Tôn giáo và chính trị trong mối quan hệ với nhau, vừa thể hiện sự tương đồng, hữu cơ, lại vừa có sự đối lập, có khi quyết liệt, điều đó tuỳ thuộc đáng kể vào vai trò, tính chất chính trị
Trang 1BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Môn học:
Tên chủ đề/vấn
đề bài thu
hoạch:
Ngày chấm:
Giảng viên chấm 1
(Ký, ghi rõ họ, tên)
Giảng viên chấm 2
(Ký, ghi rõ họ, tên) Bằng số:
Bằng chữ:
Môn học:
Tên chủ đề/vấn
đề bài thu
hoạch:
SỐ PHÁCH Họ và tên học
viên
Mã số học viên Lớp
Ngày nộp
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trang 2Tôn giáo là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử nhân loại Nếu tính từ khi con người (người khôn ngoan) bắt đầu biết chôn cất người chết – một hành vi biểu đạt sự tín ngưỡng – thì tôn giáo đã có quá trình lịch
sử khoảng từ 50000 đến 120000 năm Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo luôn tác động, ảnh hưởng đến đời sống xã hội trên nhiều phương diện Trong đó có mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị là mối quan hệ của 2 hiện tượng thuộc về thượng tầng kiến trúc Mối quan hệ đó được quy định cụ thể như thế nào, trước hết và căn bản là do hạ tầng cơ sở; đồng thời cũng phụ thuộc vào tính quy luật riêng, vốn có của mỗi hiện tượng đó Từ khi chính trị hình thành cho đến nay, đã trở thành một trong những nguồn gốc xã hội trực tiếp của tôn giáo
Tôn giáo và chính trị trong mối quan hệ với nhau, vừa thể hiện sự tương đồng, hữu cơ, lại vừa có sự đối lập, có khi quyết liệt, điều đó tuỳ thuộc đáng kể vào vai trò, tính chất chính trị của mỗi giai cấp đối với tôn giáo
Với nghĩa trên, tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề " Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị" làm đề tài bài thu hoạch.
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG I- Các định nghĩa công cụ:
1- Định nghĩa tôn giáo: Tôn giáo, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa
là sự nối liền với cái tột cùng, như sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế; hoặc được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục Theo quan điểm mác-xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn
là một thực thể xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm, niềm tin, hệ
tư tưởng; là một hiện tượng xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc, được quy
định bởi hạ tầng cơ sở xã hội, thông thường có kết cấu gồm: ý thức, nghi lễ,
luật lệ và tổ chức
2- Định nghĩa chính trị: Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin,
trước hết được hiểu là mối quan hệ giữa các giai cấp; là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội; chính trị là sự thể hiện tập trung của kinh tế Nó được định nghĩa tổng quan như sau: Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước; là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, các đảng phái; là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, các nhà nước để thực hiện đường lối đã lựa chọn nhằm đạt đến mục tiêu đã đặt ra
II- Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
Hồ Chí Minh đã vận sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam Nội dung của mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị trong tư tưởng của Người có sự khác nhau
Trang 4khá rõ ở giai đoạn trước và sau khi có Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị thể hiên trên một số luận điểm sau:
Người khẳng định, đế quốc thực dân đã từng lợi dụng tôn giáo như một công cụ xâm lược đất nước và nô dịch dân tộc Việt Nam
Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta chỉ thành công khi lực lượng chính trị lãnh đạo cách mạng đoàn kết, tập hợp được mọi tầng lớp, lực lượng xã hội khác nhau, trong
đó có đồng bào các tôn giáo
Để tập hợp lực lượng, đoàn kết lương - giáo, đoàn kết dân tộc cần phải tìm kiếm, xác định và luận giải cụ thể và rõ ràng về lợi ích chung của cộng đồng lương- giáo Đây là cơ sở cho sự đoàn kết lương - giáo rộng rãi nhất, đồng thời, để vượt qua sự khác biệt giữa lương và giáo, giữa các tôn giáo với nhau
Trong mối quan hệ này, không dừng lại ở những vấn đề chung, mà phải quan tâm đến việc vạch ra các giải pháp cụ thể, phong phú và uyển chuyển; phải tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng
Đối với những kẻ lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động, phải có thái độ cương quyết xử lý, nhưng vẫn cần thiết phải có sự khoan dung
Tư tưởng trên đây về mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị theo lập trường mác - xít có giá trị là cơ sở khoa học để nhận thức về mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị trên thế giới và ở nước ta trong lịch sử cũng như đương đại
1- Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị trên thế giới
Thời kỳ cổ đại
Trang 5Dưới thời kỳ cổ đại, các tôn giáo chuyển từ đa thần sang độc thần Điều
đó phản ánh về quá trình chuyển xã hội loài người, từ thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ sang thời kỳ có chế độ tư hữu, có giai cấp và có nhà nước chính trị Thời kỳ này, hầu hết các tôn giáo lớn của thế giới, như Phật giáo, Kitô giáo, ra đời Các tôn giáo ấy ra đời như là sự phản kháng của các giai cấp, đẳng cấp quần chúng bị áp bức trước chế độ chính trị đã thống trị, bóc lột họ hết sức bạo tàn, nên bị lực lượng thống trị xem là tà đạo, bị xua đuổi, dồn ép Nhưng về sau, lực lượng chính trị cầm quyền đã thay đổi thái độ, chuyển sang thừa nhận, sử dụng triệt để các tôn giáo đó
Vì vậy, ở thời kỳ này, mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị luôn diễn
ra tình trạng tôn giáo đối đầu với chính trị, hoặc chính trị lợi dụng tôn giáo, tuỳ theo vị thế và lợi ích của mỗi lực lượng chính trị Lúc đó ở Châu Âu, việc điều hành, quản lý xã hội và hệ tư tưởng bao gồm cả Hội đồng thành phố, Triều đình và Giáo hội Còn ở Châu Á, như Ấn Độ và Trung Quốc, tôn giáo vừa là bệ đỡ, là môi trường phát triển chính trị (đạo Bà la môn), lại vừa phản kháng chế độ chính trị (Phật giáo)
Thời kỳ phong kiến
Thời kỳ phong kiến, tôn giáo có vai trò đặc biệt to lớn trong đời sống
xã hội nói chung và trong lĩnh vực chính trị nói riêng Thời kỳ này, tôn giáo là chỗ dựa vững chắc của chế độ chính trị, khẳng định chế độ sở hữu phong kiến Hiện tượng hợp nhất giữa chính trị và tôn giáo, sự nhất thể hoá các chức sắc tôn giáo và nhà chính trị diễn ra khá phổ biến Giáo hội Thiên chúa La mã Châu Âu lúc đó có địa vị cao nhất và bao trùm, không chỉ là tổ chức kinh tế, chính trị, văn hoá, mà còn là đại biểu của hệ tư tưởng Tình hình ấy đã quy định hình thức của mỗi phong trào xã hội “phải mang hình thức thần học; muốn tạo ra một phong trào mạnh như vũ bão, cần phải đưa cho quần chúng
mà tình cảm được nuôi dưỡng chỉ bằng tôn giáo, những lợi ích thiết thân của
Trang 6họ dưới bộ áo tôn giáo” Tuy vậy, Châu Âu vẫn tồn tại tình trạng đối lập giữa tôn giáo với chính trị và sự tranh chấp giữa chúng với nhau diễn ra không ngớt Thời kỳ phong kiến ở Châu Âu còn có sự kiện thánh chiến, diễn ra và kéo dài suốt gần 2 thế kỷ, nó không dừng lại ở mục tiêu tôn giáo, mà mang màu sắc chính trị, ảnh hưởng to lớn đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Còn ở phương Đông, nhìn chung chính trị không bị tôn giáo thao túng như ở phương Tây, ngược lại, đã lợi dụng tôn giáo vào sự trường tồn, tăng thêm sức mạnh của chính trị cầm quyền Hiện tượng thần bí hoá các vương triều chính trị diễn ra ở nhiều quốc gia phương Đông, nhằm vào lợi ích chính trị căn bản
Thời kỳ chủ nghĩa tư bản
Thời kỳ chủ nghĩa tư bản trước đây Giai cấp tư sản châu Âu do cần có một thị trường thống nhất trong nước và một nhà nước có đầy sức mạnh quyền lực chính trị, đã một mặt phản đối tình trạng cát cứ phong kiến, mặt khác, chĩa mũi nhọn nhằm vào giáo hội tôn giáo, từ đó dấy lên phong trào cải cách tôn giáo Khi đó, học thuyết về nhà nước, chính trị chủ quyền là một thách thức lớn đối với thần học và giáo hội Các đại biểu của phong trào cải cách tôn giáo (Luther và Calvin) chủ trương khu biệt giữa cái thuộc thế tục và thần thánh; giữa chính trị học và thần học; khẳng định địa vị tuyệt đối của quyền lực chính trị trước quyền lực giáo hội Theo họ, giáo hội và nhà nước là hai tổ chức khác nhau, nhưng giáo hội cần phải phục vụ cho nhà nước chính trị Phong trào cải cách tôn giáo đã công kích dữ dội vào giáo hội La mã, để rồi giáo hội không còn là lực lượng chính trị chủ yếu ở châu Âu như trước đây
Còn ở Châu Á, các tôn giáo bản địa, như Phật giáo, bị suy vi nghiêm trọng, khiến cho các nhà hoạt động tôn giáo và một số nhà chính trị phải suy
Trang 7nghĩ đến việc chấn hưng tôn giáo (Phật giáo) Đồng thời, chính trị phải đối mặt với các tôn giáo ngoại sinh tràn vào, tạo ra sự phân hoá nội bộ bộ máy chính trị, kẻ chống lại, người chấp nhận Nhiều nhà cách mạng tư sản, như Tôn Trung Sơn cũng theo đạo Tin lành, cho thấy vai trò đáng kể của tôn giáo này với chính trị lúc đó
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, ngay từ ban đầu, việc thiết lập các quan
hệ xã hội đã có yêu cầu tách nhà nước ra khỏi nhà thờ; xây dựng thể chế pháp
lý phi tôn giáo, không để nhà thờ can thiệp hoặc thực hiện bất kỳ chức năng nào của nhà nước Chính trị thừa nhận và đảm bảo vai trò của giáo hội; quan
hệ của công dân với tôn giáo là công việc riêng của họ
Ngày nay, ở các nước tư bản, mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
đang diễn ra với những biểu hiện mới Tôn giáo không còn vai trò chi phối chính trị, vì thời đại hiện nay chính trị đang có vai trò là hạt nhân chỉ đạo toàn
bộ đời sống xã hội, quyết định phương hướng chung và mục tiêu hoạt động của con người Mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo hiện nay có một số biểu hiện cụ thể: Có những giáo phái tôn giáo trước kia đã từng lảng tránh, xa lánh chính trị, thì nay lại bị thu hút vào xu thế chính trị hoá tôn giáo Xuất hiện nhiều tổ chức tôn giáo mang tính toàn cầu, tham gia vào hoạt động chính trị với ý đồ thay đổi thế giới theo hướng mà họ cho là tốt hơn Một số nước vốn có chế độ giáo hội nhà nước, hay quốc giáo, tại đó vẫn có sự hợp nhất nhất định giữa tôn giáo với chính trị Ở các quốc gia đa tôn giáo, các giáo hội tôn giáo đều bình đẳng trong quan hệ với chính trị, pháp luật
Quan hệ giữa tôn giáo với chính trị còn được cả loài người quan tâm bởi “các tổ chức tôn giáo- chính trị ” của thế giới đạo Hồi Nhiều tổ chức này tham gia vào chính trị nhưng tuân thủ pháp luật Song cũng có một số tổ chức cực đoan, thường sử dụng bạo lực để đạt mục tiêu chính trị Đấy là một bộ
Trang 8phận nhỏ trong toàn bộ thế giới Hồi giáo, không nên đồng nhất nó với toàn bộ đạo Hồi, một tôn giáo vốn có nhiều đặc trưng văn hoá, đạo đức điển hình
Tôn giáo vẫn được xem là công cụ của một số thế lực chính trị, dùng
để tấn công, lật đổ nền chính trị của các phe phái chính trị đối lập, thậm chí, của các nước khác mà họ không thiện cảm
Dưới chủ nghĩa xã hội
Các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, tiêu biểu là Liên Xô, có quan
điểm về tự do tín ngưỡng và hướng tới việc xoá bỏ dần các quan hệ của chính trị với tôn giáo Trong đó quy định, nhà nước không nên làm các công việc của tôn giáo và tôn giáo không nên gắn với chính trị- nhà nước; nhà nước không cấm tôn giáo, công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, nhưng hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật
Hiện nay trong các nước xã hội xã hội chủ nghĩa, theo tinh thần đổi mới, chính trị đã khẳng định về sự tồn tại lâu dài, về những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của tôn giáo và như Trung Quốc: phải “làm cho tôn giáo thích ứng với chủ nghĩa xã hội” Điều đó thể hiện tính khách quan của chính trị trong nhận thức vấn đề tôn giáo ở xã hội hiện đại
Như vậy, cơ sở xuyên suốt của mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị trong lịch sử xã hội loài người diễn ra hết sức phong phú và phức tạp Biểu hiện của mối quan hệ này diễn ra như một quá trình gắn bó hữu cơ lúc ban đầu, đến xung đột, chống đối, quy định lẫn nhau ở thời kỳ sau, để rồi quyền lực giáo hội suy giảm dần dưới thời kỳ cận, hiện đại
2- Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị ở Việt Nam
Giai đoạn Việt Nam dưới thời Bắc thuộc Khi đó, Phật giáo, Đạo giáo
và Nho giáo (với tính cách là một tôn giáo) đã được du nhập vào Các tôn giáo lúc đó có quan hệ với chính trị, thì đó là chính trị đô hộ của người phương Bắc Nhưng từ phương diện chính trị của người dân bị áp bức, Phật
Trang 9giáo đã góp phần củng cố tư tưởng, niềm tin cho nhân dân ta vào cuộc sống hiện thực, để từ đó tồn tại mà vươn lên; hướng con người tới khát vọng giải phóng và hạnh phúc; đấu tranh chống cường quyền, giặc ngoại xâm, khi đất nước chìm trong ách đô hộ của thế lực phong kiến phương Bắc Nhờ đó, nó góp phần dẫn dắt cho chính trị thực tiễn, mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, với 3 năm giành được độc lập tự chủ (40 - 43); cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (năm 248); cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (542), xưng Hoàng
đế (Lý Nam đế), đặt tên nước là Vạn Xuân và kết thúc (602) bởi Lý Phật tử,
vị tướng có tên nhà Phật (cũng xưng là Lý Nam đế, sử gọi là hậu Lý Nam đế); cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc đế, năm 722) và cuối cùng là cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (905), đem lại thắng lợi oanh liệt và vẻ vang cho dân tộc ta, xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, thoát hẳn ách đô hộ hàng ngàn năm của phương Bắc
Giai đoạn Việt Nam giành được độc lập, dưới các triều đại phong kiến.Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập, các triều đại phong kiến
đầu tiên của nước ta, là nhà Ngô, Đinh và Tiền Lê đã quan tâm đến vấn đề tôn giáo, nhằm đảm bảo lợi ích không chỉ của giai cấp thống trị, mà là của cả dân tộc Các triều đại phong kiến Việt Nam nhìn chung đã tạo ra những điều kiện chính trị để đáp ứng nhu cầu đó
Dưới thời Lý- Trần, Phật giáo được coi là một tôn giáo độc tôn, vì nhân dân ta, mà đại diện là nhà nước chính trị đã thấy được vai trò và sự phù hợp của Phật giáo đối với đời sống xã hội Trên thực tế, Phật giáo đã phát huy được vai trò tích cực chính trị trong chống giặc ngoại xâm, đoàn kết và củng
cố, phát triển xã hội Từ các triều đại tiếp sau (Mạc, Hậu Lê, Nguyễn), trong mối quan hệ với chính trị, vai trò của Phật giáo bị nhạt dần, thay vào đó là Nho giáo
Trang 10Từ năm 1533, đạo Công giáo bắt đầu truyền vào nước ta Song với vai trò của Nho giáo lúc đó và với hoàn cảnh thực tế của nền chính trị, nên về cơ bản các nhà nước không chấp nhận tôn giáo này Lúc đầu, quan hệ giữa chính trị với Công giáo còn bình lặng, nhưng sau trở nên nặng nề và đẩy tới cao điểm, là việc triều Nguyễn ban bố chính sách “sát đạo” Lý do là, thế lực thực dân đế quốc Phương Tây đã sử dụng Công giáo như một công cụ xâm lược và
nô dịch nhân dân ta Ngoài ra, Công giáo bị người đương thời nhận thấy có nhiều nội dung trái với văn hoá truyền thống của dân tộc, hơn nữa, hệ tư tưởng Nho giáo khi đó mặc dù đã suy tàn nhưng vẫn được đông đảo tầng lớp trí thức, quan lại chính trị lưu giữ và tôn thờ
Tuy nhiên, cũng có một số nhà chính trị và tín đồ, chức sắc tôn giáo lúc
đó đặt niềm tin tưởng vào tinh thần yêu nước của cộng đồng giáo dân Công giáo Vì thế, chính sách “sát đạo” của nhà Nguyễn được điều chỉnh lại, phù hợp hơn với thực tế Vào năm Tự Đức thứ 15, triều đình đã bỏ sắc chỉ hà khắc đối với giáo dân; năm thứ 16 đã dụ: Dân theo đạo cũng là con đẻ của triều đình và năm thứ 27, tư tưởng đó được thể hiện một cách ôn hoà hơn, toát lên tình yêu dân và đoàn kết dân tộc Tất nhiên, việc bãi bỏ chính sách cấm đạo cũng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của phe chủ chiến, mà đại biểu là các nhà Nho yêu nước Như vậy, mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị thời kỳ này đã đặt ra một vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước và dân tộc, vì thế chủ thể chính trị đã phải xử lý tình hình theo lợi ích chính trị trực tiếp
Giai đoạn từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Giai đoạn này,
Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng nước ta, mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo được giải quyết và tiến hành dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin Đó là việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tách tôn giáo khỏi ảnh hưởng và sự lợi dụng của chính trị