá nhân và thường chứa đựng nhiều yếu tố hư cấu, khác biệt hoàn toàn so với chính sử Người ta còn gọi đó là truyện dã sử, nhằm phân biệt với các loại sử chính thống Khi kết hợp khái niệm “nhân vật” và “dã sử,” ta sẽ có khái niệm “nhân vật dã sử,” chỉ những nhân vật xuất hiện trong các câu chuyện truyền miệng dân gian do cá nhân sáng tác, thường mang yếu tố giả tưởng hoặc hư cấu.

Nhân vật dã sử là những nhân vật trong chuyện truyền thuyết dân gian, do dân gian ghi chép và lưu truyền chứ không do nhà nước chủ trì hoặc các sử quan phụ trách Khác với chính sử, các ghi chép về nhân vật dã sử phản ánh quan niệm và truyền thống của dân gian, không chịu sự kiểm duyệt của chế độ chính trị Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn của mình đã xây dựng các nhân vật mang nét đặc trưng của dã sử, như Quách Ngọc, thể hiện sự phong phú và đa dạng của các nhân vật trong kho tàng truyền thuyết dân gian.

Nguyễn Huy Thiệp đã hư cấu các nhân vật như Minh, Ngô Thị Vinh Hoa, Phăng, Đặng Phú Lân, tạo ra một lớp màu sắc của dã sử để khiến người đọc tưởng tượng đây là những nhân vật lịch sử thật sự Ông sử dụng kỹ thuật kể chuyện đặc biệt, làm cho các nhân vật này như những người ghi chép hoặc kể lại các chuyện trong lịch sử, từ đó tạo ra cảm giác về tính khách quan của câu chuyện dù nó do ông sáng tạo Chính lối kể chuyện này giúp Nguyễn Huy Thiệp dù hư cấu các nhân vật nhưng vẫn mang đến một chân thực, sinh động và mang tính lịch sử rõ nét.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, “nhân vật dã sử” là những nhân vật mang đậm nét màu sắc dã sử, phản ánh truyền thuyết và lịch sử dân tộc một cách tự nhiên và chân thực Để thuận tiện cho việc gọi tên và nghiên cứu, tác giả tạm gọi những nhân vật này là “nhân vật dã sử,” giúp làm rõ đặc điểm lai lịch và ý nghĩa của các nhân vật trong tác phẩm Những nhân vật dã sử trong tác phẩm không chỉ tái hiện các câu chuyện lịch sử mà còn thể hiện sâu sắc các ý nghĩa nhân sinh và phản ánh chân thực cuộc sống.

NHÂN V Ậ T L Ị CH S Ử VÀ DÃ S Ử TRONG B Ố I C Ả NH TH ỜI ĐẠ I

Nguyễn Huy Thiệp nổi bật với các sáng tác mang khuynh hướng hư cấu lịch sử, đóng vai trò quan trọng trong văn học đổi mới Ông sử dụng phương pháp tiếp cận sáng tạo để nhìn nhận lịch sử từ nhiều góc độ và quan điểm cá nhân, góp phần làm mới hình thức thể hiện và khai thác đề tài lịch sử trong văn học Các tác phẩm tiêu biểu như Kiếm Sắc, Vàng Lửa, Phẩm Tiết, Mưa Nhã Nam và Nguyễn Thị Lộ đã thu hút sự chú ý nhờ cách xử lý độc đáo này Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp thường là những danh nhân lịch sử nổi tiếng như Quang Trung, Nguyễn Ánh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Hoàng Hoa Thám, cũng như những nhân vật hư cấu như Phăng, Đặng Phú Lân, Ngô Thị Vinh Hoa nhằm kết nối thực và ảo, thể hiện các vấn đề xã hội, chính trị qua góc nhìn của tác giả Việc phân tích tuyến nhân vật lịch sử và dã sử trong bối cảnh thời đại và văn học của Nguyễn Huy Thiệp giúp làm rõ ý nghĩa sâu xa trong các tác phẩm của ông.

2.1 Nhân vật lịch sử và dã sử của Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh thời đại 2.1.1 Nhân vật lịch sử trong bối cảnh thời đại

Nguyễn Huy Thiệp sử dụng ngòi bút hư cấu để khắc họa nhân vật lịch sử, biến đổi nhân vật theo phong cách tiểu thuyết sống động và mới mẻ Nhà văn đã khai thác hình tượng vua Gia Long dưới nhiều góc độ, phản ánh tính cách sâu sắc và tâm lý nội tâm của ông, vượt ra ngoài các ghi chép chính sử Trong các tác phẩm như Kiếm sắc, Vàng lửa và Phẩm tiết, vua Gia Long được thể hiện bằng một diện mạo đa chiều, mang đến cái nhìn mới mẻ và sinh động về nhân vật lịch sử này Đặc biệt, bài viết bắt đầu bằng việc tìm hiểu nhân vật vua Gia Long qua truyện ngắn Kiếm sắc, mở ra góc nhìn khác biệt về cuộc đời và tâm lý vị vua này.

Truyện lấy bối cảnh đất nước vào thời Nguyễn Phúc Ánh làm vua, khi phong trào Tây Sơn đang nổi lên mạnh mẽ Nguyễn Ánh được miêu tả là người đa mưu, túc kế, kiên trì, không tin ai, đề cao chữ hiệp và lễ nghĩa, trong khi bỏ qua nhân nghĩa, trí tín Giai thoại về ông cũng rất kỳ ảo, như việc “Ánh xuất quỷ nhập thần” hoặc mây đen cuồn cuộn kéo theo mỗi khi ông đi qua, khiến dân chúng liên tưởng đến điềm báo mưa Trong tác phẩm, nhà văn đã khắc họa hình ảnh vua Gia Long sống động và mới mẻ hơn so với chính sử, thể hiện qua những chi tiết sinh động như “Ánh cười ha hả”, “Ánh cau mày”, “Ánh ngồi im”, “Ánh bảo”, “Ánh nghiến răng nói”, “Ánh vỗ tay reo”, hay “Ánh toát cả mồ hôi”, giúp người đọc cảm nhận rõ nét tính cách và cảm xúc của nhân vật.

“Ánh cầm thanh kiếm”, tất cả những hành động sắc thái trên cho ta cảm nhận được

Nguyễn Ánh, người đã sống và khẳng định vị trí lịch sử của mình, là đối thủ của Nguyễn Huệ trong một cuộc chiến tranh khốc liệt và đầy thù địch Mặc dù họ đứng trên hai chiến tuyến trái ngược nhau, chúng ta không biết rõ cuộc trò chuyện cụ thể giữa họ, chỉ có thông tin về sự trả thù tàn bạ để khẳng định ý chí báo thù của Nguyễn Ánh sau khi thống nhất đất nước Nguyễn Huy Thiệp đã mô tả câu nói của Nguyễn Ánh về Nguyễn Huệ, thể hiện sự thù địch và căm phẫn sâu sắc với đối phương, với lời lẽ khắc nghiệt và ý chí trả thù đến cùng Cuối cùng, sự trả thù của Nguyễn Ánh đã thành hiện thực, với các hành động tàn bạo như lôi kéo Nguyễn Huệ từ mồ và nghiền xương, giam giữ đầu lâu trong nhà ngục, kéo theo việc ông lên ngôi hoàng đế năm 1802 với niên hiệu Gia Long Sau đó, cuộc chiến tranh kết thúc bằng việc chiếm đóng Nghệ An, Thanh Hóa và các vùng phía Bắc, các lãnh đạo Tây Sơn lần lượt bị bắt và hành hình, đánh dấu sự hoàn tất của cuộc chiến tranh và sự thống nhất của đất nước.

Nguyễn Ánh không chỉ là người tàn ác mà còn có khả năng yêu thích cái đẹp và thưởng thức âm nhạc, thể hiện rõ qua những cảm xúc chân thật khi lắng nghe các bài hát như “Triều Thiên Tử” và “Tình sông núi” Khi nghe ca nữ hát “Triều Thiên Tử”, ông đã reo lên “hát hay quá”, còn bài “Tình sông núi” lại khiến ông cau mày vì cảm thấy buồn Trong hành trình đi Bắc Hà, tiếng hát của ca nữ vẫn còn văng vẳng trong đầu ông với hình ảnh “tiếng hát ca nữ bên tai, tiếng gió thổi, tiếng gươm đao không át được”, cho thấy cảm xúc chân thực của Nguyễn Ánh về cái đẹp và cảm xúc cá nhân Ngoài ra, ông còn biết sợ hãi và cảnh giác, phòng ngừa bề tôi hãm hại, thể hiện cuộc sống đời thường rất đời thường của một vị vua Mặc dù đã đạt đến đỉnh cao quyền lực, bên trong tâm hồn ông vẫn ấp ủ mong muốn trở về cuộc sống bình dị: “Ta chỉ thích như người thường thôi”, nhưng ước mơ này lại mâu thuẫn với nghiệp đế vương, khiến Nguyễn Ánh không thể đặt lợi ích cá nhân lên trên.

Trong truyện ngắn Vàng lửa, hình ảnh vua Gia Long được phản ánh qua góc nhìn của nhân vật Phăng, một người châu Âu hoàn toàn do Nguyễn Huy Thiệp hư cấu Núm phần đầu, nhà văn tái hiện lại tập bút ký của Phăng viết về Nguyễn Ánh, trong đó mô tả hình dáng của vua: “Nhà vua cưỡi ngựa, lưng rất thẳng Ở giữa thiên nhiên, trông ông rạng rỡ, mất đi vẻ đăm chiêu cau có hàng ngày”, thể hiện cảnh tượng nhà vua hòa mình cùng thiên nhiên, trở về làm con người bình thường, khoảnh khắc ông “rạng rỡ hẳn lên” Tuy nhiên, chỉ trong chốc lát, ông lại trở thành người sắc sảo và hiểu đời, bởi vì biết quá nhiều, ông cảm thấy chán ngán và tâm sự với nhân vật Phăng về nỗi buồn đó.

Nguyễn Ánh là một vị vua hiểu biết sâu rộng nhưng phải đối mặt với cuộc sống đầy phức tạp và trách nhiệm nặng nề Ông luôn nhận thức rõ về mánh khóe của triều đình và sự sinh tồn của ngai vàng, dẫn đến cảm giác cô đơn và bất lực: “Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ,” ông đóng vai trò người cha nghiêm khắc và người chồng đáng kính trong triều đình Dù biết rõ những yếu tố tiêu cực trong nội bộ và nghèo đói của đất nước, ông vẫn giữ vững trách nhiệm, đấu tranh nội tâm để tìm phương án tốt nhất Lịch sử về Nguyễn Ánh được thể hiện chân thực qua góc nhìn nhân hậu của Nguyễn Huy Thiệp, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn về tâm trạng và nhân cách của vị vua này Ngay cả những hành động nhỏ như việc tướng Vũ Văn Hoàn tự ý cướp của cải, mỹ nữ sau khi chiếm Phú Xuân cũng phản ánh một phần về đời sống và quyết định của Nguyễn Ánh, cho thấy ông không chỉ là một nhà vua mà còn là một con người có những trăn trở và cảm xúc sâu sắc.

Dù đời người ít hay nhiều, chúng ta đều đôi lần thốt ra lời nói tục, phản ánh cảm xúc chân thật trong những tình huống căng thẳng Vua Nguyễn Ánh, người trải qua bao trận chiến khốc liệt trước khi lên ngôi, cũng không tránh khỏi những lời nói mang tính xúc phạm trong cơn giận dữ, điều này dễ hiểu khi thể hiện cảm xúc tiêu cực Tuy nhiên, trong các tình huống xúc động, nhà vua không khỏi cảm thấy mềm lòng trước vẻ đẹp tuyệt mỹ của Ngô Thị Vinh Hoa, khiến ông mong muốn được trở thành người bình thường để thoả mãn ước ao sống chân thật, thấp hèn như bao người khác Chính vì vậy, ý niệm về sứ mệnh đế vương trở nên khắc nghiệt, mang nặng những giới hạn mà người đứng đầu không thể dễ dàng thoát khỏi, dù có những cảm xúc chân thành hay tức giận nhất.

Nguyễn Huy Thiệp đã vượt ra khỏi các khuôn mẫu cố định về nhân vật lịch sử để xây dựng hình tượng Nguyễn Ánh theo cách bình dị, gần gũi và chân thực nhất Ông thể hiện nhân vật không chỉ là một bậc đế vương mưu mô, mà còn là một con người có cảm xúc, đam mê và ước vọng đời thường, giúp độc giả dễ dàng đồng cảm hơn Bằng cách đưa vào truyện hai nhân vật Phăng và Đặng Phú Lân để dẫn dắt các hành động, lời nói của Nguyễn Ánh, tác giả tạo nên những tình tiết vừa giả vừa thật, mang lại cảm xúc đa chiều và sự sinh động cho nhân vật Những chi tiết này còn làm nổi bật sự gần gũi giữa Nguyễn Ánh và con người hiện đại, đồng thời giữ nguyên bản chất lịch sử của vị vua Gia Long, dù được thêm thắt những nét mới và bất ngờ Thông qua đó, Nguyễn Huy Thiệp tái hiện nhân vật một cách chân thực, đồng thời làm rõ vị thế của Gia Long trong lịch sử với hình tượng gần gũi nhưng không mất đi giá trị lịch sử của ông.

Triều Nguyễn của vua Gia Long là một triều đình kém cỏi và để lại nhiều lăng tẩm, thể hiện sự lãng phí và xa hoa quá mức Vị vua này đã mang dân tộc ra để phục vụ lợi ích cá nhân và không ngần ngại lừa dối nhân dân, ngay cả khi hiểu rõ sự thật, ông vẫn chọn im lặng để giữ vững quyền lực và ngai vàng Trong triều đại này, chỉ hoàng tộc mới giàu có và xây dựng nhiều lăng tẩm, trong khi nhân dân khổ cực và nghèo đói Dù Nguyễn Huy Thiệp sáng tạo nhân vật như thế nào, ông vẫn giữ nguyên bản chất lịch sử của nhân vật, chứng minh rằng ông không hề “bóp méo” lịch sử như nhiều ý kiến từng cho rằng.

Nguyễn Ánh trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là hình tượng può trụ, đa mưu, tài trí, kiên trì, không tin ai, dùng người dựa trên nguyên tắc chữ hiệp, chữ lễ, nhằm xóa bỏ các định kiến thần thánh hóa về nhân vật lịch sử và phản ánh những vấn đề của thời đại hiện tại Trong khi đó, Nguyễn Ánh của Sương Nguyệt Minh mang hình ảnh một người máu lạnh, dâm đãng, thiếu suy nghĩ về chiến lược, thể hiện một nhân vật tầm thường, vô học, không có phẩm chất anh hùng hay ý chí lớn, phản ánh một góc nhìn biếm họa về nhân vật lịch sử Cả hai tác giả đều xây dựng nhân vật Nguyễn Ánh nhằm “giải thiêng”, nhưng mỗi người lại mang một ý nghĩa và góc nhìn riêng, phản ánh quan điểm văn học và xã hội của từng thời kỳ.

Hương lặp lại khuôn mẫu của Kiếm sắc khi Nguyễn Ánh có người phò trợ là Đặng Phú Lân ở Kiếm sắc và Trần Huy Sán ở Dị hương, cả hai đều tận tụy phụng sự Nguyễn Ánh và cùng dự cảm về cái chết của mình dưới tay ông Cả hai đều bị Nguyễn Ánh chém đầu trong những cảnh tượng kỳ lạ; khi Nguyễn Ánh chém đầu Lân, máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây rồi bết lại, tạo nên hình ảnh chết chóc kỳ quái Dị hương kể rõ rằng Trần Huy Sán vươn cổ như thách thức, và trong khoảnh khắc ngoằn ngoèo như sét đánh, Nguyễn Ánh đã thật sự chém đầu ông, thể hiện sự tàn nhẫn và biện pháp báo thù đặc sắc trong truyền thống.

Chõ xôi lăn lông lốc rồi dừng lại, mắt Sán hấp háy, miệng nhếch mép cười cợt, tạo nên hình ảnh sống động về cảm giác bất ngờ Bỗng dưng, mùi dị hương ào ạt xông lên rồi mất hẳn, phản ánh một hiện tượng kỳ lạ như cái chết bí ẩn của Lân trong Kiếm Sắc Câu chuyện xuất hiện những yếu tố huyền bí và sự kiện khó lý giải, góp phần tăng tính hấp dẫn và bí ẩn cho bài viết.

Trong phân tích trên, ta nhận thấy rằng Kiếm Sắc của nhà văn đã thành công vang dội trong việc xây dựng nhân vật qua nhiều chất liệu mới và sáng tạo, mang lại sức hút đặc biệt cho tác phẩm Ngược lại, Dị Hương lại dựa trên sự bắt chước không mới mẻ, dẫn dắt độc giả tới cảm giác quen thuộc và ít gây đột phá Thực sự, rất khó để bắt chước phong cách viết của Nguyễn Huy Thiệp, với những câu văn như muốn lột trần tất thảy mọi thứ, nhưng bên trong lại chứa đựng sức mạnh nội tại và thâm ý văn chương sâu xa, thể hiện rõ nét tài năng cũng như chiều sâu nghệ thuật của ông.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã sáng tạo nhân vật vua Gia Long một cách tài tình, phản ánh đầy đủ các cảm xúc và chiều sâu tính cách của một con người Không chỉ tập trung vào nhân vật vua Gia Long, tác giả còn xây dựng hình tượng vua Quang Trung nhưng dưới góc nhìn hẹp hơn, chủ yếu khai thác phẩm chất con người khi đối diện với vẻ đẹp Cách thể hiện này giúp làm nổi bật tâm lý và phẩm chất đạo đức của các nhân vật lịch sử trong tác phẩm.

Xây dựng song song với vua Gia Long là vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) Nhà văn xây dựng hình ảnh Nguyễn Huệ qua truyện ngắn Phẩm tiết Tuy

NHÂN V Ậ T L Ị CH S Ử VÀ DÃ S Ử TRONG B Ố I C ẢNH VĂN HỌ C

Nguyễn Huy Thiệp xây dựng nhân vật Quách Ngọc Minh như một chất kết dính quan trọng giữa ba tác phẩm, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp người đọc cảm nhận sự giao hòa giữa hai thời kỳ cách nhau hai trăm năm Nhân vật này không chỉ giúp tái hiện những nét đặc trưng của con người ở hai thế kỷ khác nhau mà còn thể hiện những điểm tương đồng về cảm xúc và hành động, như tình yêu, buồn vui, chia sẻ và hy sinh Đừng nhìn nhận họ chỉ qua vẻ ngoài của những người cống hiến, bởi trong con người họ còn tồn tại lòng đố kỵ, ích kỷ, phản ánh rõ nét tính cách đa dạng và phức tạp của nhân vật trong lịch sử Việc xây dựng nhân vật như Quách Ngọc Minh góp phần làm rõ sự liên kết giữa quá khứ và hiện tại, giúp độc giả thấu hiểu sâu sắc hơn về những giá trị nhân văn và lịch sử qua các thời đại.

Khoảnh khắc lịch sử là những thời điểm khiến ai cũng kính phục, nhưng chỉ dựa vào đó thôi chưa đủ để đánh giá phẩm chất của một con người Dù nhân vật trong câu chuyện không tồn tại ngoài đời thực và các hành động, lời nói của họ mang tính hư cấu, nhưng chúng vẫn có giá trị trong việc chuyển tải thông điệp từ tác giả tới người đọc.

2.2 Nhân vật lịch sử và dã sử của Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh văn học 2.2.1 Nhân vật lịch sử trong bối cảnh văn học

Trong bài viết này, Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa các nhân vật lịch sử trong bối cảnh văn học bằng cách đặt họ vào cuộc đời thật, giúp làm nổi bật nét chân thực và sâu sắc của từng cá nhân Tác giả thể hiện nhân vật hoạt động sống động và chân thực qua các biểu cảm cảm xúc, tâm trạng phong phú và đặc sắc, tạo nên một hình ảnh sinh động, sâu sắc về những nhân vật lịch sử trong lòng người đọc.

2.2.1.1 Nhân vật là nhà thơ

Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ thiên tài nổi bật trong văn học Việt Nam, nhưng đường tình duyên của bà lại gặp nhiều trắc trở Trong truyện ngắn "Chút thoáng Xuân Hương" của Nguyễn Huy Thiệp, hình ảnh của "Bà chúa thơ nôm" hiện lên sinh động và độc đáo qua ngòi bút tài tình của tác giả Câu chuyện được chia thành ba phần, xoay quanh mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương và ba nhân vật: Tổng Cóc, ông phủ Vĩnh Tường, và Chiêu Hổ, những người có liên quan gần gũi với bà trong thời kỳ sáng tác.

Tổng Cóc là nhân vật bí ẩn với tuổi tác và gốc tích không rõ ràng, nhưng tên tuổi của ông được biết đến qua bài thơ “Khóc Tổng Cóc” của Hồ Xuân Hương.

Chàng Cóc ơi ! Chàng cóc ơi ! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi, Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi

Bài thơ trên mang tính trào phúng, thể hiện sự không cảm xúc của nàng Hương dành cho ông chồng dốt nát và hay ăn chơi phóng đãng Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn "Giai nhân di mặc" (NXB Đông Kinh ấn quán, Hà Nội), nội dung này phản ánh sự chê trách về tính cách của nhân vật Trong khi đó, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn trong bài phóng sự "Điền dã" mô tả Tổng Cóc là người Tứ xã, tên thật là Kình, tự là Nguyễn Công Hòa, góp phần làm rõ nét nhân vật và bối cảnh của tác phẩm.

“Tổng Cóc, tên gọi xấu xí thời thơ ấu để tránh ma quỷ bắt đi, sau này đạt tới chức Phó Tổng và xuất thân từ dòng dõi Nguyễn Quang Thành, người đỗ Tiến sĩ năm 1680, là một nho sinh có trình độ học vấn cao, từng làm họa với Xuân Hương chứ không phải người ngu đần như nhiều người nghĩ Tổng Cóc có tính cách thích hưởng thụ, lấy Xuân Hương – người hoang phí và nghệ sĩ – làm vợ, dẫn đến gia đình sa sút, vợ cả ghen tuông, và ông bỏ đi biệt tích sau khi để lại lá thư từ giã, trong khi Xuân Hương đã có thai ba tháng Sau đó, Xuân Hương cũng rời bỏ nhà cửa, sinh hạ một đứa con gái nhưng không thể nuôi dưỡng, khi đó bà đang làm lẽ cho ông Phủ Vĩnh Tường Tổng Cóc từng dò tìm tới nhưng không dám đối mặt, và Xuân Hương đã sáng tác bài “Khóc Tổng Cóc” để gửi cho chồng cũ, thực chất là thể hiện nỗi đau của mối tình cũ, không phải để trào lộng hay than vãn về cái chết của Tổng Cóc như nhiều người nghĩ, vì làm vậy sẽ khiến bà bị hiểu lầm là ác nhân, thiếu nhân hậu.”

Trong truyện ngắn "Chút thoáng Xuân Hương," nhân vật Tổng Cóc đóng vai trò trung tâm thúc đẩy câu chuyện phát triển, thông qua các suy nghĩ, hành động và lời nói tại nhà Hình ảnh Xuân Hương xuất hiện khẽ nhẹ trong từng ngóc ngách của ngôi nhà, dù mờ nhạt qua các đồ vật, nhưng vẫn thể hiện rõ nét về một người vợ chu đáo, biết lo toan cho gia đình Mở đầu câu chuyện, Tổng Cóc ngắm sân lát gạch Bát Tràng rỗ ràng, rồi suy nghĩ, cầm chai rượu sành mở nút lá chuối rót ra chén, đó chính là rượu Kinh Bắc mà Xuân Hương mang về quê ngoại, thể hiện sự nhớ thương và tình yêu của nàng dành cho chồng, luôn mang quà từ nơi xa về nhà.

Trong truyện, lần đầu tiên Xuân Hương xuất hiện trong suy nghĩ của Tổng Cóc mà không đóng vai trò nhân vật chính, thể hiện sự hiện diện của nàng qua hình ảnh tinh tế và trang nghiêm Lần thứ hai, hình ảnh của Xuân Hương vẫn xuất hiện qua cảm nhận của Tổng Cóc khi ông hài lòng xem bàn thờ sạch sẽ, với nải chuối trứng cuốc và đĩa hoa thơm tinh khiết, cho thấy nàng đã dọn dẹp bàn thờ từ sớm để chuẩn bị cho ngày mồng Ba tháng Ba, phản ánh sự kính trọng và lòng thành kính của ông dành cho nàng.

Xuân Hương xuất hiện trong suy nghĩ của Tổng Cóc qua từng hình ảnh đều thể hiện sự chuẩn bị và hòa mình vào không khí lễ hội truyền thống, như dọn dẹp bàn thờ, đặt nải chuối và hoa trên đĩa từ sớm Ba lần Xuân Hương xuất hiện đều được kể qua những việc đã hoàn thành, ví dụ như bỏ lát gừng vào ấm trà để tạo hương thơm đặc biệt hoặc làm bánh trôi vừa xong, mang lại cảm giác gần gũi và chân thực của các hoạt động lễ ngày Tết Các lần xuất hiện này ngày càng gần hơn với hiện thực, khiến người đọc có cảm giác sắp chạm mặt hoặc chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa nàng và Tổng Cóc, nhưng tác giả chỉ giữ lại hình ảnh qua suy nghĩ của Tổng, không để lộ cảnh gặp mặt trực tiếp hay đối thoại giữa họ.

Xuân Hương xuất hiện trong tác phẩm như một hình bóng huyền diệu, nhẹ nhàng hòa quyện vào không gian dân gian và tâm thức của làng quê Việt Nam xưa, qua những hình ảnh tượng trưng như quả thị giúp đỡ bà cụ hay tiếng mõ rao báo điềm chẳng lành Cảnh vật và nhân vật đều được khắc họa bằng nét đẹp huyền ảo, đối lập với bối cảnh buồn bã của làng quê, làm nổi bật vẻ đẹp tao nhã và hư ảo của nàng Trong câu chuyện thứ hai, bối cảnh là đám tang của ông phủ Vĩnh Tường – người chồng thứ hai của bà Hồ Xuân Hương, dù tên chính xác của ông vẫn chưa rõ, nhưng theo nhiều giả thuyết, ông tên là Trần Phúc Hiển, qua đó cảm xúc buồn thương đã thúc đẩy Xuân Hương sáng tác bài thơ “Khóc ông phủ Vĩnh Tường”.

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

Cái nợba sinh đã trả rồi Chôn chặt văn chương ba tấc đất Tung hê hồ thỉ bốn phương trời

Cán cân tạo hoá rơi đâu mất?

Miệng túi tàn khôn khép lại rồi

Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc

Ông phủ Vĩnh Tường là một nhân vật có học vấn, nay đã mất, để lại nỗi tiếc thương cho Hồ Xuân Hương, người đã mất chồng và cả bạn văn chương của mình Qua bài thơ, ta thấy Xuân Hương làm vợ lẽ của ông phủ trong thời gian ngắn chỉ 27 tháng, phản ánh mối quan hệ phức tạp và ngắn ngủi giữa hai người Trong truyện, điểm nhìn chính là từ góc nhìn của em họ ông phủ Vĩnh Tường là ấm Huy, người quan sát đám tang của ông anh, và qua đó, ta nhận thấy đám tang diễn ra bình thường, không có sự rối rắm hay lộn xộn, mà còn thể hiện sự kính trọng dành cho Hồ Xuân Hương Ấm Huy rất kính trọng chị dâu vì bà thể hiện sự sáng suốt hơn chồng, tạo nên ấn tượng về một người phụ nữ có uy tín và đức hạnh Ngay cả tri huyện Thặng, người nổi tiếng đục khoét dân, cũng phải thán phục và kính nể Xuân Hương vì bà công bằng và chính trực, chứng tỏ uy tín và vẻ đẹp của nhân vật trong câu chuyện.

Xuân Hương xuất hiện trong hồi ức của ấm Huy qua hai lần gặp gỡ, thể hiện rõ nét tính cách sắc sảo và tâm trạng cô đơn của nàng trong bối cảnh đám tang của ông phủ Vĩnh Tường Những hình ảnh này phản ánh nỗi cô đơn khủng khiếp của người nghệ sĩ và số phận mong manh của Xuân Hương, vừa là biểu tượng của văn hóa, vừa là linh hồn của đất nước Trong quá trình kể chuyện, nhà văn khắc họa rõ nét giữa người tốt là ông phủ Vĩnh Tường và tên tham quan tri huyện Thặng, thể hiện quan điểm về trách nhiệm xã hội và đạo đức của quan lại thời đó Đám tang của ông phủ Vĩnh Tường không chỉ là lễ tang riêng biệt mà còn là biểu tượng cho sự bất tử của lòng nhân ái và niềm tin vào cuộc sống Hiện tượng “thiên di” trong truyện gợi lên ý nghĩa linh thiêng về linh hồn còn sống của ông phủ, như một mong ước tiếp tục cống hiến cho dân, đồng thời ám chỉ số phận của Xuân Hương trải qua những trắc trở, qua ba lần đò mới tìm được điểm dừng cuộc đời Nhà văn khéo léo gợi lên sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại qua hình ảnh Xuân Hương khóc than, thể hiện nỗi niềm day dứt của người nghệ sĩ về số phận và cuộc đời.

Trong câu chuyện thứ ba, nhân vật Chiêu Hổ "giả" không phải là chồng của Xuân Hương mà chỉ là bạn xướng họa, thể hiện mối quan hệ thân thiết và gần gũi Trong tác phẩm, một nhà thơ trẻ được đạo diễn giao đóng vai Chiêu Hổ trong bộ phim về Hồ Xuân Hương, khi nghỉ phép nông thôn để tập vở kịch, anh đã được một thiếu phụ tên Hương giúp đỡ đi nhờ thuyền qua sông Nàng Hương đơn giản, chân thực, đang bê những bao ngô mua cho trại lợn, thể hiện hình tượng người phụ nữ với tấm lòng bao dung, vị tha và thân thiện, làm nổi bật nét đẹp đời thường và chân thực của con người Việt Nam.

Dù nhân vật xuất hiện trong bối cảnh hiện đại, không gian sông nước mang đến cảm giác bình yên và dư vị hoài cổ Dòng sông và chiếc thuyền biểu tượng cho số phận người phụ nữ giữa sóng gió cuộc đời, như nàng Hương – cô gái tự lập kiếm sống trong cuộc sống nhiều thử thách Nhân vật Chiêu Hổ đã nhận xét chính xác về những người đàn ông, thể hiện sự từng trải và nỗi buồn sâu lắng: “Thôi đi… Đàn ông các anh nào mà chả thế! Anh giúp tôi mấy bao ngô rồi đòi trả ơn… Đàn ông các anh thế hết.”

NGHỆ THU Ậ T XÂY D Ự NG NHÂN V Ậ T L Ị CH S Ử VÀ DÃ S Ử

Ngày đăng: 10/12/2022, 08:40

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm