1 ) Trình bày những đặc trưng chung từ các quan niệm về văn hóa? Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Đặc trưng của văn hóa – Văn hóa c.
Trang 11 ) Trình bày những đặc trưng chung từ các quan niệm về văn hóa? Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương
Đặc trưng của văn hóa:
– Văn hóa có tính hệ thống
Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năng của xã hội
Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnh vực Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên
Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiến bộ của xã hội Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”
– Văn hóa có tính giá tri
Văn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa là tốt đẹp, là
có giá trị Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị Do đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội
Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trị riêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần Xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức Đứng trên góc độ thời gian lại có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời
Văn hóa có tính nhân sinh
Tính nhân sinh của văn hóa có nghĩa rằng văn hóa được coi như một hiện tượng xã hội Hiện tượng xã hội được hiểu là những hiện tượng do con người sáng tạo ra hay còn gọi là nhân tạo, khác với các giá trị tự nhiên hay còn gọi là thiên tạo
Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóa chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người
Trang 2Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người Đó chính là ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa
– Văn hóa có tính lịch sử
Văn hóa phản ánh quá trình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định Chính vì thế mà văn hóa cũng gắn liền với chiều dài lịch sử, thậm chí là văn hóa hàm chứa lịch sử Tính lịch sử khiến cho văn hóa mang đặc trưng có
bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị Nhờ có tính lịch sử mà văn hóa cũng cần được duy trì, nói một cách khác đó là biến văn hóa trở thành truyền thống văn hóa
Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,…
Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát huy hệ giá trị gia đình trong thời kỳ mới; từng bước khắc phục các hạn chế của người Việt
Ông Nghĩa nhấn mạnh, phát triển đi đôi với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; khắc phục tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài, các hành vi ngôn ngữ lệch chuẩn, loạn chuẩn; tiến tới xây dựng bộ luật về Tiếng Việt; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng
Thứ ba, hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy quản lý văn hóa, cải cách bộ máy quản
lý nhà nước về văn hóa Trong đó, phạm vi can thiệp của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa cần được quy định, tạo dư địa phù hợp cho sáng tạo và hưởng thụ văn hóa chính đáng của người dân Hệ thống quản lý văn hóa được chuyển đổi chủ yếu từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế quản lý bằng luật pháp và các công cụ điều tiết
vĩ mô khác
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý; cho các lĩnh vực then chốt, đặc thù
Thứ năm, xây dựng văn hóa trong chính trị, kinh tế, đặc biệt là văn hóa trong Đảng trở thành tấm gương đạo đức cho xã hội; văn hóa doanh nghiệp trở thành hệ điều tiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội
Trang 3Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, việc chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể sẽ được chú trọng; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên cần được ngăn chặn, đẩy lùi
Thứ sáu, phát triển thị trường văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận, hưởng thụ của người tiêu dùng và thị trường ngoài nước Việc
tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế tại Việt Nam sẽ trở thành các sự kiện thường niên, có uy tín khu vực và thế giới, thu hút sự tham gia của các nghệ sĩ
và các tổ chức văn hóa nghệ thuật có uy tín, được đông đảo công chúng quan tâm Thứ bảy, xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại Thứ tám, phát triển văn học, nghệ thuật đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xây dựng con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị Thứ chín, tập trung nguồn lực từ Nhà nước và các thành phần kinh tế khác đầu tư cho phát triển văn hóa, xây dựng con người Trong đó, xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và phí đối với các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa do khu vực tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở vùng còn khó khăn; khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài, quảng
bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản
Các địa phương, các cơ quan, công sở, trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư có thiết chế văn hóa phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao ) tạo điều kiện cho người dân tham gia hoạt động và hưởng thụ văn hóa
2 ) Tại sao văn hóa được xem là nền tảng tinh thần của xã hội?
Văn hóa là sản phẩm được tạo ra, phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người
và xã hội Văn hóa chính là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc…
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp quốc (UNESCO) cho rằng văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia Chính vì vậy, ở mỗi quốc gia, văn hóa có những đóng góp không thể phủ nhận đối với sự phát triển chung của quốc gia như nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân; đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của xã hội; tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách, bồi bổ tâm hồn, thị hiếu, thẩm mỹ cho công chúng…
Trang 4Tại hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Văn hóa phải hướng dẫn quốc dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ Đây cũng chính là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động của ngành văn hóa và thông tin cho đến nay… Tiếp nối truyền thống vẻ vang 76 năm của sự nghiệp văn hóa, những người làm công tác văn hóa - thông tin tỉnh nhà hôm nay đã và đang tích cực thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đóng góp sức lực của mình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước
Đồng chí Nguyễn Văn Sáu - Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao cho biết, qua từng giai đoạn lịch sử, ngành văn hóa Kiên Giang từng bước lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Trong giai đoạn hội nhập và phát triển, ngành đã tích cực góp sức vào công cuộc xây dựng chung của đất nước Kiên Giang cũng là một tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa, là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc Chính vì vậy, tham gia quản lý, định hướng tư tưởng, thẩm mỹ, tổ chức các hoạt động văn hóa đa dạng, đúng hướng, đúng pháp luật, giữ gìn được bản sắc để góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân là nhiệm vụ thường xuyên của ngành
3) Phân tích những chức năng cơ bản của văn hóa đối với đời sống con người, xã hội
Khả năng nhận thức, ý thức và học hỏi của con người là một sự tiến hóa so với các loài động vật khác trên Trái đất Nếu loài vật chỉ sống theo bản năng tồn tại từ khi sinh ra, thì con người luôn có ý thức cao, ngay từ khi sinh ra đã luôn vươn tới cuộc sống cao đẹp hơn
Văn hóa có tính kế thừa từ đời này sang đời khác giúp con người làm được điều này, tức là học hỏi hoặc rút kinh nghiệm từ những giá trị đi trước để hướng tới những điều mới mẻ hơn, tốt đẹp hơn, hình thành một xã hội nhân văn hơn
Chức năng thẩm mỹ của văn hóa
Chức năng thẩm mỹ là chức năng quan trọng của văn hóa để con người và cộng đồng không ngừng hoàn thiện Văn hóa là nét đẹp, làm cho con người đẹp hơn
Trang 5Chức năng giáo dục
Chức năng này giáo dục nâng cao nhận thức và phát huy tiềm năng của con người Con người không chỉ tiếp thu tri thức học thuật mà còn cả nhân cách, tư tưởng đạo đức, lối sống trong các mối quan hệ xã hội
Chức năng điều tiết của văn hóa
Văn hóa với những giá trị lịch sử của nó có thể giúp điều chỉnh xã hội luôn đi theo một hướng nhất định, làm cho xã hội luôn vận hành ổn định vì mục tiêu chung của cộng đồng
Cụ thể ở đây là pháp luật và văn hóa pháp luật giúp mọi người luôn tuân theo để giữ gìn trật tự xã hội, giúp mọi người cùng chung sống
Chức năng động lực
Văn hóa có chức năng động viên, định hướng xã hội phát triển, hướng tới xã hội tốt đẹp, nhân văn hơn Đó cũng là mục tiêu của xã hội loài người, giúp chất lượng cuộc sống của con người tốt hơn cả về vật chất và tinh thần
4) Bản sắc văn hoá là gì ? Có cần thiết phải giữ gìn bản sắc VHDT hay không? Vì sao?
Bản sắc văn hóa hay bản thể văn hóa (tiếng Anh: cultural identity) là bản thể hay cảm giác thuộc về một nhóm nào đó Nó là một phần của khái niệm về bản thân và nhận thức về bản thân của một người, và có liên quan đến quốc tịch, sắc tộc, tôn giáo, giai cấp xã hội, thế hệ, địa phương hay bất cứ loại nhóm xã hội nào có văn hóa riêng biệt Bản sắc văn hóa đặc trưng cho cả cá nhân và nhóm đồng nhất về văn hóa với các thành viên có chung bản sắc văn hóa
Bản sắc văn hóa cơ bản nó là bản chất, là màu sắc, sắc thái, là đặc trưng nhất của một sự vật hiện tượng nào đó Bản sắc văn hóa là nét đặc trưng của nền văn hóa nào đó Bản sắc văn hóa thể hiện nét riêng của mình, thông qua đó có thể so sánh
và phân biệt với các bản sắc văn hóa khác Bản sắc văn hóa là một phạm vi nhỏ thuộc nền văn hóa rộng lớn của một địa phương, một vùng hay thậm chí là một quốc gia Bản sắc văn hóa là nói về những nét đẹp trong văn hóa, những nét tinh
Trang 6hoa mà chỉ vùng, địa điểm hay dân tộc đó mới dó, và là nét văn hóa đặc sắc nhất trong nền văn hóa chung để khi nhắc đến là nhớ ngay đến địa điểm cụ thể nào đó, hoặc dân tộc nào đó
Chúng ta cần giữ gìn bản sắc văn hóa vì
Văn hóa có tính dân tộc vì nó được sáng tạo ra, được bảo tồn và lưu truyền trong cộng đồng dân tộc với điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử đặc thù; qua quá trình phát triển, chắt lọc, thử thách của thời gian, những đặc điểm dân tộc in dấu ấn vào các sáng tạo văn hóa; dần dần lắng đọng, định hình tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc Nó tạo nên cốt cách, bản lĩnh, sức sống của một dân tộc, từ cội nguồn đó làm nảy sinh và hoàn thiện ý thức dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa Các yếu tố đó đã gắn lết, quy tụ các thành viên cộng đồng, tạo nên thế và lực của dân tộc
Bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử, tự nhiên, môi trường cư trú, thể chế chính trị cũng như sự giao lưu với các nền văn hóa khác Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc đã sáng tạo
ra nền văn hóa đó Bản sắc văn hóa cũng chính là bản sắc văn hóa của dân tộc ấy
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng một khi hệ tư tưởng tiến bộ được vận dụng đúng đắn, gắn kết với giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc thì nó phát huy được sức mạnh của cả dân tộc và thời đại, giai cấp và dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau: Hệ
tư tưởng trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của dân tộc Ngược lại khi hệ
tư tưởng phản động, lạc hậu, hoặc là vận dụng không phù hợp các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thì lập tức sẽ gây ra những đổ vỡ khó lường
Bản sắc văn hóa dân tộc gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử mà bản thân các điều kiện này đều biến chuyển theo thời gian, vì vậy bản sắc văn hóa cũng luôn luôn vận động, tuy có tính ổn định, bền vững nhưng không phải là bất biến Song con đường vận động, phát triển của bản sắc văn hóa phức tạp hơn nhiều so với các lĩnh vực kinh tế, chính trị Nó không phải đi theo đường thẳng, không phải văn hóa thời đại sau bao giờ cũng cao hơn thời đại trước, có những yếu tố văn hóa
cổ mà văn minh ngày nay chưa thể vượt qua Bản sắc văn hóa dân tộc cũng vận động, biến đổi theo trình độ dân trí, qua giao lưu văn hóa thời đại, nhưng vận động, tiếp biến rồi cũng xoay quanh cái gốc, trở về cái cội nguồn Nhiều dân tộc bị áp bức bóc lột, bị nô lệ, bị đàn áp bao thế kỷ, trình độ tuy còn lạc hậu nhưng vẫn bám trụ và vươn dậy trong thời đại văn minh công nghệ tin học để chứng minh sức mạnh tiềm ẩn trong bản sắc văn hóa
Trang 7Bản sắc văn hóa dân tộc được tôi luyện, đúc kết qua các thế hệ nối tiếp nhau trong lịch sử, như dòng phù sa bồi tụ những gì tinh túy nhất làm nên sức sống trường tồn của dân tộc Tất cả các quốc gia hiện nay đều chú trọng nghiên cứu di sản văn hóa của dân tộc mình, họ ý thức được rằng nếu không đề cao bản sắc văn hóa dân tộc thì tính đa đạng của văn hóa thế giới sẽ bị cạn kiệt do sự lai căng, pha tạp của các nền văn hóa
Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy trong văn hóa dân tộc có nhiều yếu tố bảo thủ, níu kéo văn hóa trở về với quá khứ, làm cho văn hóa dân tộc khó thích nghi với thời đại mới Xu hướng bảo thủ có mặt tích cực là tạo ra khả năng tự vệ, rào chắn
có hiệu quả các cuộc xâm lăng văn hóa, nhưng bảo thủ sẽ dẫn tới loại trừ các yếu
tố tích cực, hiện đại của văn hóa từ bên ngoài tác động vào
Kết luận: Phải đứng vững trên quan điểm phủ định biện chứng để kế thừa có chọn lọc, loại trừ yếu tố lạc hậu, bổ sung yếu tố mới, tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của cuộc sống Yếu tố hiện đại giúp văn hóa truyền thống thích nghi với sự phát triển, đồng thời nó đáp ứng được nhu cầu văn hóa ngày càng tăng lên của dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc phải đứng vững trên đôi chân của mình để tiếp nhận các yếu tố hiện đại, làm cho các yếu tố hiện đại gia nhập và trở thành yếu tố văn hóa truyền thống
5) Phân tích mối quan hệ biện chứng: tự nhiên – con người – văn hóa Vì sao Văn hoá được xem là “nguồn lực nội sinh” phát triển bền vững đất nước ?
Mục tiêu, định hướng
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Đây là cơ hội lịch sử để Việt Nam vươn lên, thực hiện khát vọng đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển vào năm 2045, dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để thực hiện được khát vọng đó, Việt Nam cần xây dựng mô hình phát triển phù hợp, mà trong đó, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính, còn văn hóa và con người chính là nguồn lực nội sinh để phát triển
Bên cạnh các cơ hội thì cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra những thách thức đối với sự phát triển đất nước nói chung, phát triển văn hóa nói riêng Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp ấy đã mở ra nhiều cơ hội mới cho quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, đồng thời cũng gây ra nguy cơ phai nhạt về bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc Cùng với đó là việc sử dụng văn hóa như một
Trang 8“sức mạnh mềm” của các nước lớn để thể hiện vai trò, thực hiện tham vọng về lợi ích, mục đích chính trị
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà, đặc biệt là con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, phục vụ phát triển bền vững đất nước trở nên quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết Phải thấm nhuần mục tiêu và quan điểm coi văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là nguồn lực, động lực nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp; phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; chú ý đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế
Đại hội XIII của Đảng bên cạnh việc khẳng định những kết quả quan trọng đạt được trên lĩnh vực văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XII và 35 năm đổi mới đất nước cũng thẳng thắn chỉ ra hạn chế, khuyết điểm: Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thực sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước Từ đó, Đại hội XIII đã đề ra định hướng:
“Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(1)
Xây dựng, phát triển văn hóa, con người hướng đến chân - thiện - mỹ, có tinh thần nhân văn, có đời sống tâm hồn phong phú tất nhiên sẽ không chỉ ứng xử tốt đẹp với nhau mà còn ứng xử có văn hóa với thiên nhiên Khi con người biết yêu thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên thì sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, phát triển bền vững, vì thế, phải có cái gốc từ văn hóa
Một số nhiệm vụ chủ yếu
Thứ nhất, đổi mới phương thức bảo tồn và phát triển văn hóa Trước sự phát triển của công nghệ, sự du nhập của các sản phẩm văn hóa ở bên ngoài vào trong nước, con người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay đang đứng trước “mê hồn trận” sản phẩm văn hóa, trong đó có nhiều sản phẩm tốt, có giá trị, làm phong phú thêm cho đời sống; bên cạnh đó, cũng có không ít sản phẩm đội lốt văn hóa, không có giá trị bồi bổ tinh thần, thậm chí làm méo mó các giá trị đích thực và
Trang 9định hướng sai lạc trong lựa chọn các giá trị văn hóa của giới trẻ Những sản phẩm văn hóa “dễ tiêu dùng, ít giá trị” này đã dễ dàng thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ, khiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, như lòng yêu nước, tính
tự lực tự cường, ham học hỏi, đứng trước nguy cơ bị phai mờ Đồng thời,
phương thức phát triển và bảo tồn văn hóa truyền thống lâu nay vẫn chưa thực sự được đổi mới, khiến những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc không được phát huy Trước thực trạng đó, việc phát triển văn hóa cần tiếp tục được đổi mới, hiệu quả hơn, đi vào cuộc sống hơn; trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn
có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam(2) Có như vậy, văn hóa mới được bảo tồn, mới thực sự trở thành nền tảng tinh thần của một xã hội lành mạnh, giàu tính nhân văn, Việt Nam mới phát triển
Duyên dáng phụ nữ Việt Nam trong tà áo dài dân tộc _Ảnh: TTXVN
Thứ hai, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành động lực mới của nền kinh
tế Bên cạnh việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, phát huy được “sức mạnh mềm” cũng là một nội dung quan trọng Cha đẻ của ngành quản trị hiện đại Pi-tơ Đrắc-cơ (Peter Drucker) từng tiên đoán, công nghiệp văn hóa sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần quyết định thành bại của mỗi quốc gia trong thế kỷ XXI Dự đoán trên thể hiện vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong phát triển kinh tế của đất nước Thực tiễn cũng cho thấy, nhiều quốc gia đã phát triển công nghiệp văn hóa thành công, trở thành một động lực mới của nền kinh tế như trường hợp của Hàn Quốc, Nhật Bản,
Ở Hàn Quốc, việc phát triển công nghiệp văn hóa thu được những thành công rất
ấn tượng Đóng góp của lĩnh vực công nghiệp văn hóa ở Hàn Quốc cho GDP
chiếm hơn 6% và có xu huớng tiếp tục tăng Bên cạnh đóng góp trực tiếp, công nghiệp văn hóa còn tạo hiệu quả lan tỏa đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Nghiên cứu định lượng cho thấy, nếu kim ngạch xuất khẩu sản phẩm văn hóa Hàn Quốc tăng 100 USD, thì kim ngạch xuất khẩu hàng tiêu dùng của Hàn Quốc tăng
412 USD Bên cạnh các giá trị kinh tế, việc phát triển công nghiệp văn hóa còn giúp phát triển đất nước trên các phương diện khác, nhất là truyền bá văn hóa và
Trang 10tăng cường sức mạnh mềm của đất nước; qua đó, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Ở Việt Nam, phát triển công nghiệp văn hóa đã sớm được đề cập tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI và tiếp tục được đề cập tại Đại hội XII của Đảng
về nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa vẫn đang còn rất hạn chế Để phát triển lĩnh vực này một cách có hiệu quả, Đại hội XIII của Đảng xác định, phải “khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”(3)
Thứ ba, bảo tồn, khai thác và phát huy nguồn tài nguyên văn hóa Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, và luôn xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh, là “ngọn đuốc soi đường” cho sự phát triển của đất nước Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể, văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam bị mai một Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng Môi trường văn hóa đứng trước nhiều thách thức, chịu tác động mạnh của yếu tố ngoại lai, đe dọa đến thuần phong mỹ tục, Do vậy, để văn hóa, con người thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực của sự phát triển bền vững đất nước, trước hết phải bảo tồn được nguồn lực văn hóa và khai thác đúng tầm giá trị của nguồn tài nguyên vô giá này
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, cần bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam: tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới Đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực
Trang 11văn hóa đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả(4)
Cần lưu ý, văn hóa là tài nguyên quốc gia, nhưng tài nguyên không phải trong trạng thái ngủ yên mà phải được đánh thức, tạo ra giá trị cho đời sống Sự đánh thức nguồn tài nguyên văn hóa trong thời hiện đại chính là xây dựng được nền công nghiệp văn hóa để khai thác có hiệu quả
Phát huy các giá trị của nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc để phát triển đất nước bền vững không chỉ là sự quyết tâm và hành động của cả hệ thống chính trị, mà còn là sự nhận thức và chung tay của toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước./
7) Phân biệt các khái niệm phát triển, phát triển bền vững
Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn
ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề
xã hội và bảo vệ môi trường
9) Vì sao con người cần hướng tới mục tiêu Phát triển bền vững chứ không đơn thuần chỉ là phát triển ?
gày 25/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ-CP về phát triển bền vững Nghị quyết đã đưa ra 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của
Trang 12Việt Nam gồm: (1) Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi; (2) Xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững; (3) Bảo đảm cuộc sống khỏe mạnh và tăng cường phúc lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi; (4) Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người; (5) Đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái; (6) Đảm bảo đầy đủ và quản lý bền vững tài nguyên nước và hệ thống vệ sinh cho tất cả mọi người; (7) Đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn năng lượng bền vững, đáng tin cậy và
có khả năng chi trả cho tất cả mọi người; (8) Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, liên tục; tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người; (9) Xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu cao, thúc đẩy công nghiệp hóa bao trùm và bền vững, tăng cường đổi mới; (10) Giảm bất bình đẳng trong xã hội; (11) Phát triển đô thị, nông thôn bền vững, có khả năng chống chịu; đảm bảo môi trường sống và làm việc an toàn, phân bổ hợp lý dân cư và lao động theo vùng; (12) Đảm bảo sản xuất và tiêu dùng bền vững; (13) Ứng phó kịp thời, hiệu quả với biến đổi khí hậu và thiên tai; (14) Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và nguồn lợi biển để phát triển bền vững; (15) Bảo vệ và phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển dịch vụ hệ sinh thái, chống sa mạc hóa, ngăn chặn suy thoái và phục hồi tài nguyên đất; (16) Thúc đẩy xã hội hòa bình, dân chủ, công bằng, bình đẳng, văn minh vì sự phát triển bền vững, tạo khả năng tiếp cận công lý cho tất cả mọi người; xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và có sự tham gia ở các cấp; (17) Tăng cường phương thức thực hiện và thúc đẩy đối tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững
Để hoàn thành các mục tiêu trên, Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ và giải pháp chung, yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tiếp tục nghiêm túc triển khai thực hiện đồng
bộ, có hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030
vì sự phát triển bền vững được ban hành tại Quyết định 122/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2017 và Kế hoạch hành động của bộ, ngành, địa phương thực hiện Chương trình nghị sự 2030, tập trung vào những nội dung, như: Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách; Tăng cường thông tin, truyền thông; Phát huy vai trò và
sự tham gia của các bên liên quan; Bố trí, huy động và tăng cường nguồn lực tài chính; Tăng cường hợp tác quốc tế
Ngoài ra, Nghị quyết cũng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu liên quan đến lĩnh vực quản lý của các bộ, ngành Bộ Công Thương được giao 3 nhiệm vụ trong
đó có việc Chủ trì, tổ chức thực hiện Chương trình hành động quốc gia về sản xuất
và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030 (ban hành tại Quyết định số TTg ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ) Hoàn thiện chính sách
889/QĐ-về sản xuất và tiêu dùng bền vững; thúc đẩy xanh hóa hệ thống phân phối và phát
Trang 13triển chuỗi cung ứng quốc gia sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường, ưu tiên các sản phẩm do doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất, cung ứng; thúc đẩy phát triển công nghiệp môi trường, công nghiệp tái chế chất thải
Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 là khung pháp lý đầu tiên của Việt Nam tiếp cận tổng thể và toàn diện các nội dung và nhiệm vụ về sản xuất và tiêu dùng bền vững,
cụ thể hóa mục tiêu phát triển bền vững số 12 (SDG 12) với những ưu tiên cụ thể cho Việt Nam
Về cơ bản, các nhiệm vụ chính của Chương trình đã được tích cực thực hiện, bước đầu đạt một số kết quả đáng ghi nhận Theo đánh giá của Bộ Công Thương, 5/10 mục tiêu của Chương trình đã hoàn thành hoặc cơ bản hoàn thành, bao gồm: Tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn; ứng dụng thí điểm và dần dần mở rộng đổi mới sinh thái cho các doanh
nghiệp, khu công nghiệp, và cụm công nghiệp; Áp dụng chứng nhận phân phối xanh; phát triển thành công và dần dần mở rộng chuỗi cung ứng bền vững cho các sản phẩm chính trong nền kinh tế; Cung cấp thông tin, hướng dẫn và hỗ trợ áp dụng các hệ thống quản lý và tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững của các nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam; Người tiêu dùng và cộng đồng được cung cấp thông tin đầy đủ về các sản phẩm thân thiện với môi trường, các hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững và tỷ lệ phế liệu nhựa, giấy,và dầu thải sẽ được tái chế và tỷ lệ chất thải rắn công nghiệp thông thường được thu hồi để tái chế và tái sử dụng
Bên cạnh kết quả đạt được, một số mục tiêu của Chương trình đang được gấp rút thực hiện và bước đầu có hiệu quả, gồm: 50% chất thải rắn xây dựng trong khu vực
đô thị sẽ được thu hồi để tái chế và tái sử dụng; 85% chất thải rắn đô thị được tái
sử dụng, tái chế, thu hồi để lấy năng lượng hoặc làm phân hữu cơ; Hoàn thành khung pháp lý và hướng dẫn về mua sắm công xanh và Tăng tỷ lệ phần trăm của các sản phẩm bền vững trong mua sắm công; cải thiện khung pháp lý và hướng dẫn
về việc thực hiện mua sắm công bền vững
Kinh tế tuần hoàn như một công cụ thiết thực giúp Việt Nam chuyển đổi kinh tế xã hội trong quá trình thực hiện sản xuất tiêu dùng bền vững; Cần có sự tham gia của tất cả các chủ thể trong xã hội thực hiện sản xuất tiêu dùng bền vững nhằm giải quyết một cách toàn diện các cơ hội và thách thức mới trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội của Việt Nam và Kế hoạch hành động sản xuất tiêu dùng bền vững cần bám sát 09 nội dung của sản xuất và tiêu dùng bền vững, gồm: Quản lý tài nguyên bền vững; Hiệu quả Tài nguyên và Sản xuất Sạch hơn; Thiết kế vì sự bền
Trang 14vững: Mua sắm công xanh; Vận tải bền vững; Nhãn sinh thái và chứng nhận; Tiếp thị bền vững; Lối sống bền vững và Quản lý chất thải) Đồng thời, chú trọng và tập trung ưu tiên các hoạt động dựa trên nguồn lực và nhu cầu thực tiễn
Các nhiệm vụ chính của sản xuất tiêu dùng bền vững tại Việt Nam đang được triển khai dựa trên sự nhất trí cao của Chính phủ Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của Việt Nam cho thấy sự chuyển đổi sang sản xuất tiêu dùng bền vững là một nhiệm vụ quan trọng với nhằm hướng tới bền vững lâu dài Kinh tế tuần hoàn như một công cụ thiết thực sẽ giúp ích cho Việt Nam chuyển đổi kinh tế xã hội trong quá trình thực hiện sản xuất tiêu dùng bền vững
Là một nền kinh tế mới nổi, Việt Nam cần tăng cường năng lực R&D của các
doanh nghiệp để tạo điều kiện đổi mới sinh thái cho quá trình cạnh tranh toàn cầu
và kết hợp sản xuất tiêu dùng bền vững vào các biện pháp thương mại xuất nhập khẩu Hơn nữa, khi đô thị hóa đang được mở rộng tại Việt Nam, cần tập trung hơn nữa vào các mục tiêu tiêu dùng bền vững của dân cư đô thị trong suốt quá trình chuyển đổi mô hình tiêu dùng nhanh chóng Do đó sản xuất tiêu dùng bền vững có thể được thông qua trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội của Việt Nam để giải quyết một cách toàn diện các cơ hội và thách thức mới nổi thông qua sự tham gia của tất cả các chủ thể trong xã hội
10 ) Trình bày quá trình phát triển của khái niệm “ Phát triển bền vững”
Năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for
Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment and
Development) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và
xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Gôdian và Hecdue, 1988, GS Grima Lino)
Trang 15Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững
tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)
Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội
và có tính tất yếu Tư duy về phát triển bền vững bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là:
“Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”
Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững
Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường
Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ
11) Thế nào là Phát triển bền vững? Đề xuất giải pháp để phát huy vai trò của Văn hoá Việt Nam đối với mục tiêu phát triển bền vững?
12) Trình bày quan điểm của Đảng về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững đất nước\
Cuốn kia
Trang 1613 ) Từ các khái niệm khác nhau về văn hóa, anh chị hãy trình bày cách hiểu của mình về văn hóa Lấy ví dụ minh họa cho cách hiểu của anh chị Phân biệt văn hóa và văn minh
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa
Ở một khía cạnh nào đó, cũng cần phân biệt văn hóa với văn minh Đây là một vấn
đề khá phức tạp và đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về sự phân biệt này Một số nhà xã hội học thì cho rằng, sự gần nhau hay khác nhau giữa văn hóa
và văn minh là nằm ở nội dung mà đưa ra hai khái niệm văn hóa và văn minh Văn hóa được coi là biểu hiện tinh thần sâu xa của cộng đồng, còn văn minh thì bắt nguồn từ khoa học và thể hiện trước hết ở sự tiến bộ của kỹ thuật, của máy móc, sản xuất Hoặc có quan điểm khác cho rằng, thực chất, thuật ngữ văn minh là
để chỉ toàn bộ những nền văn hóa riêng biệt có nguồn gốc chung hay quan hệ chung, như văn minh phương Tây bao gồm văn hóa Pháp, Anh, Đức,
Một cách nhìn nhận khác, thì coi văn hóa là những khía cạnh trừu tượng hóa của một xã hội riêng biệt Còn văn minh được chia thành những bậc cao thấp khác nhau Văn minh bậc cao được coi là một tổng thể văn hóa bao gồm những nét đặc trưng văn hóa quan trọng nhất thấy được trong nhiều xã hội riêng biệt; văn minh phương Tây trong đó có nhiều xã hội có chung một hình thức đặc thù về khoa học,
kỹ thuật, nghệ thuật, Văn minh bậc thấp được cấu thành bởi một dân tộc thuần nhất đặc trưng cho những xã hội giai cấp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử (văn minh Ai Cập, Trung Hoa, )
14) Trình bày cách hiểu của anh chị về phát triển và phát triển bền vững Tại sao phát triển bền vững lại cần thiết
Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế Thế Giới, nhiều thách thức đặt ra với loài người như: biến đổi khí hậu, khan hiếm nước, bất bình đẳng và đói nghèo, Tất cả chỉ có thể được giải quyết ở cấp độ toàn cầu và bằng cách thúc đẩy phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thể:
- Phát triển bền vững đảm bảo tính bền vững về kinh tế:
Trang 17Sự phát triển bền vững giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn Tức là sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế lành mạnh, vẫn đáp ứng được những nhu cầu của cuộc sống, nâng cao đời sống người dân nhưng lại tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ kinh tế trong tương lai đặc biệt là gánh nặng nợ nần để không biến nó thành di chứng cho các thế hệ mai sau
- Phát triển bền vững đảm bảo tính bền vững về xã hội:
Ngoài tính bền vững về kinh tế, phát triển bền vững còn đảm bảo tính bền vững về
xã hội thể hiện ở sự công bằng xã hội và phát triển con người thông qua thước đo
là chỉ số HDI Theo đó, tính bền vững được thể hiện ở việc đảm bảo về sức khỏe, dinh dưỡng, học vấn, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội và tạo cơ hội
để mọi thành viên trong xã hội đều được bình đẳng ngang nhau Từ đó làm giảm nguy cơ xung đột xã hội hay chiến tranh
- Phát triển bền vững nhằm đảm bảo tính bền vững về môi trường:
Như bạn biết đấy, môi trường đang là một trong những vấn đề “nóng” hiện nay, là vấn đề được sự quan tâm đặc biệt của xã hội Các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị suy giảm, cạn kiệt cả về số lượng lẫn chất lượng Tình trạng rừng bị tàn phá, kể cả rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ nhằm khai thác gỗ hoặc lấy đất canh tác…gây nên hàng loạt các thiên tai, gây biến đổi khí hậu
Chính vì vậy, phát triển bền vững nhằm mục đích khai thác và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không ngừng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống theo hướng tích cực Đảm bảo cho con người sống trong môi trường xanh - sạch - đẹp, đảm bảo mối quan hệ hài hòa thật sự giữa con người, xã hội và
tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của thế hệ hiện tại, nhưng không cản trở các thế hệ tương lai có cơ hội thỏa mãn nhu cầu của họ về tài nguyên và môi trường
15 ) 17 mục tiêu : giống câu 9
16 ) Trình bày cách hiểu của anh chị về vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững?
1) Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia Tuy nhiên, khi nhìn nhận về vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển thường có những cách tiếp cận khác nhau, điều đó một phần quan trọng phụ thuộc vào quan niệm về văn hóa Hiện nay, theo một số thống kê chưa đầy đủ có khoảng hơn 400 định nghĩa (khái niệm) về văn hóa với những giác độ tiếp cận khác nhau
Trang 18Năm 2002, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm
người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa chứa đựng cả yếu tố vật chất và phi vật chất, tuy nhiên vai trò chủ yếu của văn hóa là về lĩnh vực tinh thần - phi vật chất (tâm hồn, tri thức, cảm xúc, văn học, nghệ thuật, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, đức tin…) Hơn nữa, theo định nghĩa này văn hóa thuộc phạm trù của
cả một xã hội hay một nhóm người, như vậy vai trò của văn hóa trong cá nhân con người và vai trò của văn hóa trong thể chế chính trị - xã hội (nhất là nhà nước) đã không được đề cập tới
2) Quan niệm của Đảng ta về văn hóa cũng có những bước phát triển
Năm 1986, Đảng ta kế thừa và phát triển quan điểm về văn hóa của các giai đoạn trước, đưa ra quan điểm: “Văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống”
Năm 1998, Nghị quyết T.Ư 5 (khóa VIII) của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, khẳng định “Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu
và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”
Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã nhấn mạnh “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”
Tiếp tục phát triển các quan điểm trước đây về phát triển văn hóa, Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Nhấn mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Trang 19Như vậy, quan niệm của Đảng ta về văn hóa cũng khảng định “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần”, nhưng đồng thời khẳng định vai trò của văn hóa “là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người”, “ là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống”, “là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh”, “là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước” Đồng thời chỉ rõ vị trí của văn hóa - “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh
tế, chính trị, xã hội” Ở đây có thể nêu lên hai nhận xét: Thứ nhất, Đảng ta vẫn xếp văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần, và do đó vai trò của văn hóa chủ yếu thuộc lĩnh vực tinh thần Thứ hai, mặt khác, khi khẳng định văn hóa “là sức mạnh nội sinh” của sự phát triển, và “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội ”, đã cho thấy trên thực tế vị trí và vai trò của văn hóa chưa được nhận thức và coi trọng đúng mức, văn hóa chưa được tiếp cận là nội dung mang tính bản chất, hữu cơ của chính các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, vẫn còn được coi là yếu tố
“bên ngoài, bên cạnh” tác động qua lại với các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Khi chưa nhận thức rõ văn hóa là một trong những nền tảng cốt lõi, cơ bản, mang tính bản chất của sự phát triển của cả kinh tế, chính trị và xã hội, thì trên thực tế chưa xác định đúng vị trí và vai trò của Văn hóa Và khi đó văn hóa chưa thể đóng vai trò là sức mạnh nội sinh của sự phát triển
3) Để xác định đúng vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, cần thiết phải nhận thức sâu sắc quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa Năm 1943 Người nêu lên quan niệm tổng quát về văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Quan niệm tổng quát của Hồ Chí Minh về văn hóa cho thấy, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần, văn hóa chính
là đời sống lao động sáng tạo gắn với phương thức tổ chức đời sống của xã hội loài người, văn hóa vừa là nhân tố bản chất bên trong vừa là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển con người, của nền sản xuất xã hội và của các hình thức tổ chức tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, của xã hội loài người Hay nói một cách khái quát, văn hóa là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội loài người Có thể chính vì vậy mà cách đây 7 thập kỷ, từ những ngày đầu cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh đã nói đến nguyên lý “Văn hoá soi đường quốc dân đi” Rõ ràng Người đã xác định rất sâu sắc vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước
Ngoài nghĩa tổng quát về văn hóa, Hồ Chí Minh cũng nói về văn hóa theo nghĩa hẹp là những giá trị tinh thần: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề
Trang 20cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945); hoặc theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người, Người yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ” Có thể thấy nghĩa hẹp và nghĩa rất hẹp về văn hóa trong quan niệm của Hồ Chí Ninh cũng nằng trong quan niệm phổ quát của Người về văn hóa
Cùng cách tiếp cận về văn hóa với Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng cho rằng “văn hóa…bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử…, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình
và không ngừng lớn mạnh” Theo quan niệm này, văn hóa là những gì không phải
là thiên nhiên và do con người sáng tạo nên Tuy nhiên, với sự phát triển của loài người, nhất là về khoa học - công nghệ, thiên nhiên “hoang sơ” không có dấu chân người cũng không còn nữa Vì vậy, thiên nhiên ngày nay cũng có thể nói là thiên nhiên văn hóa rồi, con người và thiên nhiên hòa quyện với nhau trở thành một thực thể văn hóa Điều đó đang nói lên một vai trò rất mới của văn hóa – văn hóa sinh thái Chính vì vậy, Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm phát triền bền vững là phát triển bền vững cả về kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái Có thể nói quan niệm phát triển bền vững là một giá trị văn hóa tổng hợp của sự phát triền trong thời đại ngày nay, và trở thành một giá trị nhân loại
2 Nhận thức về “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển”
Khi đã khẳng định “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển” thì cần nhận thức sâu sắc rằng, để trở thành sức mạnh nội sinh văn hóa phải ở “bên trong” và là một yếu tố - nội dung mang tính bản chất của kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái Văn hóa không thể nhìn nhận chỉ như những yếu tố “bên ngoài, bên cạnh” tác động qua lại với kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái, mặc dù văn hóa được nhìn nhận có tính độc lập tương đối với các lĩnh vực này Khi đã nhận thức “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển” thì một vấn đề cần được trả lời tiếp là văn hóa nằm ở đâu ? trong các chủ thể nào ? của chủ thể nào ? trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái Cần phải thấy rằng văn hóa nằm trong tất cả các chủ thể, các thiết chế, các tổ chức, các đối tượng chịu sự tác động qua lại của các chủ thể với con người và hoạt động của con người trong xã hội Có thể nêu lên các chủ thể cơ bản của văn hóa là: Quốc gia - Dân tộc; Hệ thống chính trị; Đảng và các tổ chức trong hệ thống của Đảng; Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống quyền lực nhà nước; Hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp;Hệ thống các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác; Hệ thống các đơn vị sự nghiệp; Các gia đình, dòng họ; Các cộng đồng người, tộc người; Các cá nhân;…
Trang 21Khi xác định “Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển” thì tất yếu phải làm
rõ sức mạnh nội sinh mang tính bản chất cốt lõi của văn hóa trong các chủ thể này trong quá trình vận động và phát triển Bản chất văn hóa cốt lõi trong các chủ thể
đó lại phụ thuộc một cách căn bản vào chức năng và vai trò xã hội của từng chủ thể Có chủ thể có chức năng và vai trò là lãnh đạo - quản lý xã hội (như các tổ chức Đảng cầm quyền và tổ chức Nhà nước), có chủ thể hoạt động theo cơ chế tự chủ trong xã hội trong khuôn khổ pháp luật, có chủ thể có vị trí là người “bị lãnh đạo - quản lý”…Điều đó cho thấy trong mỗi chủ thể có hai chức năng văn hóa khác nhau : chức năng văn hóa là sức mạnh nội sinh cho hoạt động và phát triển của chính chủ thể đó, và chức năng văn hóa tác động (tương tác) với các chủ thể khác trong xã hội Hai chức năng văn hóa này trong mỗi chủ thể liên quan mật thiết
- biện chứng với nhau tạo thành bản chất văn hóa của chủ thể; đồng thời bản chất văn hóa của mỗi chủ thể lại tương tác hữu cơ với bản chất văn hóa của các chủ thể khác trong xã hội theo những phương thức khác nhau: thuận chiều, lệch chiều, ngược chiều, cộng hưởng, thúc đẩy hay kìm hãm, hạn chế, áp đặt…Quá trình
tương tác này tạo thành bản chất văn hóa ở cấp độ hệ thống cao hơn, rộng hơn, lên tới cấp Quốc Gia - Dân tộc, kết nối với quốc tế Xét trên bình diện Quốc gia - Dân tộc thì bản chất - vị trí - vai trò - chức năng văn hóa của hai chủ thể là Đảng cầm quyền và Nhà nước có tầm quan trọng “áp đặt” và chi phối mạnh nhất đối với tất các chủ thể khác trong xã hội, vì hai chủ thể này có vai trò lãnh đạo - quản lý sự phát triển của xã hội Điều này không đồng nghĩa với việc bản chất - vị trí - vai trò
- chức năng văn hóa của hai chủ thể là bất kỳ Đảng cầm quyền nào và Nhà nước nào, khi nào và luôn luôn có tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Điều này còn phụ thuộc một cách quyết định vào bản chất và giá trị văn hóa mà Đảng cầm quyền và Nhà nước “đặt ra” cho xã hội, định hướng phát triển xã hội Trên thế giới, không ít Đảng cầm quyền cùng với Nhà nước do Đảng đó lãnh đạo
đã bị thất bại (mất quyền lãnh đạo, hay để đất nước rơi vào trì trệ, khủng hoảng sau một thời gian cầm quyền có thể là rất dài trong hàng nhiều thập kỷ), một trong những lý do cơ bản là Đảng cầm quyền và Nhà nước đó đã đưa ra những giá trị văn hóa - giá trị xã hội không phù hợp (hay mâu thuẫn) với yêu cầu khách quan của sự phát triển, mâu thuẫn (có khi tạo nên sự xung đột) với những giá trị văn hóa của các chủ thể khác trong xã hội, nhất là giá trị văn hóa của con người, của gia đình, các cộng đồng và hệ thống các doanh nghiệp Khi đó văn hóa không tạo được (và không là) sức mạnh nội sinh của sự phát triển của từng chủ thể, và nhất là không tạo được sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống xã hội - của quốc gia Bởi vì mọi điều áp đặt các giá trị trái quy luật có thể đưa lại sức mạnh nhất thời, nhưng rồi sẽ phải “trả giá” bằng những thất bại, nếu không có sự điều chỉnh kịp thời Về điều này rất cần nhớ lời F Engghen đã nói : Một dân tộc đi xâm lược dân tộc khác, bằng bạo lực có thể áp đặt quyền cai trị lên dân tộc đó, nhưng sẽ không đồng hóa được dân tộc đó nếu dân tộc đi xâm lược có trình độ văn hóa thấp
Trang 22hơn, mà ngược lại, sẽ bị dân tộc bị xâm lược đồng hóa ngược lại Trong lịch sử hơn một ngàn năm bị Bắc thuộc của dân tộc ta cũng nói lên điều này : Dưới
các lũy tre làng của Việt Nam chứa đựng những giá trị văn hóa - sức mạnh nội sinh mà phong kiến Phương Bắc không thể xóa đi được, không thể đồng hóa được
Đó chính là sức mạnh nội sinh cho sự đấu tranh, chiến đẩu giành lại, gìn giữ, bảo
vệ nền độc lập và phát triển trường tồn của dân tộc Việt Nam
18 ) phân biệt văn hóa với bản sắc văn hóa
Khái niệm văn hóa theo UNESCO: "Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc
Theo giáo sư Tâm lý học Peter Weinreich, đại học Ulster: “Bản sắc của một cá thể
là tổng thể của phân giải cá nhân, qua đó cách mà cá thể phân giải chính mình ở hiện tại được tiếp tục từ cách cá thể phân giải chính mình trong quá khứ, cũng như truyền cảm hứng cho tiến trình phân giải chính mình trong tương lai”
Bản sắc văn hóa là một phạm vi nhỏ thuộc nền văn hóa rộng lớn của một địa
phương, một vùng hay thậm chí là một quốc gia Bản sắc văn hóa là nói về những nét đẹp trong văn hóa, những nét tinh hoa mà chỉ vùng, địa điểm hay dân tộc đó mới có, và là nét văn hóa đặc sắc nhất trong nền văn hóa chung để khi nhắc đến là nhớ ngay đến địa điểm cụ thể nào đó, hoặc dân tộc nào đó
Vì vậy, ta có thể hiểu, bản sắc văn hóa dân tộc là thuật ngữ chỉ sắc thái, vẻ đẹp và tính chất đặc biệt, cái riêng của một nền văn hóa, của một dân tộc để phân biệt với những dân tộc khác trên thế giới Bản sắc văn hóa dân tộc là cái gốc của nền văn hóa, những đặc trưng không thể trộn lẫn trong cội nguồn văn hóa của mỗi dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là những nét đặc trưng đặc biệt làm nên sắc thái, bản lĩnh và dấu ấn riêng của dân tộc Việt, từ những nét đó để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác
Trang 2319 ) Khái niệm phát triển bền vững? Những nguyên tắc của sự phát triển bền vững?
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề
xã hội và bảo vệ môi trường
Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường với nội dung cụ thể như sau:
+ Phát triển bền vững về kinh tế: là quá trình đạt được tăng trưởng kinh tế ổn định
và đều đặn, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, nợ chính phủ, đảm bảo cân đối cán cân thương mại, đầu tư có chất lượng, có năng suất cao thông qua việc nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản xuất, không làm phương hại đến xã hội và môi trường
+ Phát triển bền vững về xã hội: là phát triển nhằm đảm bảo sự công bằng trong xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đảm bảo người dân có cơ hội được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục nhưng không làm phương hại đến kinh tế và môi trường
+ Phát triển bền vững về môi trường: là việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh Phát triển bền vững về môi trường cần duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác, cần hạn chế vấn đề nhiễm môi trường bao gồm cả ô nhiễm đô thị và khu công nghiệp, cần phải quản lý
và xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, có khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai
Ngoài ra, phát triển bền vững về môi trường cần phải hướng được các doanh
nghiệp từng bước thay đổi mô hình sản xuất, hướng doanh nghiệp đến các công nghệ sản xuất sạch hơn, thân thiện với môi trường hơn Phát triển bền vững về môi trường phải đảm bảo không làm phương hại đến kinh tế và xã hội
20 ) Cơ sở hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam?
Văn hóa chính trị Việt Nam hình thành từ khi nhà nước sơ khai đầu tiên – nhà nước Văn Lang, dưới thời đại các vua Hùng ra đời Tư tưởng giữ vững, bảo vệ nền
Trang 24độc lập dân tộc gắn liền với giữ nước, là vấn đề chính trị lớn nhất, thường xuyên đặt ra trước tất cả các nhà nước Việt Nam trong lịch sử
Nền văn hóa truyền thống VN là sản phẩm của một quá trình lịch sử lâu dài, từ buổi đầu dựng nước cho đến đầu thế kỉ 19, đó là quá trình tương tác giữa tự nhiên
và xã hội
Văn hóa truyền thống VN được hình thành từ những nền tảng văn hóa bản địa và tiếp thu với những nền văn hóa bên ngoài để tạo nên 1 bản sắn văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Nền tảng văn hóa bản địa:
Văn hóa Đông Nam Á thời tiền sử: chia làm 2 giai đoạn: thời đại đá cũ và thời đại
đá mới có niên đại cách chúng ta khoảng 20000 năm đến 7000 năm, là giai đoạn hình thành những nền tảng đầu tiên của nền văn hóa Đông Nam Á, các cộng đồng người sinh tụ trên những địa bàn nay thuộc lãnh thổ Việt Nam đã có những đóng góp xuất sắc, tiêu biểu cho tiến trình này, được ghi nhận bởi sự tồn tại của nền văn hóa tiêu biểu: thời đại đá cũ và thời đại đá mới
Văn hóa bản địa Việt Nam thời sơ sử: là thời kì hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên của Việt Nam, Văn Lang – Âu Lạc kéo dài trong khoảng 2000 năm TCN, trên nền tảng của nền văn minh lúa nước và văn minh đồ đồng cùng với sự hình thành
và phát triển của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, đã định hình và phát triển 1 nền văn hóa bản đại Việt Nam – văn hóa Đông Sơn – đỉnh cao của văn hóa dân tộc thời
sơ sử
21) Những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam và nguyên nhân?
Những yếu tố chính làm nên các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trên con đường đổi mới, đất nước đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, vượt qua lạc hậu, đói nghèo, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Sự nghiệp này hết sức vẻ vang nhưng cũng
Trang 25đầy thách thức Chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu thực hiện xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, phúc tạp Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã được Đảng, Nhà nước ta chú trọng và coi đây là một giải pháp kinh tế – xã hội lâu dài góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ nghề nghiệp, tác phong làm việc tiên tiến cho người lao động Ra nước ngoài làm việc, người lao động không chỉ có điều kiện mở rộng tầm nhìn, mở rộng giao lưu quốc tế, được hoà nhập và hiểu biết nền văn hoá của các dân tộc khác mà còn là cơ hội để giới thiệu
và quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Khi sống và làm việc ở nước
ngoài, mỗi chúng ta còn có bổn phận thực hiện tốt vai trò ngoại giao nhân dân Vì vậy phải biết kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc; tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới góp phần làm giàu thêm nền văn hoá Việt Nam Là người Việt Nam chúng ta có quyền tự hào với các
truyền thống dựng nước và giữ nước đã được hình thành, phát triển qua nhiều thế
hệ, đó là: 2 Tinh thần yêu quê hương đất nước Lịch sử dựng nước của dân tộc ta luôn gắn liền với lịch sử giữ nước, nó rèn luyện, hun đúc tinh thần yêu nước,
truyền thống đoàn kết tạo nên khí phách anh hùng, quật cường của dân tộc Việt Nam, sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh gian khổ bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền quốc gia Yêu nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, trở thành tình cảm thiêng liêng trong mỗi người dân Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, là động lực nội sinh to lớn của cộng đồng dân tộc Việt Nam tạo nên sức mạnh vô địch trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng đất nước Hòa nhập vào thế giới để tiến lên mà không hòa tan, không đánh mất bản sắc dân tộc là một cuộc đấu tranh đầy gian nan, thử thách Chỉ
có yêu nước mới xây 2 dựng và bảo vệ đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân
và vinh quang cho dân tộc Chủ nghĩa yêu nước là tình cảm chung thiết tha của toàn dân Việt Nam, cả những người Việt Nam đang sống và làm việc ở nước
ngoài; là sức mạnh tiềm tàng, thường trực trong lòng mỗi người dân Việt Nam; là nguồn lực không bao giờ cạn vì có cơ sở vững bền, lâu đời trong lịch sử đất nước
Trang 26và phù hợp với tính cách, nguyện vọng và là trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam Truyền thống yêu nước của dân tộc ta rất phong phú và sâu sắc, nó thể hiện ở tình yêu quê hương xứ sở, nơi sinh ra, lớn lên của mỗi người, đó là xóm, làng, là cộng đồng làng, xã …là sự gắn bó giữa những thành viên của dân tộc, là tình cảm gắn liền với thiên nhiên, với con người ở quê hương Đất nước Việt Nam có đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên nhiều thuận lợi, song không ít khó khăn Trong quá trình khai phá mảnh đất này cha ông ta đã phải đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên Từng tấc đất đều thấm đượm mồ hôi, nước mắt và xương máu của bao thế hệ, vì thế, mọi người Việt Nam đều nặng tình, nặng nghĩa với quê hương Tình yêu nước còn thể hiện ở lòng tự hào, tự tôn dân tộc, dường như trong mỗi người Việt Nam đều tiềm ẩn lòng tự hào, tự tôn, tự cường dân tộc, lòng nhân
ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, cần cù sáng tạo… chúng ta tự hào về pho sử vàng 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, không khuất phục ách ngoại xâm; tự hào về lòng yêu nước thương nòi; Tự hào về hành động xả thân vì dân, vì nước của cha ông ta, của các anh hùng dân tộc; tự hào về nền văn hóa Việt Nam; tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta, danh nhân văn hóa thế giới, Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta 3 Truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái Tình yêu nước gắn chặt với lòng nhân ái: thương nước, thương nhà, thương người và thương mình Cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau luôn là nét đẹp truyền thống trong đời sống của nhân dân ta, giàu lòng nhân ái, thương người như thể thương thân là bản chất tốt đẹp của người Việt Nam ta, được thể hiện qua những câu ca dao lưu truyền từ đời này sang đời khác: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Hay: Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Đây là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc ta, đó là tình nghĩa ruột thịt, đồng bào Tất cả người dân Việt Nam đều là con một nhà, cùng chung một cha mẹ, coi nước như cái nôi cái bọc chung, tình cốt nhục, nghĩa đồng bào coi nhau như ruột thịt là
cơ sở chính để tồn tại, phát triển để bảo vệ nòi giống và danh dự 3 của mình, chính nhờ đó mà chúng ta có sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù, chung tay xây dựng đất nước ta ngày càng to đẹp, đàng hoàng hơn Ra nước ngoài làm việc, người lao động luôn hướng về Tổ Quốc, có trách nhiệm với quê hương đất nước, với cộng
Trang 27đồng, cùng vui với những niềm vui của Đất nước, cùng san sẻ với những nỗi đau, mất mát của những người dân kém may mắn hay do thiên tai gây ra Sống nhân nghĩa, thuỷ chung, vị tha, kính trên nhường dưới, thân thiện với bạn bè đồng
nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống và trong công việc là nét đặc trưng của người dân Việt, của cộng đồng người Việt trên toàn thế giới 4 Phẩm chất cao quý trong lao động sản xuất Gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, dân tộc Việt từ bao đời đã gắn chặt công việc lao động, sản xuất với thiên nhiên Trong quá trình lao động, người dân luôn phải đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và không có cách nào khác là phải tìm ra biện pháp để chinh phục
và chế ngự nó Hình ảnh người nông dân một nắng, hai sương, cần cù, sáng tạo trong chinh phục thiên nhiên để làm ra hạt thóc "vàng" luôn là hình ảnh đậm nét về đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động Phẩm chất quý báu đó đã được kế thừa và phát huy qua nhiều thế hệ và đã trở thành một trong những nét truyền thống của dân tộc Người lao động khi ra nước ngoài làm việc một cách chuyên cần, sáng tạo
sẽ chính là tạo cho mình có cơ hội để tăng thu nhập, làm giàu cho bản thân, gia đình và quê hương đất nước mình và cao hơn nữa là góp phần vào giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc 5 Truyền thống hiếu học và phẩm chất tốt đẹp trong học tập Thể hiện sự ham học hỏi những cái mới, cái tốt trong cuộc sống
và trong lao động, tiếp thu được những công nghệ mới, những kinh nghiệm tiên tiến để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống Người lao động đi làm việc ở nước ngoài phát huy tính tích cực trong lao động, trong học tập nâng cao trình độ nghề nghiệp, tác phong làm việc tiên tiến và trình độ ngoại ngữ để nâng cao hiệu quả công việc
và góp phần xây dựng đât nước sau này 6 Dân tộc Việt Nam là một dân tộc trọng tình trọng nghĩa 7 Người Việt sống lạc quan, yêu cái đẹp, cái tốt, tôn trọng cuộc sống gia đình
22) Những điểm hạn chế trong bản sắc văn hóa Việt Nam? Nguyên nhân và cách khắc phục?
là những giá trị truyền thống lạc hậu, bảo thủ, không phù hợp với bối cảnh, tình hình hiện tại như tư tưởng cục bộ, tiểu nông, bình quân chủ nghĩa… sẽ tạo ra
Trang 28những lực cản trở cho cho việc xây dựng và phát triển một nền văn hóa chất lượng, văn minh, hiện đại
Tư duy quản lý văn hóa chưa theo kịp sự phát triển của xã hội Dấu ấn của tư duy bao cấp, “xin cho”, tư duy hành chính – mệnh lệnh, tác nghiệp vẫn còn nặng nề Hiện nay các cơ quan quản lý vẫn còn ôm đồm nhiều công việc “làm văn hóa” hoặc bị sa đà vào các hoạt động văn hóa cụ thể, các công việc sự vụ, phong trào mà chưa thực sự phát huy được đầy đủ trách nhiệm, vai trò của xã hội dân sự, của cộng đồng, của doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp Cơ chế quản lý vẫn chủ yếu mang tính tập quyền, tính chất phân quyền, phi tập trung hóa chưa cao Các chủ trương, đường lối, kế hoạch phát triển văn hóa phần lớn được xác định và xây dựng từ cấp vĩ mô tỏa xuống các cấp vi mô, chứ không được đề xuất và xây dựng
từ dưới lên, từ thực tiễn cơ sở Pháp luật chưa trở thành công cụ tối thượng để điều tiết, kiểm soát, điều chỉnh đời sống văn hóa Nhận thức về văn hóa của các ngành, các cấp có lúc còn cứng nhắc, áp đặt, giáo điều Trên thực tế, vị thế của văn hóa còn thấp, chưa thực sự được đặt ngang hàng với các lĩnh vực khác Mối quan hệ tổng thể của văn hóa với bộ, ngành, lĩnh vực khác, như giữa văn hóa với kinh tế, với giáo dục có lúc còn bị xao nhãng
* Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi tiếp diễn, nền kinh tế thị trường còn trong giai đoạn sơ khai, non trẻ, điều kiện kinh tế, khoa học, kỹ thuật của đất nước, nguồn nhân lực… còn nhiều hạn chế Sự phát triển chưa bền vững, có nhiều biến động, ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều mặt đời sống, trong đó có lĩnh vực văn hóa Chất lượng kém của dân số, giáo dục, y tế và an sinh xã hội đang là vấn
đề đáng lo ngại Bên cạnh đó là sự bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng Nguy
cơ tụt hậu cao nếu không bứt phá từ vai trò “công xưởng”, sử dụng lợi thế dân số vàng và sức lao động giá rẻ sang phát triển dựa trên nền tảng công nghệ, trí thức, sáng tạo Tuy nhiên, khung chính sách dành cho kinh tế tri thức thì vẫn đang trong quá trình hoàn thiện
* Thể chế quản lý chưa theo kịp và đáp ứng với yêu cầu phát triển Nhìn chung, thể chế văn hoá còn chậm đổi mới, không đồng bộ, nhanh chóng bị lạc hậu Việc ban hành luật vẫn còn những yếu kém, chất lượng của nhiều bộ Luật về văn hóa chưa cao Một số văn bản quản lý vừa được ban hành đã có những bất cập, đòi hỏi phải điều chỉnh, bổ sung Việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về văn hoá còn yếu nên nhiều quy phạm pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống Việc thực thi nhiều qui định của pháp luật liên quan đến văn hóa còn lúng túng (ví dụ: Luật
Sở hữu trí tuệ, Nghị định nghệ thuật biểu diễn) Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng, chưa thực sự tạo nhiều ưu đãi nên hiệu quả huy động các
Trang 29nguồn lực xã hội chưa cao Quá trình chuyển đổi các đơn vị nhà nước, đặc biệt là các đơn vị hoạt động nghệ thuật, dịch vụ văn hóa theo hướng xã hội hóa còn chậm Nhiều hiện tượng văn hoá sai lệch không có chế tài để xử phạt hoặc bị chồng chéo khi bị chi phối bởi các điều luật khác nhau Bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa cồng kềnh, ôm đồm, chồng chéo chức năng, ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả của cả bộ máy Một số đơn vị quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý vừa trực tiếp triển khai các hoạt động mang tính chất sự nghiệp, dẫn đến tính trạng chồng chéo, chạy theo sự vụ Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở các cấp với các tổ chức chính quyền và đoàn thể trong hệ thống chính trị còn thiếu chặt chẽ, trách nhiệm không rõ Việc kiện toàn tổ chức, nhân sự của ngành và hệ thống cơ quan quản lý từ cấp tỉnh đến cơ sở còn những hẹn chế Đội ngũ cán bộ quản lý nhìn chung chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, chưa bắt kịp với yêu cầu của thực tiễn Sự tách bạch giữa quản lý nhà nước và hoạt động tác nghiệp chưa rõ Có lúc, có nơi ở các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, các đơn vị quản lý ngành ở các địa phương có biểu hiện sao nhãng, buông lỏng quản lý, nhất là trong công tác quản lý di sản văn hoá, bản quyền tác giả, môi trường du lịch, quản lý nhà nước về gia đình
* Nguồn nhân lực cho sự phát triển văn hóa còn yếu và thiếu các kỹ năng chuyên môn và quản lý văn hóa trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, đặc biệt là năng lực đổi mới sáng tạo, các kỹ năng quản trị kinh doanh Chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý về văn hóa ở các cấp không theo kịp sự phát triển phong phú, đa dạng, xuất hiện nhiều hiện tượng mới và phức tạp của hoạt động văn hóa, dẫn tới lúng túng trong hoạch định chính sách, trong hướng dẫn tổ chức thực hiện, trong xử lý các vụ việc
vi phạm luật pháp và các chính sách về văn hóa Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý văn hoá chưa đáp ứng được yêu cầu, còn hẫng hụt cán bộ văn hoá ở các vị trí quan trọng, nguồn nhân lực chất lượng cao trong văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập Mức độ đầu tư, chính sách tuyển dụng, chế độ đãi ngộ, đối với các nghệ nhân, với các tài năng nghệ thuật nói riêng và văn nghệ sĩ, tầng lớp trí thức nói chung còn chưa phù hợp Lực lượng sáng tác, nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật còn yếu và thiếu Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật chưa theo kịp với yêu cầu của đời sống văn hóa ngày càng mới mẻ, phức tạp Cán bộ làm công tác văn hoá ở các cấp còn tình trạng chắp vá, trình độ chuyên môn còn hạn chế
* Đầu tư cho văn hóa ở cả trung ương và địa phương chưa tương xứng với vai trò,
vị trí của văn hóa trong phát triển Về tổng thể, mức đầu tư cho văn hóa trong tổng chi ngân sách tương đối thấp so với các lĩnh vực khác, chưa tương xứng với thực tiễn Chi cho văn hóa chưa bền vững, đồng đều Theo số liệu báo cáo, hiện nay tỷ
lệ chi cho văn hóa chỉ đạt 1,71% và vẫn chưa mang tính bền vững, đồng đều giữa
Trang 30các địa phương .Kinh phí từ ngân sách còn hạn hẹp, huy động nguồn đầu tư từ xã hội cho các hoạt động nghệ thuật còn rất thấp
thường xuyên, nội dung hoạt động nghèo nàn Công tác quy hoạch, đầu tư phát triển thiết chế văn hóa trọng điểm còn chậm, chưa có sự đầu tư và kế hoạch khả thi
để xây dựng các công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu, có giá trị xứng tầm thời đại Hệ thống thiết chế văn hoá vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa thực sự phù hợp với đặc điểm vùng miền, đến nhu cầu
và nguyện vọng của người dân, nội dung hoạt động còn nghèo nàn, chưa thiết thực Một số thiết chế văn hóa còn phân tán, hiệu quả hoạt động thấp, mô hình, cơ chế quản lý chưa phù hợp như các nhà văn hóa, trung tâm văn hóa Nhiều thiết chế văn hóa nghệ thuật của nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả do thiếu kỹ năng kinh
doanh, cơ chế quản lý không phù hợp, trang thiết bị đều trong tình trạng lạc hậu, chắp vá, thiếu thốn và hiệu quả sử dụng không cao
* Dịch vụ, sản phẩm văn hóa còn kém phát triển và có chất lượng thấp Hiện Việt Nam còn thiếu các thương hiệu văn hóa ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế, thiếu những sản phẩm văn hóa có chất lượng cao, góp phần bồi bổ tâm hồn, xây dựng nhân cách, giáo dục đạo đức Tình trạng nhập khẩu, nhập siêu sản phẩm văn hóa nước ngoài vào Việt Nam vượt trội so với xuất khẩu văn hóa, việc tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài còn diễn ra phổ biến Các sản phẩm văn hóa Việt Nam vẫn chưa thực sự sáng tạo, phong phú so với tiềm năng của đất nước, chưa đáp ứng được nhu cầu của công chúng, năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế còn thấp, xuất hiện một số tác phẩm và sản phẩm bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn học, nghệ thuật dân tộc Bên cạnh đó, còn một số vấn đề cụ thể trong công tác quản lý của ngành văn hoá đã dẫn đến tình trạng không kiểm soát được các hoạt động thương mại hóa trong việc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ văn hoá, sự phục hồi và phổ biến của nhiều hiện tượng mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu
* Bản sắc văn hóa dân tộc có nguy cơ bị phai nhạt Việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn Văn hóa các dân tộc trong tình trạng bị “Kinh hóa”, nhiều dân tộc đã mất hầu hết những nét văn hóa đặc sắc trong tiến trình phát triển, hội nhập, đời sống văn hóa – nghệ thuật nghèo