1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNU LS nghiên cứu, phát hiện những bất cập trong chế định thừa kế của bộ luật dân sự 2005

117 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, phát hiện những bất cập trong chế định thừa kế của Bộ luật Dân sự 2005
Tác giả Vương Thị Vân Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phùng Trung Tập
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, Thừa kế là một trong những chế định có vai trò quan trọng trong việc dịch chuyển tài sản của người chết để lại cho nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VƯƠNG THỊ VÂN ANH

NGHIÊN CỨU, PHÁT HIỆN NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ

CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VƯƠNG THỊ VÂN ANH

NGHIÊN CỨU, PHÁT HIỆN NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ

CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

Chuyên ngành: Luật dân sự

Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vương Thị Vân Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ 6

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 6

1.1.1 Khái niệm Pháp luật về thừa kế 6

1.1.2 Đặc điểm Pháp luật thừa kế Việt Nam 8

1.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 9

1.2.1 Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân 10

1.2.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế 11

1.2.3 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế 12

1.2.4 Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế 15

1.3 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 16

1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng 8/1945 17

1.3.2 Giai đoạn từ Cách mạng Tháng 8/1945 đến trước 01/7/1996 27

1.3.3 Giai đoạn từ 01/07/1996 đến nay 33

Kết luận Chương 1 37

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 38

2.1 PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 38

2.1.1 Nhóm quy phạm pháp luật quy định những vấn đề chung về thừa kế 38

2.1.2 Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế theo di chúc (bao gồm 28 điều, từ Điều 646 đến Điều 673 BLDS 2005) 43

2.1.3 Nhóm quy phạm pháp luật quy định thừa kế theo pháp luật 45

2.2 NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN THỪA KẾ 61

2.2.1 Phần những quy định chung 62

2.2.2 Những quy định về Thừa kế theo Di chúc 66

2.2.3 Những quy định về Thừa kế theo pháp luật 68

2.2.4 Những quy định về thanh toán và phân chia di sản 71

Kết luận Chương 2 77

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 78

3.1 NGƯỜI THỪA KẾ 78

3.2 TỪ CHỐI DI SẢN 80

3.3 VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN 82

3.4 THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 84

3.4.1 Thừa kế thế vị 84

3.4.2 Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế 86

3.5 HẠN CHẾ PHÂN CHIA DI SẢN 86

3.6 THỪA KẾ THEO DI CHÚC 87

3.6.1 Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế 87

3.6.2 Di sản dùng vào việc thờ cúng 88

Trang 6

3.7 THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 92 3.8 GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG PHẢI

PHÙ HỢP VỚI PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN 96 3.8.1 Xác định hình thức thừa kế và người thừa kế 97 3.8.2 Một số tồn tại thực tế thường gặp trong hồ sơ thừa kế cổ phần

ngân hàng 99

KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

Luật HN & GĐ Luật Hôn nhân và gia đình

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Tố tụng dân sự Tố tụng dân sự

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, Thừa kế là một trong những chế định có vai trò quan trọng trong việc dịch chuyển tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế của họ theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật

Có thể nói, Chế định Thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 là một chế định khá hoàn chỉnh Để đảm bảo việc thi hành Bộ luật, hiện nay Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ đang soạn thảo, chuẩn bị ban hành các luật chuyên ngành, các pháp lệnh và nghị định hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm

2005 hiện nay vẫn chưa có kế hoạch sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng các văn bản dưới luật quy định chi tiết hay hướng dẫn thi hành Trong khi đó, việc áp dụng chế định này trong thực tiễn vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do đa số các

vụ việc về thừa kế đều khá phức tạp, qui định của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ về thừa kế chưa thật sự đầy đủ và mang tính cụ thể nên quá trình áp dụng pháp luật về thừa kế để giải quyết các tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế hiện hành vẫn chưa dự liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Một số quy định pháp luật về thừa kế chung chung, mang tính chất khung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể

Theo thống kê của Ngành Tòa án nhân dân, hiện nay các tranh chấp về thừa

kế có xu hướng ngày càng gia tăng và phức tạp hơn Sự nhận thức không đầy

đủ, việc áp dụng pháp luật về thừa kế không thống nhất giữa các cấp Tòa án làm cho việc giải quyết các tranh chấp thừa kế gặp nhiều khó khăn, thời gian

Trang 9

giải quyết kéo dài, vụ việc giải quyết không đươc triệt để, không giải quyết được dứt điểm được những mâu thuẫn về lợi ích của các bên tranh chấp, bên cạnh đó một số quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết các tranh chấp về thừa kế gây hoang mang cho người dân

Nhu cầu cụ thể hóa và hoàn thiện các qui định của pháp luật về thừa kế

là một nhu cầu cấp thiết Việc tìm ra những vướng mắc, bất cập của chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 2005 là một việc làm thiết thực, nhằm hướng tới việc sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa chế định thừa kế, đáp ứng được việc giải quyết các mâu thuẫn về thừa kế, đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp về thừa

kế nhanh chóng, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Nghiên cứu,

phát hiện những bất cập trong chế định thừa kế của Bộ luật dân sự 2005"

để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thừa kế là một chế định quan trọng và phức tạp trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam Chế định này có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú Do vậy, Thừa kế đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu

Các đề tài nghiên cứu về Thừa kế khá nhiều và được thực hiện ở các cấp

độ khác nhau như khóa luận tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án tiến sĩ…

Trước khi BLDS được ban hành, đã có rất nhiều nghiên cứu về thừa kế

dưới góc độ sách pháp luật thường thức như: "Câu hỏi và giải đáp PLTK"

năm 1994 của Luật sư Lê Kim Quế; "Hỏi đáp về PLTK" năm 1995 của Trần

Hữu Bền và TS Đinh Văn Thành

Sau khi BLDS 1995 được ban hành thì việc nghiên cứu đề tài về Thừa

kế vẫn nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về

Trang 10

Thừa kế để làm luận văn thạc sĩ, tiến sĩ Tiểu biểu là: TS Phùng Trung Tập

với đề tài "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam" năm 2001; TS

Phạm Ánh Tuyết với đề tài "Thừa kế theo di chúc theo quy định BLDS Việt

Nam" năm 2003; Ths Nguyễn Hải An nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam" năm 2004;

Ths Nguyễn Hồng Nam nghiên cứu đề tài "Các điều kiện có hiệu lực di

chúc" năm 2005 Ngoài ra, đề tài về Thừa kế còn được nghiên cứu và đăng

trên các báo, tạp chí như Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Đặc san khoa học pháp lý… Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên mới dừng lại phân tích các quy định của pháp luật về Thừa kế ở một góc độ, một khía cạnh nhất định Các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận hoàn thiện PLVTK còn ít, chưa có tính chất hệ thống, khái quát Vì vậy,

có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu chuyên sâu phát hiện những vướng mắc, bất cập trong chế định thừa kế của BLDS năm 2005 là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lắp với bất kỳ một công trình nào của người khác

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Mục đích: Phân tích cơ sở lý luận chế định thừa kế trong BLDS năm

2005 và đánh giá thực trạng PLVTK ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện PLVTK ở nước ta hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn

Luận văn có nhiệm vụ phân tích những qui định của pháp luật về Thừa

kế trong BLDS năm 2005 để tìm ra những vướng mắc, bất cập của chế định này Qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện

Trang 11

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước

Mác-về pháp luật Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước Mác-về sở hữu tư nhân, về thừa kế trong thời kỳ đổi mới

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Ngoài ra, một số phương pháp khoa học chuyên ngành khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn

5 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu, phát hiện những bất cập trong

chế định thừa kế của Bộ luật dân sự 2005” trong luận văn này có những

điểm mới như sau:

Trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của những qui định pháp luật về thừa kế trong BLDS năm 2005 về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng, qua đó nêu lên những vướng mắc, bất cập của chế định thừa kế và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chế định thừa kế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn

- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở

lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005 Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên các Trường đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp

- Về thực tiễn: Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện PLVTK,

giúp cho việc áp dụng pháp luật về thừa kế có hiệu quả

Trang 12

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được bố cục 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của chế định thừa kế Chương 2 Thực trạng pháp luật về thừa kế ở Việt Nam Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 1.1.1 Khái niệm Pháp luật về thừa kế

Theo pháp luật dân sự Việt Nam, Thừa kế chính là việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế

Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế, có mầm mống và xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định Nghiên cứu về thừa kế, Ph.Ăngghen viết:

Theo chế độ mẫu quyền nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ [50, tr.79]

Như vậy, thời kỳ đầu của xã hội loài người, việc thừa kế được hình thành theo tập quán của Thị tộc Thừa kế được phát sinh dựa trên quan hệ huyết thống theo dòng máu của người mẹ Khi người mẹ chết đi thì di sản được chuyển cho những người thân thích trong thị tộc Sự thừa kế tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống

Quá trình phát triển của xã hội loài người đã dần làm thay đổi địa vị

Trang 14

của người đàn ông trong xã hội Người đàn ông đã tạo ra được nhiều của cải hơn, không những đủ nuôi sống gia đình mà còn dư thừa, nhờ đó địa vị của người đàn ông trong gia đình và thị tộc, bộ lạc dần được thiết lập Khi người đàn ông đã chiếm vị trí chủ đạo của đời sống xã hội thì chế độ mẫu hệ mờ nhạt dần và được thay thế bằng chế độ phụ hệ Các con trong gia đình có huyết thống với người cha mang họ của cha và được thừa kế tài sản của cha

Như vậy, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử phát triển nhất định là sự phát triển của lực lượng sản xuất, hình thức gia đình, sự thay đổi quan hệ sở hữu

và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi

Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan và nó thuộc về phạm trù kinh

tế Thừa kế xuất hiện dựa trên chế độ sở hữu Sở hữu và thừa kế có mối quan

hệ vô cùng mật thiết, nếu yếu tố sở hữu là tiền đề phát sinh thừa kế thì thừa kế chính là phương tiện duy trì, củng cố quan hệ sở hữu

Theo tiến trình phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn, không chỉ đảm bảo cho sinh hoạt gia đình

và cộng đồng thị tộc, bộ lạc mà còn dư thừa sản phẩm Từ khi có của cải dư thừa, những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc đã lợi dụng địa vị của mình để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng Chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội nguyên thuỷ bắt đầu tan rã và nhường chỗ cho một chế độ xã hội mới trong đó đã có sự phân hoá giai cấp

Khi giai cấp đã xuất hiện trong xã hội, các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau (giai cấp thống trị và giai cấp bị trị), sự đối kháng giai cấp là điều tất yếu Các giai cấp luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Tổ chức thị tộc trở nên bất lực trước yêu cầu giải quyết mâu thuẫn xã hội, lúc này "xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để

Trang 15

dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy hoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi

là hợp pháp Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện" [15, tr.38]

Thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp, nhưng khái niệm pháp luật về thừa kế chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước Mỗi xã hội khác nhau thì quy định về thừa

kế cũng khác nhau Thậm chí, trong cùng một chế độ xã hội của một nhà nước, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, để cho phù hợp với sự phát triển của

xã hội thì pháp luật về thừa kế cũng được quy định khác nhau Như vậy, Thừa

kế là một phạm trù pháp luật khả biến Tùy thuộc vào sự phát triển của xã hội

mà Thừa kế có những quy định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ thừa kế Pháp luật của Nhà nước ta bảo vệ lợi ích cơ bản của mỗi người lao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần xóa bỏ những tàn tích của chế độ thừa kế do xã hội thực dân phong kiến để lại Tạo môi trường pháp lý thuận lợi, làm cho nhân dân lao động yên tâm lao động sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội

1.1.2 Đặc điểm Pháp luật thừa kế Việt Nam

Căn cứ vào những qui định của pháp luật về thừa kế Việt Nam từ Thông tư số 81 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế, Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật dân sự năm

1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành, luật thừa kế Việt Nam có những đặc điểm sau đây:

Đặc điểm thứ nhất, thừa kế theo pháp luật Việt Nam là chuyển dịch di sản thừa kế và quyền sở hữu di sản được thừa kế cho chủ thể có quyền hưởng

di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (Riêng đất đai là chuyển dịch quyền

sử dụng) Như vậy, thừa kế là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa

kế mà người thừa kế được hưởng [84, phần 4]

Trang 16

Đặc điểm thứ hai, căn cứ vào qui định tại Điều 676 Bộ luật dân sự, các hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam được xác định theo quan hệ huyết thống và trong hàng thừa kế thứ hai và thứ ba, các cháu nội, cháu ngoại, chắt nội, chắt ngoại của người để lại di sản được xác định là những người thừa kế theo hàng nhận di sản của ông, bà nội, ngoại, các cụ nội, ngoại Đây là một qui định rất đặc thù, bởi vì cháu, chắt của người để lại di sản đã là những người thừa kế thế vị theo qui định tại điều 677 rồi Lợi ích của cháu, của chắt nội, ngoại của người để lại di sản được bảo đảm thực hiện theo những qui định tại các Điều 676 và 677 Bộ luật dân sự [84, phần 4]

Đặc điểm thứ ba, pháp luật thừa kế Việt Nam quan tâm đến phong tục phổ biến trong nhân dân và bảo đảm cho phong tục tốt đẹp đó được thực hiện theo qui định của pháp luật Pháp luật thừa kế Việt Nam qui định

về người lập di chúc có quyền để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng theo qui định tại Điều 670 Đây là một qui định mang tính kế thừa các luật Cổ Việt Nam, nhưng được qui định rộng rãi và có thể áp dụng một cách linh hoạt hơn những qui định về di sản thờ cúng trong các đạo luật của các thời kỳ trước đây [84, phần 4]

1.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ Ở VIỆT NAM

Nguyên tắc PLVTK là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện PLVTK Từ khi hình thành đến nay, những nguyên tắc PLVTK ở nước ta có sự thay đổi phù hợp với bản chất của nhà nước ở từng giai đoạn lịch sử Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung cho hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa

kế theo pháp luật Những nguyên tắc này xuất hiện trong các văn bản pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Dựa trên Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22.5.1950 đã

qui định những nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ: “đàn bà ngang quyền

Trang 17

với đàn ông về mọi phương diện” [48, Điều 5] Nguyên tắc này được coi như

một định hướng chủ đạo trong việc xây dựng các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế tài sản nói riêng trong các văn bản pháp luật sau này

Những nguyên tắc pháp luật thừa kế đã thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng pháp luật về thừa kế ở nước ta, có thể nói, từ năm 1945 đến nay về

cơ bản những nguyên tắc đó không thay đổi Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam

có những nguyên tắc cơ bản sau đây:

1.2.1 Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo vệ Gắn liền với các bản Hiến pháp, quyền thừa kế cũng như các quyền khác của công dân được qui định khá cụ thể Tuy Hiến pháp năm 1946 chưa quy định rõ ràng về quyền thừa kế, nhưng quyền tư hữu về tài sản được thừa nhận Tại Điều 12 Hiến pháp năm 1946 quy định “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo hộ” [54, Điều 12] Hiến pháp 1959 Nhà nước ta đã quy định rõ ràng hơn về quyền thừa kế Tại Hiến pháp 1959, Nhà nước đã chính thức ghi nhận về quyền thừa kế, tại Điều 19 Hiến pháp 1959

“Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân” [55, Điều 19]; đến Hiến pháp 1980 kế thừa và phát huy Hiến pháp 1946,

1959, tiếp tục khẳng định về quyền tư hữu tài sản của công dân và đến Hiến pháp

1992 quyền thừa kế tiếp tục khẳng định tại Điều 58 Hiến pháp 1992 "Nhà nước bảo

hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân" [65, Điều 58]

Trên cơ sở các qui định của Hiến pháp, ngay điều luật đầu tiên trong phần

thừa kế (Điều 631 BLDS 2005) đã đưa ra nguyên tắc chung nhất, đó là “Quyền

thừa kế cá nhân” Nguyên tắc này được thể hiện như sau: pháp luật đảm bảo cho

mọi cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, đều có quyền để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, mỗi cá nhân đều

Trang 18

có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Cá nhân không những

có quyền để lại tài sản hay được hưởng di sản mà còn quyền từ chối di sản thừa

kế Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế còn thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi công dân có quyền sở hữu hợp pháp như của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, không giới hạn về số lượng hay giá trị Tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân là di sản thừa kế khi người đó chết, được Nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ [67, Điều 631]

1.2.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân là một trong những nguyên tắc Hiến định Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên đã qui định “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế,văn hóa”

Hiến pháp 1959, 1980, 1992 đều kế thừa và phát triển nguyên tắc này

Ngay khi Sắc Lệnh 97-SL ra đời, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế đã được ghi nhận Theo Điều 11 của Sắc lệnh 97

Trong lúc sinh thời, người chồng góa hay người vợ góa, các con

đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung Sắc lệnh cũng quy định rằng “vợ và chồng có địa vị bình đẳng trong gia đình” và “người đàn bà

có chồng có toàn năng lực về hộ” [48, Điều 11]

So với các qui định của chế độ thực dân, phong kiến thì qui định này đã loại bỏ được quan điểm trọng nam khinh nữ, đảm bảo quyền công dân

Kế thừa và phát huy các văn bản pháp luật trước đó, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, trong các văn bản pháp luật nguyên tắc này vẫn được ghi nhận và ngày càng cụ thể hóa hơn Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa một phần các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự Điều 52 Hiến pháp 1992 ghi nhận

"mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" [65, Điều 52] và Điều 5 BLDS

2005 qui định "trong quan hệ dân sự các bên đều bình đẳng, không được lấy

lý do về khác biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín

Trang 19

ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau" [67, Điều 5]

Trên cơ sở các nguyên tắc định hướng, chế định thừa kế qui định trong BLDS và một số qui định trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã xác định nội dung nguyên tắc này như sau: "Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật"

[63, Điều 32] "Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau" [63, Điều 31] "có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung [63, Điều 27, Khoản 1]

“Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi, phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật Những qui định trên của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc để lại di sản thừa kế và nhận di sản thừa kế Pháp luật cũng qui định, không phân biệt là con đẻ hay con nuôi, con trong giá thú, con ngoài giá thú, không phân biệt con trai hay con gái, độ tuổi, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự đều có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ, đều được hưởng thừa kế bằng nhau, nếu di sản thừa kế được chia theo pháp luật

Những gì phân tích ở trên cho thấy, nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong quan hệ tài sản, qua đó củng cố, nâng cao tinh thần đoàn kết tình thân tộc, loại trừ tư tưởng trọng nam khinh nữ, phân biệt đối xử giữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.3 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế

Đây là một trong các nguyên tắc vô cùng quan trọng, nguyên tắc này vừa ghi nhận sự bảo hộ của pháp luật đối với quyền thừa kế, vừa thể hiện quyền của mỗi cá nhân trong việc định đoạt toàn bộ tài sản của mình

Theo qui định của pháp luật Việt Nam, người có quyền thừa kế là công

Trang 20

dân, tổ chức Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được hiểu theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản và chủ thể hưởng thừa kế di sản

Trên cơ sở của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được qui định tại Điều 7 BLDS, pháp luật thừa kế tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế và bảo đảm một cách nhất quán nguyên tắc này với các qui định cụ thể về quyền của cá nhân để lại tài sản và quyền của

cá nhân hưởng thừa kế [67, Điều 7]

- Đối với cá nhân người để lại tài sản với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe doạ người lập di chúc Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyền định đoạt thông qua hình thức di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làm chứng cho việc lập di chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập di chúc Di chúc chính là hình thức xác định ý chí của một người định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trước khi chết Quyền định đoạt này được nêu tại Điều 648 BLDS, khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc;

người quản lý di sản, người phân chia di sản

Quyền định đoạt của người có tài sản lập di chúc có hiệu lực pháp luật khi di chúc thỏa mãn các điều kiện được qui định tại Điều 652 BLDS

Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu muốn, người lập di chúc vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào [67, Điều 662]

Ý chí của cá nhân người để lại di sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọng, tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật qui định quyền của những người

Trang 21

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và như vậy quyền định đoạt của người để lại di sản cũng chỉ mang tính tương đối [67, Điều 9]

Quyền định đoạt của cá nhân để lại di sản được thể hiện không những trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà còn thể hiện ngay trong việc họ không lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi họ chết Đây cũng là một cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để lại di sản của họ cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật

- Đối với cá nhân có quyền hưởng di sản, pháp luật quy định người thừa kế có quyền nhận di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản của người để lại thừa kế nếu sự từ chối quyền hưởng di sản của người thừa kế phù hợp với những điều kiện, nguyên tắc, thời hạn mà pháp luật đã quy định Tuy nhiên, nếu người được thừa kế từ chối hưởng di sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của bản thân cá nhân họ với người khác thì pháp luật không chấp nhận

"Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác",

"việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản, người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phải chia di sản, công chứng nhà nước, UBND xã, phường nơi có địa điểm mở thừa kế về việc

từ chối nhận di sản", "thời điểm từ chối nhận di sản là 6 tháng kể từ thời điểm

mở thừa kế" [67, Điều 642]

Trước năm 1945, ở nước ta quyền định đoạt của người được hưởng di sản bị hạn chế rất nhiều so với pháp luật hiện hành Theo Điều 376 Dân luật Bắc kỳ và Điều 308 Dân luật Trung kỳ, những người thừa kế thuộc diện là con, cháu, vợ hay chồng của người chết không có quyền từ chối nhận di sản

Dân luật Trung kỳ buộc vợ hay chồng và con, cháu trai phải nhận di sản Ở miền Nam, theo án lệ đã định con không có quyền khước từ di sản của người cha để lại, con cháu của người khước từ không được hưởng di sản do cha mẹ

Trang 22

của mình đã khước từ Hình thức khước từ phải thực hiện ở phòng lục sự Tòa

sơ thẩm tại địa điểm mở thừa kế của người chết [4, Điều 376]

Như vậy, trong thời kỳ phong kiến, do tục lệ cổ hủ mà con cháu, vợ hay chồng của người chết bắt buộc nhận lấy tài sản riêng của mình để trả các khoản nợ của người chết vô thời hạn Chỉ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là Nước CHXHCN Việt Nam được thiết lập thì quyền công dân nói chung và quyền tự định đoạt về thừa kế nói riêng ngày càng được bảo đảm một cách thực tế

1.2.4 Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Quan hệ thừa kế hình thành với những đặc thù riêng của nó Đặc thù

đó được ghi nhận ngay trong các quy định của pháp luật như là một nguyên tắc Nguyên tắc này đã được quy định ở Điều 11 Sắc lệnh số 97-SL: "Trong lúc sinh thời, người chồng góa hay người vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung" [48, Điều 11]

Pháp luật không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế,

mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng di sản Do vậy, người có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được nhận di sản thừa kế theo pháp luật phần ngang nhau nếu họ cùng thuộc hàng thừa

kế được hưởng

Đối với người đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì chưa có năng lực pháp luật dân sự Bởi vì, theo qui định của pháp luật thì: "Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết"

[67, Điều 13] Pháp luật cũng có quy định bảo vệ quyền thừa kế của người con ra đời sau khi người bố chết, mà người con đó còn sống thì được hưởng

di sản của bố Quy định tại khoản 1 Điều 635 BLDS phù hợp và thống nhất

Trang 23

với Điều 63 Luật HN & GĐ: "Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng" [67, Điều 634]

Dựa trên nguyên tắc này, Điều 685 BLDS có quy định: "Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra, thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, thì được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra, thì những người thừa kế khác được hưởng" [67, Điều 685] Pháp luật còn qui định: "Trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết, thì cũng phải đăng ký khai sinh theo qui định của Nghị định này, nếu chết trước khi khai sinh (chết lưu) hoặc sinh ra mà sống chưa được 24 giờ, thì không phải đăng ký khai sinh" [22, Điều 20] Như vậy, trong trường hợp đứa trẻ sinh ra được 24 giờ trở lên rồi sau đó chết, thì đứa trẻ đó vẫn là người được thừa kế

Người thừa kế là người có khả năng được hưởng theo quy định của pháp luật và là người phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế để được hưởng

di sản Nguyên tắc này đã loại trừ những người có quyền thừa kế di sản của nhau nhưng đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi là chết trong cùng một thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước, thì họ không được thừa kế di sản của nhau [67, Điều 641] Những người theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS, cũng không phải là người thừa kế theo pháp luật do đã bị tước quyền thừa kế Những người từ chối nhận di sản thừa kế hợp pháp cũng không được hưởng thừa kế di sản [67, Điều 642] Người thừa

kế theo quy định của BLDS không thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác, như đã từng được quy định tại Điều 31 PLTK

1.3 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ

THỪA KẾ Ở VIỆT NAM

Pháp luật luôn nắm giữ vai trò quan trọng trong bất kỳ Nhà nước nào

Để quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giai cấp thống trị luôn đặt ra các qui định buộc các giai cấp khác tuân thủ, trong lĩnh vực thừa kế cũng vậy

Trang 24

PLVTK ở Việt Nam có bề dày lịch sử, phát triển cùng với quá trình dựng nước và giữ nước

Để có cơ sở cho việc xem xét đối chiếu, so sánh với những quy định của pháp luật về thừa kế hiện hành, theo tác giả việc nêu sơ lược về pháp luật thừa kế thời kỳ trước năm 1945 là hết sức cần thiết Tuy nhiên, tác giả không

có tham vọng nghiên cứu toàn diện về vấn đề này mà chỉ xin điểm qua những mốc thời gian quan trọng có ý nghĩa liên quan đến lịch sử xây dựng, kế thừa

và phát triển các quy định về thừa kế

Quá trình phát triển PLVTK ở Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn sau:

1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng 8/1945

* Thừa kế trong giai đoạn chế độ phong kiến Việt Nam

Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua rất nhiều thế kỷ, mỗi Nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và phục vụ cho công việc quản lý đất nước

Khó có thể xác định chính xác thời điểm xuất hiện những quy định về thừa kế trong pháp luật Việt Nam Có ý kiến cho rằng: "PLVTK ở nước ta đã

có từ thời Hùng Vương - trước Công nguyên" Thời Hùng Vương đã quy định việc chia tài sản luật dân sự và tranh chấp dân sự dưới thời Hùng Vương đã

có những quy định bắt buộc [90, tr.40] Tuy nhiên, ý kiến trên lại chưa có đủ

cơ sở để khẳng định mà chỉ là sự suy đoán logic của quá trình luật hoá các quan hệ thừa kế Có tác giả khác lại dựa vào sách Hậu Hán Thư để khẳng định dưới thời Trưng Vương (40 - 43) đã có pháp luật Trong quyển Cổ luật Việt Nam Thông Khảo quyển 1, ông Vũ Văn Mẫn trích trong sách Hậu Hán Thư "Mã Viện đi xứ nào, liền đặt thành quận, huyện, xây thành quách " Có điều trần tấu về luật viết của người Việt, so sánh với luật Hán hơn mười điều

và ông kết luận "Thời ấy đã có luật thành văn như nhà Hán" Tuy nhiên, đây chỉ là sự phỏng đoán của ông Mẫn, cho rằng dưới thời Trưng Vương đã có

Trang 25

luật thành văn, nhưng lại không biết rõ nội dung của pháp luật thời kỳ này quy định về những vấn đề gì

Tuy nhiên, có thể khẳng định ở nước ta pháp luật thành văn về thừa kế

đã có từ rất sớm, đáng chú ý là các bộ luật của các triều đại phong kiến

Thời nhà Trần, nhà nước đã ban hành pháp luật như: "Quốc Triều Thống Chế", "Quốc Triều Thống Lễ", "Bộ Hình Thư" tuy nhiên những bộ luật này bị thất truyền nên không thể xác định được nội dung PLVTK

Đến thời nhà Lê (1428 - 1787), với những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, đặc biệt trong lĩnh vực lập pháp và điển chế đã để lại nhiều văn bản pháp lý, đó chính là các bộ luật sau:

QTHL, Luật Thư (1440 - 1442), Quốc Triều Luật Lệnh (1440 - 1442), Hồng Đức, Thiện Chính Thư (1470 - 1497), Quốc Triều Chiếu Lệnh Thiện Chính (1619 - 1705), Cảnh Hưng Điều luật (1740 - 1786)

Trong số các bộ luật trên, có thể nói QTHL là văn bản sớm nhất hiện còn lưu giữ được, đã chứa đựng nhiều quy định khá hoàn chỉnh về thừa kế

QTHL là di sản văn hóa đồ sộ, đặc sắc, độc nhất vô nhị của Việt Nam và có vị trí xứng đáng trong lịch sử lập pháp thế giới Đây là bộ luật bao trùm nhiều nội dung khác nhau, có sức sống lâu bền và tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc tới tới các lĩnh vực của xã hội đương thời

QTHL được xem là bộ luật quan trọng và chính thống nhất Chính vì vậy, khi nghiên cứu những quy định về thừa kế của pháp luật Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý đã lấy QTHL làm cơ sở để kết luận rằng: "PLVTK ở Việt Nam được hình thành chính thức từ triều Hậu Lê (1428 - 1788), cụ thể được ghi nhận trong QTHL" [91, tr.9]

Trong QTHL, các quy định thừa kế được quy định trong chương Điền sản từ Điều 374 đến Điều 399 Theo đó, có 2 hình thức thừa kế được qui định,

Trang 26

đó là thừa kế theo di chúc (phân chia di sản theo chúc thư) và thừa kế theo pháp luật (phân chia di sản theo pháp luật)

Về phân chia di sản theo di chúc

Bộ QTHL tôn trọng quyền tự do định đoạt của người có tài sản Người

có tài sản có thể thể hiện ý chí của mình sau khi chết bằng chúc thư Tại Điều 390-QTHL qui định: “Cha mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hỏa trong chúc thư” Theo Điều 390 thì cha mẹ có trách nhiệm làm chúc thư để lại tài sản cho con cái, nhằm tránh sự tranh chấp tài sản về sau Việc lập chúc thư được Bộ luật qui định chặt chẽ, nếu cha mẹ lập chúc thư thì phải tuân theo quy định của pháp luật về hình thức để đảm bảo tính giá trị của chúc thư

Khi lập chúc thư mà không biết chữ phải nhờ quan trưởng trong làng viết và phải nhờ người làm chứng xác nhận nội dung di chúc đó đúng với ý chí của người lập chúc thư Nếu vi phạm điều này thì chúc thư không có giá trị Trong trường hợp người biết chữ mà tự viết chúc thư thì chúc thư có giá trị [91, Điều 366]

Ngoài hình di chúc bằng văn bản, pháp luật còn cho phép lập di chúc

miệng đó là "lệnh" của ông bà, cha mẹ Điều 388 quy định "nếu có lệnh của ông

bà và chúc thư thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình" [91, Điều 388] Như

vậy, mệnh lệnh của ông bà, cha mẹ chính là chúc ngôn trước khi chết Tuy nhiên, bộ QTHL không quy định mệnh lệnh này được phát ra trong tình trạng sức khoẻ và hoàn cảnh nào, nhưng theo quan điểm nho giáo thì các con cháu tuyệt đối phải nghe theo lời ông bà, cha mẹ Vì vậy, theo phỏng đoán logic, mệnh lệnh này có thể được ban phát ra bất cứ lúc nào đều có giá trị Trong trường hợp cháu con vi phạm mệnh lệnh hoặc chúc thư của ông bà, cha mẹ thì mất quyền thừa kế

Về chia di sản theo pháp luật

Mặc dù là Bộ luật được ra đời trong thời kỳ nhà nước phong kiến,

Trang 27

tuy nhiên QTHL có những qui định rất tiến bộ, tôn trọng thực sự quyền định đoạt của người có di sản và đảm bảo quyền lợi của những người có quyền hưởng di sản Bộ QTHL qui định, trường hợp thừa kế theo pháp luật chỉ áp dụng khi không có di chúc (Điều 388) hoặc có chúc thư nhưng chúc thư vô hiệu [91, Điều 366]

Người thừa kế theo pháp luật là con cháu (hàng 1), nếu không có con, cháu thì chia cho cha mẹ (hàng 2) Người vợ goá hoặc chồng goá không thuộc diện thừa kế của người chồng hoặc vợ Mặc dù pháp luật không qui định cho người chồng giá, vợ góa được hưởng thừa kế nhưng để đảm bảo cho cuộc sống của người vợ goá, chồng goá, pháp luật cho phép người vợ goá, chồng goá sẽ được hưởng một phần điền sản của người chồng hoặc người vợ để nuôi sống một đời người Phần điền sản này người vợ goá, chồng goá không được quyền sở hữu Nếu người vợ goá, chồng goá chết thì phải trả lại điền sản cho

họ hàng người chết trước [91, Điều 376]

Bên cạnh những quy định về quyền thừa kế giữa vợ chồng, QTHL có rất nhiều qui định về quyền thừa kế của các con đối với tài sản của cha mẹ

Theo Điều 377, Điều 378, Điều 380, Điều 388 QTHL khi bố mẹ chết con cái được hưởng thừa kế toàn bộ tài sản và được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất,

dù đó là con trai hay con gái, con vợ lẽ hay con vợ chính, con nuôi hay con

đẻ Tuy nhiên, mức độ và phần hưởng có thể khác nhau, con trai (nhất là con trai trưởng) con vợ cả, con đẻ thường được hưởng nhiều hơn Quyền thừa kế tuyệt đối này được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị Trường hợp khi bố hoặc mẹ chết, con cái còn nhỏ thì phần tài sản của chúng được bố hoặc mẹ còn sống hoặc đại diện họ hàng quản lý giúp và giao lại cho con cái khi chúng đã trưởng thành [91, Điều 377, 378, 380, 388]

QTHL cũng qui định về di sản dành cho việc thờ cúng (hương hỏa)

Trong QTHL có 13 điều luật quy định về hương hoả Hương hoả là một phần

Trang 28

điền sản của người chết dành lại giao cho người con để lo phần mộ của người chết và họ hàng Số Điền sản dùng làm hương hoả là 1/20 điền sản Theo nguyên tắc chung là giao cho con trai trưởng, không có con trai trưởng thì giao cho con trai thứ, không có con trai thì giao cho con gái trưởng Trường hợp bị tuyệt tự thì dòng họ sẽ cử người thừa tự giữ hương hoả Người con gái trưởng chỉ được hưởng đất hương hoả một đời mình, sau đó phải trả lại cho nội tộc để đảm bảo dòng chảy liên tục về huyết thống, đất hương hoả bao giờ cũng thuộc về một dòng họ nội [91, Điều 354]

Với những qui định được nêu ở trên, chúng ta thấy rằng, QTHL mặc dù

ra đời trong xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề bởi quan niệm nho giáo nhưng vẫn chứa đựng những tư tưởng tiến bộ của xã hội phong kiến Việt Nam Đó là

sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ tài sản Vợ chồng có quyền có tài sản riêng hoặc vợ chồng có quyền sở hữu chung những tài sản do vợ chồng làm ra, con trai, con gái đều được hưởng một kỷ phần như nhau, con gái được giữ của hương hoả để thờ cúng ông bà, cha mẹ Con vợ lẽ, cũng như con vợ chính, con đẻ cũng như con nuôi đều có quyền thừa kế Ngoài ra, QTHL còn quy định những người không nghe lệnh của ông bà, cha mẹ thì mất quyền thừa kế

Những qui định này không chỉ là những qui định mang tính pháp lý mà còn mang tính nhân văn rất cao Tư tưởng trong QTHL khá rõ ràng, Thừa kế

di sản chính là sự kế thừa tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, vừa củng cố

sở hữu của công dân, vừa củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình; giáo huấn các thế hệ con cháu biết giữ gìn và phát huy di sản của tổ tiên để lại, giữ đạo làm con Con cháu phải biết vâng lời cha mẹ, ông bà, không được tranh giành của cải gây mất đoàn kết trong gia tộc Việc Bộ luật quy định trích 1/20 di sản dùng vào thờ cúng là một nét bản sắc văn hoá của người Việt Nam, thể hiện tấm lòng thờ kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ của thế hệ sau

Trang 29

Cũng như nhiều lĩnh vực khác, trong lĩnh vực lập pháp, Nhà Lê đã truyền lại cho đời sau những công trình độc đáo, có giá trị rất lớn cho việc nghiên cứu đối với hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và trong lĩnh vực thừa kế nói riêng

Như phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng, thời nhà Lê, pháp luật mang tính nhân văn rất cao, tôn trọng quyền con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi hoạt động

Thời nhà Nguyễn, do sự lệ thuộc về chính trị nên pháp luật triều Nguyễn là bản sao chép pháp luật của nhà Thanh (Trung Quốc) Bộ luật Gia Long (1815) chỉ là sự sao chép gần như nguyên vẹn Bộ luật của triều Mãn Thanh Bộ luật Gia Long không những không kế thừa mà còn phủ nhận toàn bộ những thành tựu mà luật pháp thời Lê đã gây dựng được

Trong Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng, ông Vũ Văn Mẫn đã

nhận xét: " Bộ luật ấy mất hết cả tính đặc thù của nền pháp luật Việt Nam

Bao nhiêu sự tân kỳ mới lạ trong Bộ luật triều Lê không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong Bộ luật nhà Nguyễn, như những điều khoản liên quan đến hương hoả, đến chúc thư" [47, tr.153]

Luật pháp thời Nguyễn có ít các quy định về thừa kế Nguyên tắc truyền thống công nhận sự bình đẳng giữa các con trong việc hưởng di sản của cha mẹ không được thừa nhận Bộ luật Gia Long không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chỉ chú trọng đến quyền lợi của con trai Các qui định

về thừa kế theo Bộ luật Gia Long thể hiện rõ nét chế độ hôn nhân - gia đình phong kiến phương Đông: "Tứ đức tam tòng"; "Quyền huynh thế phụ"; "Nữ sinh ngoại tộc"; "chồng chúa vợ tôi" con gái chỉ có quyền thừa kế gia tài khi cha mẹ di chúc cho tài sản mà thôi

Do đề cao vai trò của trưởng nam nên tài sản của cha mẹ chủ yếu là để lại cho con trai, đất hương hoả nhất thiết phải dành phần cho con trưởng nam

Trang 30

và cháu đích tôn, con gái chỉ được thừa hưởng khi một gia đình tuyệt tự Cha

mẹ với tư cách là chủ sở hữu, cũng không có quyền làm khác, không thể để cho một người con gái hưởng hoa lợi hương hoả, dù người con gái ấy là chị

cả và dù người con gái ấy sống độc thân đến khi chết

"Đối với tài sản của vợ chồng, kể từ khi có chồng người đàn bà mất hết nặng lực hành vi dân sự Sau khi thành vợ chồng chính thức, người chồng trở nên người chủ tất cả tài sản chung của vợ chồng, làm chủ luôn tất cả tài sản của người vợ đem về nhà chồng, động sản cũng như bất động sản" [43, tr.24]

Nếu vợ chết trước, dĩ nhiên chồng tiếp tục làm chủ tài sản ấy với tư cách là chủ sở hữu Nhưng trong trường hợp chồng chết trước, người vợ không được quyền thừa kế, vợ chỉ được tiếp tục hưởng hoa lợi trên tài sản của chồng để lại cho đến chết, nếu không tái giá, không làm điều bất xứng Đồng thời người

vợ goá có nghĩa vụ phải trả hết các khoản nợ của chồng, dù nợ nhiều hơn của

để lại Trong trường hợp vợ không "thủ tiết" thờ chồng, thì tự nhiên người goá phụ mất hết quyền hưởng hoa lợi, bị bên nhà chồng trưng bằng cớ để lấy lại ruộng đất

Như vậy, do bị lệ thuộc, pháp luật triều Nguyễn nói chung và Bộ HVLL nói riêng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của luật nhà Thanh, "mất hết cá tính của nền pháp luật Việt Nam" [47, tr.257] Có thể nói, pháp luật triều Nguyễn cũng như những quy định PLVTK thời này không những không có sự tiến bộ mà còn thụt lùi hơn so với những thành tựu của triều Lê trước đó đã đạt được

* Thừa kế trong giai đoạn Pháp thuộc đến tháng 8/1945

Giai đoạn này Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến Do phải chịu chế độ đô hộ của thực dân Pháp, pháp luật nói chung và PLVTK nói riêng của thời kỳ này thể hiện hệ tư tưởng phong kiến lạc hậu và ảnh hưởng

tư tưởng Tư sản "nền cộng hoà Pháp" với chính sách "chia để trị" Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này chỉ là công cụ của thực dân pháp nhằm thực

Trang 31

hiện chính sách thuộc địa Bản chất của chế độ nô dịch thuộc địa được bộc lộ công khai không những trong những chính sách cai trị của thực dân Pháp, mà

cả trong các qui phạm pháp luật So với pháp luật thời nhà Lê và thời nhà Nguyễn thì PLVTK thời Pháp thuộc (1858 - 1945) theo khuôn mẫu của BLDS Napoleon, được quy định một cách chi tiết trong Bộ luật Dân luật Bắc

kỳ và Trung kỳ Hai Bộ luật này đều quy định hai hình thức thừa kế, đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Về thừa kế theo di chúc: Bộ dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ đều quy định

người thành niên hoặc đã thoát quyền, nếu có đủ trí khôn đều có thể làm di chúc để xử trí tất cả tài sản của mình (Điều 321 Dân luật Bắc kỳ; Điều 313 Dân luật Trung kỳ) Người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình, nhưng phải giữ quyền lợi cho vợ chính Vợ chính, vợ thứ trong khi đương giá thú có thể định đoạt tài sản riêng của mình nếu chồng ưng thuận (Điều 320 Dân luật Bắc kỳ, Điều 312 Dân luật Trung kỳ) Người lập di chúc có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trong những người được thừa kế Việc truất quyền thừa kế phải được lập thành văn bản do Viên quản lý văn khế lập hoặc

do Lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư [4, Điều 321]

Hình thức di chúc phải lập thành văn bản, do Viên quản lý văn khế hoặc công chức thị thực làm ra Di chúc không có viên chức thị thực phải do người lập di chúc viết lấy và ký tên Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người thành niên làm chứng Người làm chứng thường là Lý trưởng tại nơi trú quán của người lập chúc thư, nếu ở xa không về nơi trú quán được thì chúc thư ấy phải có sự chứng kiến của lý trưởng nơi hiện ở của người lập chúc thư (Điều 326 Dân luật Bắc kỳ và Điều

315, Điều 316 Dân luật Trung kỳ) Ngoài ra các vấn đề nội dung di chúc, năng lực chủ thể của người lập di chúc, vấn đề hương hoả cũng đều được quy định rõ trong hai bộ luật này [5, Điều 316]

Trang 32

Về thừa kế theo pháp luật: Trong thời kỳ thực dân phong kiến, vị trí

của người vợ không được xem trọng và bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nên không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân Tư tưởng duy trì và bảo vệ sự tồn tại của gia đình, dòng tộc được đặt lên hàng đầu, nên chế định thừa kế luôn bảo vệ quyền hưởng di sản của những người trong quan

hệ huyết thống nội tộc Do vậy, theo quy định từ Điều 337 đến Điều 343 Dân luật Bắc kỳ và từ Điều 332 đến Điều 338 Dân luật Trung kỳ thứ tự ưu tiên hưởng di sản, khi chia theo pháp luật như sau:

Thứ tự thứ nhất: Các con (con đẻ, con nuôi, con vợ cả, con vợ lẽ, con

trai, con gái); nếu không còn con thì cháu của người để lại di sản mới được hưởng di sản của ông bà

Thứ tự thứ hai: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của người để lại di

sản, nếu người để lại di sản không còn con cháu

Thứ tự thứ ba: ông nội, bà nội; nếu ông bà nội không còn thì các cụ nội

của người để lại di sản được hưởng

Thứ tự thứ tư: anh, chị, em ruột Nếu anh, chị, em ruột chết trước thì

con của anh, chị, em ruột được hưởng và cháu của anh, chị, em ruột sẽ được hưởng di sản, nếu con của anh, chị, em ruột cũng đã chết

Thứ tự thứ năm: Những người bên họ ngoại của người để lại di sản chỉ

được hưởng sau khi đã xác định bên họ nội không còn ai thừa kế hoặc có nhưng đều bị coi là người không xứng đáng được hưởng di sản [4, Điều 337]

Với thứ tự những người được chỉ định thừa kế theo hàng như vậy, ta thấy không có bóng dáng của người vợ hoặc chồng khi một bên chết trước

Theo quy định Bộ Dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung kỳ thì người vợ goá chỉ là người thừa kế cuối cùng của người chồng khi không còn thân thuộc nào khác bên họ nội của người chồng Xét trong xã hội phong kiến, quy định này khó mà thực thi, bởi lẽ xã hội thừa nhận chế độ đa thê và trong gia đình

Trang 33

thường có rất nhiều con, thử hỏi trong thứ tự hưởng di sản bao giờ mới đến người vợ goá

Ngoài quy định hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ còn quy định rất cụ thể vấn

đề hương hoả Theo Điều 395, Điều 398 Bộ Dân luật Bắc kỳ và và Điều 401,

402 Bộ Dân luật Trung kỳ thì người có tài sản có thể lập hương hoả để thờ cúng người đó Tài sản để hương hoả có thể là động sản, có thể là bất động sản sinh lời Việc lập hương hoả có thể làm ngay vào chúc thư hoặc biên vào giấy chia gia tài, hoặc lập thành giấy tờ riêng [5, Điều 401]

Tài sản làm hương hoả không được quá 1/5 tổng số tài sản của người lập hương hoả Tài sản hương hoả được giao cho người con trai trưởng của người vợ chính Nếu con trai trưởng không còn thì giao cho cháu đích tôn

Nếu con trai trưởng không có con trai thì người được hưởng là con trai thứ tiếp theo của người vợ chính Nếu vợ chính không có con trai thì người được hưởng của hương hoả là người con trai lớn tuổi nhất trong các con của người

vợ thứ Nếu người mệnh một là con thứ không có con trai trưởng để thừa tự thì có thể lập con gái trưởng đứng thừa hưởng hương hoả để phụng tự mình

Trong trường hợp trưởng nữ đứng thừa hưởng hương hoả chết, thì của hương hoả lại truyền cho trưởng nữ, nếu không có trưởng nữ thì giao cho đích tôn của người trưởng nữ [12, tr.139]

Với một số nội dung chính của hai Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ vừa trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng các quy định về thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, di sản dùng làm hương hoả được quy định rất cụ thể Riêng ở Nam kỳ Bộ Dân luật giản yếu (1883) lại không có quy định về thừa kế Văn bản này là sự sao chép chủ yếu Bộ Dân luật cộng hoà Pháp (1804) và nó tập trung làm rõ các vấn đề chung về chủ thể, năng lực pháp luật dân sự, tư cách đương sự Chỉ đến năm 1925 theo Sắc lệnh ngày

Trang 34

21/7/1925 thì vấn đề thừa kế mới được ghi nhận Song sự quy định ấy lại chưa rõ ràng, quá sơ lược

Tóm lại, PLVTK trong giai đoạn trước tháng 8/1945 đã ghi nhận phù

hợp với hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam qua các triều đại, thể hiện bản chất giai cấp của chế độ phong kiến và thực dân – phong kiến Vấn đề bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ chưa được giải quyết Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, PLVTK trong giai đoàn này cũng đã phản ánh được những phong tục, tập quán tiến bộ cùng với các thành tựu trong lĩnh vực lập pháp của châu Âu lục địa (mà chủ yếu là Bộ Dân luật Pháp)

đó chưa cho phép chúng ta xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản pháp luật mới Để đảm bảo cho các quan hệ xã hội về dân sự phát triển bình thường, Nhà nước cần phải có hệ thống pháp luật Vì vậy, ngày 10/10/1945 Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành Sắc lệnh 90/SL cho phép áp dụng luật lệ cũ, nếu nó không trái với nguyên tắc

"Độc lập của nước Việt Nam và chủ thể dân chủ cộng hoà" Như vậy, khi giải quyết tranh chấp về thừa kế trong thời kỳ này chủ yếu vẫn áp dụng những quy định trong Bộ luật Dân luật Bắc, Trung, Nam kỳ

Ngày 9.11.1946, Hiến pháp 1946 ra đời với mục đích ghi nhận những thành tích vẻ vang của Cách mạng và xây dựng đất nước, xóa bỏ tàn tích của

Trang 35

chế độ cũ, thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hoà bình của nhân loại

Ngày 22/5/1950, Hồ Chủ tịch đã ký ban hành Sắc lệnh 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật cũ, qui định một số nguyên tắc mới

để áp dụng trong điều kiện của nền dân chủ nước ta Bằng Sắc lệnh 97, PLVTK

ở Việt Nam đã có những nguyên tắc hết sức tiến bộ, phá vỡ sự cổ hủ, lỗi thời trong PLVTK trước đó Các nguyên tắc được quy định trong Sắc lệnh 97/SL như con cháu hoặc vợ chồng của người chết cũng không bắt buộc phải nhận thừa kế của người ấy; các chủ nợ của người chết không có quyền đòi nợ qúa số di sản để lại, con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha mẹ; người đàn bà có chồng, có toàn năng về mặt hộ; các quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người

ta hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân [48, tr.72]

Những nội dung trên của Sắc lệnh số 97 đã cụ thể hoá Điều 9 Hiến pháp năm 1946 "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" và Điều 12 Hiến pháp 1946 "Quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm" Có thể nói, Sắc lệnh 97 đã đảm bảo quyền bình đẳng về thừa kế của công dân Tư tưởng tiến bộ này cho đến ngày nay vẫn còn được giữ nguyên ý nghĩa chủ đạo trong việc xây dựng, phát triển và vận dụng các quy định của PLVTK nói riêng và pháp luật dân sự nói chung

Để giải quyết tranh chấp thừa kế một cách thống nhất đối với Tòa án các cấp, dựa trên các qui định của Hiến pháp 1946 và tinh thần của Sắc lệnh 97, Bộ

tư pháp đã ban hành Thông tư số 1742 ngày 18/9/1956 hướng dẫn như sau:

Vợ hoặc chồng của người chết có quyền thừa kế ngang với các con, vợ lẽ

và con nuôi chính thức của người để lại di sản có quyền thừa kế như vợ cả và con

đẻ của người đó Vợ goá của người để lại di sản đều có quyền thừa kế di sản của chồng và hưởng phần di sản ngang với các thừa kế cùng hàng khác [71, tr.37]

Quy định trong thông tư số 1742 nói trên đã cũng cố và phát triển thêm

Trang 36

nguyên tắc "người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ" mà Sắc lệnh

97 đã quy định [71]

Sau khi hòa bình lặp lại ở Miền Bắc, nhân dân miền Bắc đã thu được nhiều thành tích to lớn trong việc khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội đã sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới

Ngày 31.12.1959, Hiến pháp 1959 ra đời Bên cạnh những qui định nhằm phát huy sức mạnh toàn dân, ngoài ra cũng có rất nhiều qui định về thừa

kế, đảm bảo quyền sở hữu của nhân dân

Hiến pháp 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc, tại Điều 14 của Hiến pháp đã chính thức ghi nhận: Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, đồng thời pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải

để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác, quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân được bảo đảm Điều 19 qui định "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân" và Điều 16 Luật HNGĐ năm

1959 qui định "vợ và chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau"; "các con có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong quy định nói chung và trong lĩnh vực hưởng thừa kế nói riêng" [55, Điều 19]

Sau này, để đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác xét xử trong phạm vi chức năng do Luật tổ chức Tòa án qui định, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn cụ thể để Toà án các cấp có sự thống nhất chung về đường lối xét xử Thông tư 594/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa kế Thông tư số 594 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế có quy định cụ thể: Quyền bình đẳng nam nữ trong việc hưởng di sản; các con của người chết không phân biệt giới tính, trẻ già, có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được hưởng phần di sản ngang nhau; vợ hoặc chồng của người để lại di sản được

Trang 37

thừa kế ở hàng thứ nhất cùng với các con của người đó Thông tư 02/TATC ngày 2/8/1973 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế di sản liệt sĩ

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, PLVTK trong giai đoạn 1945-1975

về cơ bản vẫn áp dụng các qui định của Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ

và Pháp quy giản yếu (1873), tuy nhiên có sự áp dụng linh hoạt, mang nội dung mới tiến bộ, hướng tới việc xoá bỏ những quan niệm lạc hậu, tư tưởng trọng nam, khinh nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, bình đẳng mọi công dân trong lĩnh vực thừa kế

1.3.2.2 Giai đoạn từ 1975 - 1990

Kể từ sau 30.4.1975, nhân dân Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng đặc biệt "Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập thống nhất tiến hành cách mạng XHCN, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH" [77, tr.75]

Khác hẳn với các quy định của pháp luật trước đó, cá nhân không còn quyền sở hữu đối với đất đai, kể từ ngày Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực thi hành Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của công dân, tuy nhiên trong di sản thừa kế của công dân Việt Nam trong giai đoạn này không còn tài sản là đất đai nữa Từ quy định cơ bản này, quyền sở hữu của công dân Việt Nam trong giai đoạn 1975-1990 chỉ giới hạn trong phạm vi các tài sản như "thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ" [81, Điều 27]

Để có đường lối áp dụng thống nhất cho Toà án các cấp trong công tác xét xử giải quyết tranh chấp về thừa kế, đồng thời bổ sung một số vấn đề cho phù hợp với quy định của Hiến pháp mới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, ngày 24/7/1981 TANDTC đã ban hành Thông tư 81 để hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế Thông tư 81 đã có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện PLVTK Thông tư đã quy định nhiều vấn đề như: xác định di sản thừa kế, trình tự thừa kế theo di chúc và theo pháp luật,

Trang 38

thừa kế thế vị, việc thừa kế của những người chết cùng vào một thời điểm, chia di sản thừa kế

Tuy chỉ là một văn bản hướng dẫn đường lối giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế, nhưng nội dung của Thông tư số 81 đã bao quát tương đối đầy đủ và toàn diện các vấn đề về thừa kế so với các văn bản trước đó Theo Thông tư 81 thì quan niệm về di sản thừa kế bao gồm toàn bộ tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của người chết Thông tư 81 cũng quy định về thừa kế theo di chúc cụ thể hơn so với thông tư 594, tại chương

IV hướng dẫn chi tiết về thừa kế theo di chúc; trong đó quy định rõ về hình thức di chúc, quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc, nghĩa vụ phải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc của người lập di chúc Về thừa kế theo pháp luật, Thông tư 81 quy định có 2 hàng thừa kế

Hàng thừa kế thứ nhất: vợ goá hoặc chồng goá, các con đẻ và con nuôi, bố

đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi Hàng thừa kế thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ và cùng mẹ khác cha, anh chị em nuôi Những người thừa kế ở hàng thứ nhất được thừa

kế trước và thừa kế toàn bộ di sản Nếu ở hàng thứ nhất không có ai hoặc tuy

có nhưng họ đều không nhận thì mới đến những người thừa kế ở hàng thứ hai Các người thừa kế trong cùng một hàng, được hưởng một suất ngang nhau Ngoài ra, Thông tư 81 còn quy định trong trường hợp những người thừa kế lẫn nhau chết trong cùng một thời điểm hoặc không thể xác định được ai chết trước thì không ai được thừa kế của ai, di sản của người nào chia cho người thừa kế của người đó Có thể nói rằng Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định khá chi tiết về thừa kế

từ sau cách mạng tháng 8 đến trước khi có PLVTK 1990 Thông tư 81 là văn bản thừa kế được áp dụng thống nhất cho cả nước, đóng vai trò là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp về thừa kế [75, A,phần III ]

Trang 39

- Thông tư số 81 chỉ là một văn bản hướng dẫn đường lối giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế trong bối cảnh một đất nước mới được thống nhất Những nguyên tắc cơ bản về quyền thừa kế của công dân được quy định tại Điều 27 Hiến pháp năm 1980 là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng nội dung của Thông tư số 81 Nội dung của Thông tư số 81 không thể giải quyết được toàn diện các yếu tố khách quan phát sinh trong quan hệ thừa kế

- Thông tư số 81 được ban hành trong thời kỳ nền kinh tế ở nước ta được quản lý theo cơ chế tập trung, bao cấp Theo cơ chế này, quyền sở hữu của Nhà nước và của tập thể được ưu tiên bảo vệ, còn quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân chưa được nhìn nhận một cách đầy đủ và toàn diện

Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng, Thông tư số 81 đã

là một Dù có những hạn chế trên, nhưng trong lịch sử phát triển luật dân sự văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm liên quan đến quyền thừa kế của công dân trước khi có PLTK năm 1990, đánh dấu một bước trưởng thành

và đáp ứng được yêu cầu của một thời kỳ lịch sử

Đáp ứng sự phát triển không ngừng của xã hội, khắc phục những hạn chế của các văn bản hướng dẫn giải quyết tranh chấp thừa kế trước đó, ngày 30/8/1990 Hội đồng Nhà nước CHXHCNVN đã thông qua Pháp lệnh thừa kế,

có hiệu lực từ ngày 10/9/1990 PLTK 1990 được ban hành là một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao đầu tiên quy định khá đầy đủ về thừa kế ở nước ta kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi có BLDS của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1995

Pháp lệnh thừa kế gồm 38 điều, chia làm 6 chương, trong đó đã xác định được những nguyên tắc cơ bản về thừa kế, về quyền bình đẳng thừa kế của công dân, thừa kế theo di chúc, diện và hàng thừa kế, thời hiệu, yêu cầu chia di sản thừa kế

Về thừa kế theo di chúc: Quy định tại chương II từ Điều 10 đến Điều 23

Trang 40

của Pháp lệnh thừa kế 1990 Theo pháp lệnh công dân có quyền lập di chúc để chuyển quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho một người hoặc nhiều người trong hoặc ngoài các hàng thừa kế theo pháp luật, cũng như cho cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, phân định tài sản cho người thừa kế, giao nghĩa

vụ cho người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của một hoặc nhiều người thừa

kế theo pháp luật mà không nhất thiết phải nêu lý do Đặc biệt Pháp lệnh thừa

kế còn quy định cụ thể hơn về nội dung di chúc (Điều 13), hiệu lực di chúc (Điều 23), hình thức di chúc (Điều 14, 15, 16, 17, 18), về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 20) Sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc (Điều 22), các điều kiện có hiệu lực di chúc [87, Điều 13, 14,15,16,17,18,20,22,23]

1.3.3 Giai đoạn từ 01/07/1996 đến nay

Để phù hợp với sự đổi mới mọi mặt của đất nước và đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn xã hội, Hiến pháp năm 1992 đã được ban hành Chế độ sở hữu đã được Hiến pháp năm 1992 quy định tương ứng với các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế gia đình Theo quy định tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992, công dân không những có quyền sở hữu về tư liệu tiêu dùng, mà còn có quyền sở hữu

về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác không bị hạn chế trong những ngành, nghề có lợi cho quốc

Ngày đăng: 09/12/2022, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (1998), Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam, Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1998
2. Trần Hữu Biền và TS. Đinh Văn Thanh (1995), Hỏi đáp về pháp luật về thừa kế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về pháp luật về thừa kế
Tác giả: Trần Hữu Biền và TS. Đinh Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1995
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật), 6. Bộ luật Dân sự Nhật Bản (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ dân luật Trung Kỳ 1936" (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật), 6. "Bộ luật Dân sự Nhật Bản
Tác giả: Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật), 6. Bộ luật Dân sự Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Bộ luật Dân sự thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự thương mại Thái Lan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Bộ Tư pháp (1995), Tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự bang Quebec Canada, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự bang Quebec Canada
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1995
12. Bộ Tư pháp (1998), Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
13. Bộ Tư pháp (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Việt Nam, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Bộ Tư pháp (2005), Bản thuyết minh về dự thảo Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thuyết minh về dự thảo Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
15. C.Mác - Ph.Ăngghen (1984), Tuyển tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 6
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
16. C.Mác - Ph.Ăngghen (1986), Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
17. Văn Lượng Cao (1995), Lịch sử Việt Nam 1954-1965, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam 1954-1965
Tác giả: Văn Lượng Cao
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
18. Chính phủ (1996), Nghị định số 76/CP, ngày 29-11-1996 hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 76/CP, ngày 29-11-1996 hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1996
19. Chính phủ (1999), Nghị định về phương thức trả nhà ở số 25/1999/NĐ- CP, ngày 19-10-1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về phương thức trả nhà ở số 25/1999/NĐ-CP, ngày 19-10-1999
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
20. Chính phủ (2000), Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
21. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP 2004 của Chính phủ ngày 29/10/ về thi hành Luật Đất đai năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP 2004 của Chính phủ ngày 29/10/ về thi hành Luật Đất đai năm 2003
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
22. Chính phủ, (2005) Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch ngày 27-12-2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch
23. Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam (1968), Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam
Tác giả: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1968
24. Đỗ Văn Chỉnh (10-2006), "Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản - vấn đề cần có hướng dẫn", Tạp chí Tòa án nhân dân, (20), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản - vấn đề cần có hướng dẫn

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w