BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỀ BÀI: Dựa trên công cụ nghiên cứu Giao lưu – tiếp biến văn hóa, hãy phân tích những kết q
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT
NAM ĐỀ BÀI:
Dựa trên công cụ nghiên cứu Giao lưu – tiếp biến văn hóa, hãy phân tích những kết quả đạt được qua giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa Từ đó, nêu quan điểm của cá nhân về xu hướng hợp tác văn hóa
giữa Việt Nam với Trung Hoa trong giai đoạn hiện nay
Họ và tên MSSV Lớp
: Nguyễn Đắc Phát : 462541
: A.ĐCBB07.21-1-21(N03)
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I, KHÁI NIỆM: 1
1, Khái niệm văn hóa: 1
2, Khái niệm giao lưu tiếp biến – văn hóa: 2
II, Kết quả giao lưu – tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa 4
1, Các giai đoạn trong quá trình giao lưu với văn hóa Trung Hoa 4
1.1, Giai đoạn Bắc thuộc 4
1.2, Giai đoạn tự chủ đến nay (từ năm 938 đến nay) 4
2, Kết quả của giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa 5
2.1, Về tôn giáo và đời sống tâm linh 5
2.2, Về triết lý 6
2.3, Về chính trị và chuẩn mực đạo đức xã hội 7
2.4, Về chuẩn mực đạo đức xã hội, 7
2.5, Về chủng tộc 8
2.6, Về ngôn ngữ 8
2.7, Về một số kĩ năng canh tác nông nghiệp 8
III, Quan điểm của cá nhân em về xu hướng hợp tác văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa hiện nay như một làn sóng len lỏi đến mọi chốn trên toàn thế giới Làn sóng này đang nới lỏng dần tư tưởng khép kín, “bế quan tỏa cảng”, ít ngoại giao của nhiều quốc gia, dân tộc Qua đó, các quốc gia sẽ trở thành một hệ thống mở hoàn toàn, trở nên gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau trong một hệ thống thị trường toàn cầu Nhờ đó, các sản phẩm từ các thành tựu khoa học, công nghệ được phổ cập trên toàn thế giới, thông tin và tri thức thông qua mạng Internet và các phương tiện truyền thông hiện đại khác trở thành của chung của các dân tộc Đây chính là một “con dao hai lưỡi” khi nó cho phép các quốc gia tiếp thu những thành quả của nhân loại để có thể theo kịp với trình độ phát triển của thế giới, nhưng các quốc gia cũng phải đối mặt với việc tự đánh mất bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình Việt Nam, sau bước hội nhập đầu tiên là gia nhập khối Asean, nay đã là thanh viên của WTO, và như thế đã thực sự tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, đang có những cơ hội lớn và đối đầu với những thách thức mà quá trình này mang lại Thông qua kiến thức của môn học, em xin được phân tích những kết quả đã đạt được trong qua giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa Do vẫn còn những hạn chế nhất định trong tri thức
lí luận và hiểu biết thực tiễn nên bài tập sẽ khó tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp để hoàn thiện hơn phương pháp học và nghiên cứu môn Đại cương văn hóa Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I, KHÁI NIỆM:
1, Khái niệm văn hóa:
Văn hóa (culture) là một từ thường được hiểu và được dùng theo nghĩa rộng
hoặc hẹp khác nhau
Với người Trung Quốc: theo những tài liệu cổ xưa nhất của Trung Quốc thì văn có nghĩa là vẻ đẹp, còn hóa có nghĩa là thay đổi, biến hóa, giáo hóa, gộp lại văn hóa hiểu theo nghĩa gốc là làm cho trở nên đẹp Nghĩa gốc này dựa trên một câu trong Kinh Dịch (thuộc trong Ngũ Kinh – bộ sách kinh điển của Nho gia), đó là:
“Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (nhân văn: ở đây hiểu theo nghĩa vẻ
Trang 4đẹp riêng có của con người, của xã hội , cũng như thiên văn là vẻ đẹp riêng của bầu trời) Tóm gọn lại là chú trọng quan sát, tìm hiểu vẻ đẹp, cái đẹp trong con người, trong xã hội loài người rồi dựa vào đó mà giáo hóa cả thiên hạ Ví dụ: văn hóa Trung Hoa có chữ viết, một số tác phẩm văn học như: Tam Quốc diễn nghĩa, Tây du ký, Thủy Hử,…
Trong các ngôn ngữ phương Tây, thì văn hóa có nghĩa là canh tác, vun trồng, sau đó thì mang theo nét nghĩa mở rộng là giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng năng lực và phẩm chất của con người Ví dụ: văn hóa Hi Lạp cổ đại tính được số ngày trong một năm, văn hóa La Mã cổ đại với các chữ số La Mã,…
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), hay theo nghĩa chuyên biệt
để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Ví dụ như văn hóa Đông Sơn có trống đồng vũ khí…
Trong khi theo nghĩa rộng nhất thì văn hóa bao gồm toàn bộ những sản phẩm do con người sáng tạo ra như giá trị vật chất và giá trị tinh thần, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động…
UNESCO định nghĩa văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin (UNESCO, 2001) Mặc dù không phải lúc nào cũng đo lường được niềm tin và giá trị một cách trực tiếp, thì lại có thể đo lường được các thói quen và hành vi liên quan Vì thế, Khung thống kê văn hóa UNESCO định nghĩa văn hóa thông qua việc xác định và đo lường hành vi và tập quán được sinh ra từ niềm tin và các giá trị của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.1
2, Khái niệm giao lưu tiếp biến – văn hóa:
Giao lưu – tiếp biến văn hóa (acculturation) là phương pháp định vị văn hoá dựa trên lý thuyết các trung tâm và sự lan toả văn hoá hay còn gọi là thuyết khuyếch tán văn hoá
1
Trang 5Thuyết này cho rằng, sự phân bổ của văn hoá mang tính không đều, văn hoá tập trung ở một số khu vực sau đó lan toả ra các khu vực kế cận Càng xa trung tâm, ảnh hưởng của văn hoá gốc càng giảm cho đến khi mất hẳn (lan toả tiên phát) Cơ chế này tạo ra các vùng giao thoa văn hoá - nơi chịu ảnh hưởng của nhiều trung tâm văn hoá và cả những "vùng tối" khi sức lan toả không với tới Đến lượt mình, các vùng giao thoa văn hoá cũng có khả năng "phát sáng" tạo nên sự lan toả thứ phát để hình thành nên các trung tâm văn hoá mới và tiếp tục ảnh hưởng đến khu vực kế cận
Thuyết lan toả văn hoá cho phép lý giải vì sao trong cùng một khu vực địa
lý lại có sự tương đồng về văn hoá, và vì sao ở những khu vực giáp ranh giữa các nền văn hoá lớn thường tồn tại các nền văn hoá hỗn dung
Cơ sở khoa học của thuyết này:
+ Văn hoá là cái đặc trưng của con người xã hội
+ Hoạt động giao lưu của con người làm nên bản chất xã hội của con người, trên cơ sở đó hình thành nên văn hoá Như vậy giao lưu và tiếp xúc văn hoá là
sự vận động thường xuyên của văn hoá
+ Đề cập đến văn hoá là đề cập đến tất cả các khâu của giao lưu: từ chủ thể của giao lưu, hoạt động giao lưu và sản phẩm của hoạt động giao lưu ấy
+ Khi định vị một nền văn hoá, phải xét nó trong quan hệ dẫn đến các trung tâm văn hoá kế cận hoặc các trung tâm văn hoá đã từng có quan hệ với nền văn hoá đó trong lịch sử; tức là phải xét đến quá trình giao lưu - tiếp biến dẫn đến sự hình thành và phát triển của nền văn hoá đó
Giao lưu - tiếp biến văn hoá là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người
có văn hoá khác nhau, tiếp xúc lâu dài với nhau gây nên sự biến đổi mô thức văn hoá của các bên Trong giao lưu có hiện tượng, yếu tố của nền văn hoá này thâm nhập vào nền văn hoá kia (tiếp thu thụ động); hoặc nền văn hoá này vay mượn yếu tố của nền văn hoá kia (tiếp thu chủ động); trên cơ sở đó có sự cải biến cho phù hợp tạo nên sự giao thoa văn hoá
Lợi ích to lớn trước mắt mà giao lưu văn hóa đem lại là khi mỗi nước xuất nhập khẩu vật chất, năng lượng và thông tin với bên ngoài để có thể đáp ứng nhiều nhu cầu của mình, giải quyết dễ dàng hơn những khăn mà nhiều nước đang gặp
Trang 6phải Lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sự phát triển của mỗi nền văn hóa Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào có thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền văn hóa khác Giao lưu văn hóa làm cho những cộng đồng, những quốc gia dân tộc đóng kín trở thành những hệ thống mở, đã mở trở nên ngày càng mở rộng hơn
II, Kết quả giao lưu – tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa
1, Các giai đoạn trong quá trình giao lưu với văn hóa Trung Hoa
1.1, Giai đoạn Bắc thuộc
Vào cuối đời Tây Hán và đầu đời Đông Hán, cùng với chính sách cai trị và
“Hán hóa” vùng đất của người Việt cổ, văn hóa Hán bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam Nho giáo là một thành phần của văn hóa Hán đã sớm có mặt tại Việt Nam, nhưng sự hiện diện tương đối rõ nét của nó chỉ thực sự bắt đầu vào cuối đời Đông Hán
Cũng trong thời kì này, Đạo gia và Đạo giáo ở phương Bắc theo chân nhà Hán vào Việt Nam Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay tính tương đồng trong tín ngưỡng bản địa đã có sẵn từ lâu, nên Đạo giáo dễ dàng thâm nhập vào đời sống cư dân bản địa
Trong hàng ngàn năm bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc, Nho giáo được đưa vào Việt Nam chủ yếu với tư cách là công cụ phục vụ cho chính sách cai trị
và đồng hóa Việt Nam về văn hóa, người Việt Nam tiếp nhận Nho giáo vẫn với thái độ thụ động, cho nên suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam
1.2, Giai đoạn tự chủ đến nay (từ năm 938 đến nay)
Sau khi nước ta giành độc lập năm 938, nhà nước phong kiến Việt Nam được hình thành, chính lúc này vai trò của Nho giáo trong việc tổ chức, quản lí đất nước được phát huy Nho giáo được người Việt Nam chủ động thừa nhận như là một yếu
tố văn hóa của người Việt Nam, và xác lập địa vị của nó khi nền độc lập dân tộc hoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào phục hưng ở triều Lý năm 1010, với sự kiện
Lý Thánh Tông cho lập văn miếu thờ Chu Công và Khổng Tử, Nho giáo mới được coi là tiếp nhận chính thức Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho Cùng với Nho giáo, Đạo gia trong
Trang 7thời kì này được đưa vào học hành thi cử, thể hiện trong các kì thi ở thời kì này đều có nội dung của cả Nho, Phật và Đạo
Việc Nho giáo chính thức được tiếp nhận tại Việt Nam đã mang theo những triết lí cơ bản trong Ngũ Kinh và Tứ Thư (bộ Kinh điển của Nho giáo) Tất cả đều thấm đẫm tinh thần của thuyết Âm dương, khi vào Việt Nam đã kết hợp với những quan niệm đã có từ trước của người Việt Nam về các hiện tượng
âm dương đối ngẫu như: trời – đất, nóng – lạnh, trên – dưới…, quan niệm coi giao hòa âm dương là nguồn gốc của mọi sự sinh thành trong tín ngưỡng phồn thực bản địa đã khiến cho thuyết âm dương bắt rễ ăn sâu trong đời sống của người Việt và trở thành triết lí sống của dân tộc
Năm 1046, đế quốc Minh đem quân xâm lược Việt Nam Trong cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh (1418 – 1428) vương triều Lê chính thức được kiến lập và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lí đất nước (yêu cầu khách quan) đã dẫn đến triều đại Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo, sự phát triển của Nho giáo thời kì này đã chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn Nho giáo độc tôn
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và bắt đầu quá trình đô hộ trên đất nước ta Nho giáo đã không còn vị trí độc tôn, và ngày càng mất dần đi
sự ảnh hưởng trước sự tấn công của văn hóa phương Tây
2, Kết quả của giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa
2.1, Về tôn giáo và đời sống tâm linh
Người Việt hấp thụ từ văn hóa Trung Hoa các tôn giáo lớn như Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo Từ Trung Hoa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông Thiền tông chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ (thiền) để tự mình tìm ra chân lí Thiền tông Việt Nam luôn đề cao cái “tâm”
– Phật tại tâm, tâm là niết bàn, là Phật Tịnh Độ tông chủ trương dựa vào bên ngoài
để cứu chúng sinh thoát khổ, hướng họ đến một cõi niết bàn – gọi là cõi Tịnh Độ (yên tĩnh, trong sáng); phật tử thường xuyên đi chùa lễ Phật, tụng niệm danh hiệu Phật A-di-đà để tưởng nhớ đến những lời dạy của người mà làm theo.Với cách tu đơn giản như vậy, Tịnh Độ tông trở thành Phật giáo của giới bình dân và phổ biến
Trang 8khắp Việt Nam Mật tông lại chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí để thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ, giải thoát Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị
tà ma và chữa bệnh…
Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ II và đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng có sẵn từ lâu của người bản địa (tín ngưỡng
ma thuật cổ truyền) Người Việt ít biết đến Đạo gia với tư cách là “một triết lí sống” mà chủ yếu chỉ biết về các phương thuật với các bùa chú, phù phép của Đạo giáo (Đạo giáo phù thủy và Đạo giáo thần tiên) Bên cạnh việc thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão quân, thần Trần Vũ, quan Thánh đế, Đạo giáo phù thủy ở Việt Nam còn thờ nhiều vị thần thánh khác do Việt Nam xây dựng như Đức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu… Ngoài ra, một số Pháp sư còn hay thờ các thần: Tam Bành, Độc Cước, Huyền Đàn, ông Năm Đinh, Quan Lớn Tuần Tranh Trong khi ở Trung Hoa, với Đạo giáo thần tiên thì phái luyện thuốc trường sinh (ngoại dưỡng) là phổ biến; thì ở Việt Nam, mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên lại là phái nội tu (thờ Chử Đồng Tử - Chử Đạo Tổ), gắn với khuynh hướng ưa thanh tịnh, nhàn lạc Tuy nhiên, sự tồn tại của Đạo giáo như một tôn giáo ở Việt Nam đã tàn lụi từ lâu Đến nay, những hiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền, nhưng chúng chỉ còn là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng cũng được coi là
có nguồn gốc từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, đã trở thành tín ngưỡng cơ bản của người Việt Nam bởi tính phổ biến của nó trong đời sống người Việt Nam
2.2, Về triết lý
Triết lý Âm dương, thuyết Ngũ hành, lịch Âm dương và Hệ Can chi là những yếu tố văn hóa du nhập từ Trung Hoa, song đã được người Việt ứng dụng một cách sáng tạo trong việc lí giải các hiện tượng tự nhiên và xã hội Qua đó đã thể hiện quan niệm của người Việt về thế giới xung quanh cùng với cấu trúc và những quy luật phổ quát của thế giới ấy
Trang 9Triết lý Âm dương đã trở thành nền tảng trong nhận thức , và chi phối mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Việt Nam
Thuyết Ngũ hành được ứng dụng rất linh hoạt và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đời sống của con người Việt Nam: y học, kiến trúc, ẩm thực, thậm chí để xem bói, chọn ngày giờ tốt để xuất hành, tổ chức hôn lễ, làm nhà, cải táng… Lịch Âm dương và Hệ Can chi có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của cư dân nông nghiệp Việt Nam
2.3, Về chính trị và chuẩn mực đạo đức xã hội
Ban đầu khi được truyền vào Việt Nam, Nho giáo đã được sử dụng như một thứ vũ khí để thể hiện sức mạnh và tham vọng đồng hóa người Phương Nam của phong kiến Phương Bắc Song người Việt đã tiếp nhận Văn hóa Hán và Nho giáo một cách có chọn lọc, tiếp nhận và khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo trong việc tổ chức và quản lí đất nước
Nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là triều đại Nhà Lê, kể từ vua Lê Thái Tổ (1428-1433) sau khi lên ngôi đã học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa Các bộ kinh điển và sách vở liên quan đến Nho giáo đều được du nhập từ Trung Hoa và được phổ biến rộng rãi, vì vậy Nho giáo có điều kiện để trở thành cơ sở lí luận cho những nhà soạn thảo pháp luật thời Lê Quốc Triều Hình Luật thời Lê (hay còn gọi là Bộ Luật Hồng Đức) là bộ luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo Bộ luật ra đời trong thời điểm Nho giáo có mức độ, điều kiện và phạm vi ảnh hưởng rộng rãi, sâu sắc nhất Quốc Triều Hình Luật là công cụ quan trọng để xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền
Ngoài ra, việc tuyển chọn nhân tài bổ dụng vào bộ máy cai trị đã được các triều đại phong kiến Việt Nam áp dụng thông qua con đường học hành và thi cử của Nho giáo
Do sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam, người Việt Nam, đặc biệt là thời phong kiến và còn một số ít tồn tại ở hiện tại chịu ảnh hưởng của Nho gia với
những chuẩn mực “tam cương, ngũ thường”, “tam tòng tứ đức” Với tư tưởng như vậy sẽ gây nên suy nghĩ lạc hậu, bảo thủ của một số người Việt khi áp
Trang 10dụng những chuẩn mực này mà không có sự thay đổi cho thích hợp với thời kì hiện nay Ngoài ra nó còn kìm hãm sự phát triển của người phụ nữ, ép buộc họ vào một khuôn khổ cứng nhắc và kém linh hoạt
2.5, Về chủng tộc
Ngay từ những năm đầu tiên khi nhà Hán thôn tính Nam Việt, nhà Hán đã bắt đầu tiến hành chính sách đồng hóa người Việt Nam và văn hóa Việt Nam Dân tộc Việt Nam đã hình thành trên cơ sở có sự hòa huyết với chủng tộc Hán và các chủng tộc phương Bắc khác
2.6, Về ngôn ngữ
Trong quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ Hán, chúng ta đã mượn nhiều từ ngữ của tiếng Hán, theo cách Việt Hóa về cả mặt âm đọc, ý nghĩa và phạm vi sử dụng Trong tiếng Việt hiện đại có tới trên 60% từ ngữ gốc Hán; chúng ta có thể thấy các từ Hán Việt chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngôn ngữ của người Việt; và trong quá trình phát triển của lịch sử, sự ra đời của chữ Nôm – một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt Nam cũng là một biến thể của Hán tự trên cơ sở dùng chữ Hán như những kí hiệu ghi âm để ghi lại khuôn hình kết cấu ngữ âm tiếng Việt
2.7, Về một số kĩ năng canh tác nông nghiệp
Thời kỳ nước ta thuộc nhà Hán (Đông Hán) khi Nhâm Diên làm Thái thú quận Cửu Chân, dân ta đã học được một số kỹ năng canh tác nông nghiệp như rèn đúc đồ sắt đề làm điền khí, dùng trâu bò cày bừa ruộng đất…Theo Đại Việt
sử ký biên niên: “Tích Quang là người Hán Trung, thời vua Bình Đế là thái thú Giao chỉ, ông dạy dân biết lễ nghĩa Lại có Nhâm Diên người đất uyên, làm thái thú Cửu Chân Tục của người Cửu Chân là đánh cá, săn bắn, không biết trồng cây, Diên bèn sai sắm khí cụ làm ruộng, dạy dân khai khẩn, hang năm trồng trọt nhân dân sống đầy đủ…”
III, Quan điểm của cá nhân em về xu hướng hợp tác văn hóa giữa Việt Nam
và Trung Hoa
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có biên giới chung trên đất liền và trên biển Hai nước đều có quá trình tương tác lẫn nhau về các mặt văn hóa
và lịch sử cũng như là chiến tranh… Trải qua 71 năm kể từ ngày 18/1/1950, quan