1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNU LS áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm

119 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn TS. Trần Anh Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 915,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Để thực hiện được các mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau : - Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về áp d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THỦY

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI

TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THỦY

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI

TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

Chuyên ngành : Luật dân sự

Mã số : 603830

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS.TRẦN ANH TUẤN

Hà Nội – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo

độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 101.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 101.1.1 Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự 101.1.2 Phân loại các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự 131.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIÁI QUYẾT CÁC

VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 161.2.1 Khái niệm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 161.2.2 Đặc điểm của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 181.2.3 Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 221.3 CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 24Chương 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 292.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 292.1.1 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ 29

Trang 5

2.1.2 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp đối với tài sản đang tranh chấp 332.1.3 Các quy định về điều kiện áp dụng biện pháp phong toả tài khoản, tài sản 412.1.4 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng các biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định 452.1.5 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác 492.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HỦY

BỎ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 512.2.1 Cơ sở pháp lý về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 512.2.2 Cơ sở pháp lý về thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 572.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 592.3.1 Cơ sở pháp lý về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm 592.3.2 Cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm bồi thường trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 612.3.3 Cơ sở pháp lý để thực hiện quyền khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 64Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP

SƠ THẨM VÀ KIẾN NGHỊ 683.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 683.1.1 Về kết quả đạt được từ thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 68

Trang 6

3.1.2 Về những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 773.2 KIẾN NGHỊ VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 893.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về áp dụng các BPKCTT 893.2.2 Kiến nghị về các biện pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 101DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

BPKCTT: Biện pháp khẩn cấp tạm thời ADBPKCTT: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời HTND: Hội thẩm nhân dân

HĐXX: Hội đồng xét xử BPBĐ: Biện pháp bảo đảm BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự PLTTDS: Pháp luật tố tụng dân sự VKS: Viện kiểm sát ADPL: Áp dụng pháp luật BLDS: Bộ luật dân sự QPPL: Quy phạm pháp luật

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Bảo vệ các quyền con người là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình xây dựng và ban hành pháp luật Trong các quyền con người, các quyền về dân sự có vai trò quan trọng, vì đây là những quyền cơ bản nhất,

có phạm vi rộng nhất, các quyền về dân sự được bảo đảm thì mới có cơ sở để thực hiện các quyền về chính trị, kinh tế, tôn giáo khác…Vì vậy, mặc dù có sự quy định khác nhau về các quyền dân sự và cơ chế bảo vệ đối với các quyền đó cũng không giống nhau trong hệ thống pháp luật của mỗi nước, nhưng có thể nhận thấy điểm chung trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới,

là đều ghi nhận và bảo vệ các quyền dân sự (một trong những hình thức quyền con người) cho công dân của quốc gia mình

Tại Điều 9 Bộ luật Dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

quy đinh : "Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác

được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Khi quyền dân sự của một chủ thể

bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyển tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền can thiệp, bảo vệ ”

Theo dòng thời gian, các quyền dân sự của con người ngày càng được mở rộng, theo đó cơ chế để bảo đảm các quyền này được thực thi trên thực tế cũng là một yêu cầu đối với các cơ quan chức năng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội, các tranh chấp phát sinh ngày càng đa dạng, phức tạp do đó đòi hỏi Tòa án phải giải quyết các vụ án dân sự kịp thời, nhanh chóng nhằm ổn định các quan hệ xã hội và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Để đáp ứng mục tiêu này, trong những trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa án

có thể kịp thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ,

Trang 9

bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục hoặc đảm bảo thi hành án

Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Chương VIII

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS) từ Điều 99 đến Điều 126 BLTTDS

Đây là cơ sở pháp lý để Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) được nhanh chóng, chính xác, là phương tiện để cá nhân, cơ quan,

tổ chức bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được thực tiễn xét xử mà nguyên nhân của nó xuất phát từ sự quy định còn những điểm bất hợp lý của pháp luật Do đó, đã gây khó khăn cho Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và trong một số trường hợp đã làm thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự

Nhận thức được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS, từ thực tiễn áp dụng pháp luật của Toà án, theo sự phân công của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với các

cơ quan hữu quan xây dựng Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Trong quá trình soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị về các quy định của BLTTDS nói chung và các quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời nói riêng Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 hầu hết vẫn giữ nguyên các quy định cũ còn tồn tại nhiều bất cập, không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Trước thực trạng đó, việc nghiên

cứu đề tài "Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết vụ án

dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm ” là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa

Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, theo hướng xây dựng Toà án là trung tâm trong hệ thống tư pháp, thì hoạt động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án áp dụng càng được coi trọng Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài

Trang 10

trên của tác giả sẽ góp phần đáp ứng một trong các nhiệm vụ của Công cuộc cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết 08 ngày 02 tháng 01 năm 2002 và Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị, Ban chấp hành

trung ương đảng khoá XI về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: "Tiếp

tục hoàn thiện thủ tục TTDS bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự là một chế định quan trọng, xuất phát từ vai trò và ý nghĩa thực tiễn của nó nên nhận được

sự quan tâm, đóng góp ý kiến của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và những người làm công tác thực tiễn Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau dưới các mức độ khác nhau về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự như sau:

Tác giả Trần Anh Tuấn – Tiến sĩ luật học (giảng viên trường đại học

luật Hà Nội) đã có một số bài viết nghiên cứu về vấn đề này gồm: "Chế định

biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự’’ đăng trên Tạp chí Luật

học số đặc san Góp ý Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và bài viết

"Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS và thực tiễn áp dụng ", Tạp chí

dân chủ và pháp luật số 12 (165) năm 2005 Hai công trình nghiên cứu này đã xây dựng nền tảng lý luận căn bản về biện pháp khẩn cấp tạm thời Tiếp theo

đó, những vấn đề lý luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời được tác giả tiếp tục

phát triển và hoàn thiện trong đề tài khoa học cấp trường "Hoàn thiện pháp

luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách

tư pháp", bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2010 Ngoài ra, còn có một số

bài viết có đóng góp về vấn đề này như bài viết "Các biện pháp khẩn cấp tạm

thời trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án" của tác

giả Nguyễn Bích Thảo đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9 năm

Trang 11

2008; bài viết "Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh

chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án, những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện BLTTDS’’ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương đăng trên Tạp chí

Nhà nước và pháp luật số 3 năm 2010 v.v

Tác giả Trần Phương Thảo có 05 bài viết gồm: "Chế định biện pháp

khẩn cấp tạm thời trong TTDS " đăng trên Tạp chí luật học số đặc san về

BLTTDS năm 2005; "Bàn về trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm

thời không đúng quy định tại Điều 101 BLTTDS " đăng trên Tạp chí Toà án

nhân dân số 19 năm 2009 ; "Nguyên tắc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

trong BLTTDS Việt Nam " đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm 2010; "Một

số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật TTDS " đăng trên Tạp chí kiểm sát số 24 năm 2010

và bài viết : "Bàn về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong

Bộ luật TTDS" đăng trên Tạp chí Luật học số 3 năm 2011 Sau khi công bố 05

công trình nghiên cứu nêu trên, tháng 5/2012 tác giả Trần Phương Thảo tiếp

tục bảo vệ thành công luận án tiến sỹ luật học về "Biện pháp khẩn cấp tạm

thời trong tố tụng dân sự "

Tuy nhiên, trong các công trình này, các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về biện pháp khẩn cấp tạm thời nói chung trong tố tụng dân sự mà không nghiên cứu chuyên sâu về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Toà án cấp

sơ thẩm với tư cách là hoạt động chuyên biệt của Toà án Vì vậy, đề tài "Áp

dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Toà

án cấp sơ thẩm ” là đề tài đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng các

biện pháp khẩn cấp tạm thời ở Tòa án cấp sơ thẩm đối với các vụ án dân sự

Trang 12

3 Mục đích, và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

a Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm;

- Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự và những vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định đó tại Tòa án cấp sơ thẩm

- Tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

b Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để thực hiện được các mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau :

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án;

- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về điều kiện, thủ tục và cơ chế bảo đảm trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự và việc thực hiện các quy định này tại Tòa án cấp sơ thẩm;

- Đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại tòa án; các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về áp dụng biện pháp khẩn

Trang 13

cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm; thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trong những năm gần đây

- Phạm vi nghiên cứu:

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là vấn đề chứa đựng các nội dung khác nhau về cả lý luận và thực tiễn Do đó, để nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm cộng với việc giới hạn về số trang và thời gian nghiên cứu, nên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu những vấn

đề chủ yếu sau :

- Luận văn tập trung nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Những vấn đề khác như áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm hoặc tại giai đoạn phúc thẩm không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Trong phần kiến nghị về các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án cấp sơ thẩm, tác giả tập trung nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện, thủ tục và cơ chế bảo đảm trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và đề xuất một số giải pháp khác như nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm Phán, Hội thẩm; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân về vấn đề này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản

Trang 14

Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Do đó, các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật đều dựa trên các quan điểm chỉ đạo nêu trên

- Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đề tài đạt hiệu quả tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch sử

Mỗi phương pháp nghiên cứu khác nhau có tác dụng hỗi trợ, bổ sung lẫn nhau làm cho đề tài được nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu sắc Phương pháp phân tích làm sáng tỏ các quy định định của pháp luật hiện hành về các vấn đề nghiên cứu Phương pháp tổng hợp giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát, toàn diện về các vấn đề nghiên cứu; phương pháp lịch sử giúp cho tác giả hiểu rõ tinh thần các quy định của pháp luật trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt đó Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài để làm nổi bật các ưu điểm, hạn chế trong các quy định pháp luật thuộc nội dung đề tài nghiên cứu Khi phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đều có sự so sánh giữa pháp luật thực định với pháp của một số nước khác nhau, cũng như đặt pháp luật trong mối quan hệ với điều kiện kinh tế, xã hội, với quá trình cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Phương pháp thống kê được sử dụng khi xử lí các số liệu cụ thể về các yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn giải quyết các vụ

án dân sự và được thể thiện dưới dạng bảng biểu để các vấn đề nghiên cứu được chân thực, có tính thuyết phục cao

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách chuyên sâu và có

hệ thống về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Trang 15

Khái niệm, các đặc trưng của hoạt động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án được phát hiện và phân tích một cách đầy đủ, sâu sắc, làm cơ sở cho việc luận giải những vấn đề liên quan đến hoạt động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết các vụ

án dân sự, luận văn đã làm sáng tỏ thêm hệ thống lí luận khoa học về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, chủ thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trình tự, thủ tục yêu cầu, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trách nhiệm của người yêu cầu, người áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và việc thay đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Những vấn đề lý luận này là cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật TTDS về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như định hướng cho việc kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Luận văn phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện và sâu sắc các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và thực tiễn thực hiện các quy định này trong những năm gần đây

Từ những nghiên cứu này luận văn đã chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong các quy định của TTDS về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, những vướng mắc trong quá trình áp dụng các biện pháp này tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc áp dụng các quy định của BLTTDS, giúp cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác, đồng thời những phát hiện, đóng góp của luận văn cũng là tài liệu có giá trị cho các cơ quan lập pháp trong quá trình

Trang 16

xây dựng, hoàn thiện pháp luật đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho Tòa

án, các Thẩm phán có hiểu biết sâu sắc thêm về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Luận văn góp phần vào việc nâng cao nhận thức khoa học về điều kiện, thủ tục và cơ chế bảo đảm trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án cấp sơ thẩm, những đóng góp, phát hiện của luận văn có ý nghĩa tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập luật TTDS ở Việt Nam

8 Về bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương :

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm và kiến nghị

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự Vấn đề nhân quyền hay quyền con người từ lâu đã thu hút được sự quan tâm, chú ý rộng rãi của dư luận thế giới, trở thành một nhân tố không kém phần quan trọng trong các chương trình nghị sự và văn kiện của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực, cũng như các hiệp định song phương và đa phương

Trong các quyền con người, các quyền về dân sự được xem là quyền cơ bản, quan trọng Cũng như các quyền con người khác, các quyền về dân sự của các chủ thể được ghi nhận trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan của các nước Trong các văn bản pháp luật đó đều ghi nhận quyền của mỗi cá nhân được tự bảo vệ các quyền và lợi ích dân sự của mình Trường hợp không tự bảo vệ được quyền lợi của mình, pháp luật cho phép họ được khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án can thiệp, giải quyết

Thông qua việc khởi kiện của đương sự, Tòa án có quyền can thiệp và giải quyết các tranh chấp đó bằng một bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa

án Tuy nhiên, việc giải quyết các tranh chấp dân sự thường phải tuân theo một quy trình tố tụng dân sự chặt chẽ do pháp luật quy định Thời gian cần thiết để có kết quả giải quyết cuối cùng về nội dung vụ án cũng tương đối dài, trong thời gian này bên bị kiện có thể tẩu tán tài sản, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản hoặc tiêu hủy các chứng cứ, tài liệu của vụ án Ngoài ra, trong nhiều trường hợp việc bảo đảm quyền lợi của đương sự phải thực hiện ngay lập tức không thể chờ đến khi phán quyết về nội dung vụ việc có giá trị

Trang 18

thi hành như cần phải tạm buộc bên bị kiện phải thực nghĩa vụ của họ Xuất phát từ thực tế này, pháp luật của một số quốc gia có quy định trong những trường hợp khẩn cấp để đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, cần bảo vệ ngay bằng chứng, bảo toàn tài sản, bảo đảm khả năng thi hành án, tránh gây thiệt hại về tài sản không thể khắc phục được Tòa án được quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền lợi cho các đương sự

BPKCTT là một cụm từ bao gồm nhiều từ riêng lẻ được gép lại với nhau, theo từ điển tiếng Việt thì các từ đó được giải thích như sau : « Biện pháp » là một danh từ, chỉ cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể « Khẩn cấp » là một tính từ chỉ sự gấp gáp, cần kíp, phải giải quyết ngay, không thể trì hoãn được « Tạm thời » là một tính từ, chỉ sự không lâu dài, không ổn định Vì vậy, khi giải nghĩa các từ nêu trên, chúng ta

có thể hiểu BPKCTT có nghĩa là cách thức giải quyết một vấn đề nào đó một cách nhanh chóng, gấp gáp nhưng chỉ là giải pháp tạm thời, không mang tính chất lâu dài, ổn định Đây chính là công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ tài sản tranh chấp, chứng cứ hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong phiên tranh tụng chính chưa kết thúc [ 9, tr 129]

Tuy nhiên, không phải tất cả mọi vụ án dân sự đều được Tòa án áp dụng BPKCTT mà chỉ có những vụ án dân sự xuất hiện tình huống thực sự khẩn cấp và việc áp dụng BPKCTT vào việc giải quyết vụ án đó là có căn cứ

và cần thiết, khi đó Tòa án có thể xem xét quyết định áp dụng BPKCTT Về vấn đề này, Chánh án Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris Jean – Marie

Coulon đã từng nhận xét: «Có những vụ việc phải đi theo một tiến trình chậm

để bảo vệ quyền lợi của những người khiếu kiện và đảm bảo tốt công tác tư pháp, giảm bớt gánh nặng cho Tòa án Có những vụ việc đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, nếu không Thẩm phán sẽ bị coi là từ chối xét xử » [ 34, tr

11]

Ở Việt Nam, nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc áp dụng các BPKCTT trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm

Trang 19

Các BPKCTT được quy định từ rất sớm, nghiên cứu thực tiễn pháp luật TTDS của Việt Nam trước đây cho thấy đã từng có quy định về một thủ tục giống như thủ tục áp dụng BPKCTT hiện nay Cụ thể là Bộ luật dân sự - Thương sự - Tố tụng thi hành trong các Toà Nam án Bắc kỳ có quy định về

“thủ tục phụ đái” [10, tr 9] Trong thời kỳ pháp thuộc và dưới chế độ cũ, các thủ tục tương tự thủ tục áp dụng BPKCTT cũng đã từng được áp dụng dưới tên gọi là thủ tục cấp thẩm và thủ tục án lệnh phê đơn, với thẩm quyền chuyên biệt trong việc ra quyết định thuộc về Chánh án Theo những thủ tục này, Chánh án Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết ngay cả khi Tòa án chưa thụ lý vụ kiện Sau khi đất nước giành được độc lập trên cả hai miền Nam – Bắc, năm 1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, các quy định trong Pháp lệnh nhanh chóng được áp dụng thống nhất trên cả nước, trong đó các quy định về BPKCTT được quy định tại Chương VIII của Pháp lệnh (gồm 02 điều luật là 41 và 42) Tiếp theo đó là các quy định về biện pháp này trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996 đã tạo ra cơ sở pháp lý để các đương sự và Toà án thực hiện

Bộ luật TTDS được xây dựng và ban hành năm 2004 đã thay thế các pháp lệnh về thủ tục nói trên Các BPKCTT trong Bộ luật TTDS được quy định một cách đầy đủ và chi tiết hơn, Bộ luật dành hẳn một chương (chương VIII) gồm 28 điều luật, quy định cụ thể về các BPKCTT và các vấn đề liên quan đến việc áp dụng như quyền yêu cầu, thời điểm yêu cầu, thẩm quyền áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT…v.v Việc áp dụng các biện pháp này trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng và các cơ chế bảo đảm sự đúng đắn của việc áp dụng

BPKCTT trong TTDS được áp dụng trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm xuất phát từ yêu cầu việc giải quyết vụ án dân

sự của Toà án phải đảm bảo nguyên tắc giải quyết kịp thời, để từ đó bảo vệ

Trang 20

kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Do đó, trong những trường hợp khẩn cấp, Toà án phải có ngay biện pháp can thiệp phù hợp với các tình tiết, nội dung vụ án để bảo vệ tạm thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Tuy nhiên trong TTDS các tranh chấp dân sự phát sinh là rất đa dạng, phong phú, các tình tiết và mức độ phức tạp của mỗi vụ án là không giống nhau, nên mỗi tình thế khẩn cấp khác nhau đòi hỏi phải có biện pháp giải quyết khác nhau nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tài sản Bàn về vấn đề này, Thẩm phán Thierry Gallais đã

đưa ra một nhận định rất chính xác, đó là: “ Không thể đưa ra một giải pháp

để áp dụng chung cho tất cả” [ 30, tr.8]

Từ sự phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về biện pháp khẩn

cấp tạm thời trong tố tụng dân sự như sau: BPKCTT trong TTDS là các biện

pháp do pháp luật quy định và được Tòa án áp dụng để tạm thời giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, bảo đảm thi hành án, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong

vụ án dân sự

Biện pháp khẩn cấp tạm thời có hai tính chất là tính khẩn cấp và tính tạm thời Hai tính chất này là 2 tính chất cơ bản cần được nhà lập pháp lưu ý khi xây dựng các quy định về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng và các

cơ chế bảo đảm sự đúng đắn của việc áp dụng từng BPKCTT đồng thời cũng

là hai tính chất mà Thẩm phán khi áp dụng các BPKCTT cũng cần phải lưu ý

để nhận thức về sự nhanh chóng của việc áp dụng và có thể cân nhắc thay đổi, hủy bỏ khi xét thấy cần thiết

1.1.2 Phân loại các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân

sự

Để có thể xác định và xây dựng được một cách hợp lý các quy định về điều kiện áp dụng, việc áp dụng có cần dựa trên yêu cầu của đương sự hay không cũng như xác định đúng các điều kiện về BPKCTT đã được quy định

để quyết định đúng các BPKCTT phù hợp, thỏa mãn các dữ kiện của tình huống khi áp dụng trên thực tế đòi hỏi cần phải nắm vững bản chất và phân

Trang 21

loại được các BPKCTT Căn cứ vào bản chất, mục đích áp dụng của các BPKCTT có thể phân loại các BPKCTT thành các nhóm cơ bản sau đây:

- Các BPKCTT buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ

Thuộc nhóm này gồm các BPKCTT như: Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động Nhìn chung ở các BPKCTT này đều có điểm giống nhau là người có nghĩa phải tạm ứng trước một khoản tiền cho người có quyền yêu cầu ADBPKCTT, để giải quyết nhu cầu cấp bách, trước mắt của họ

Tính khẩn cấp của các BPKCTT thuộc nhóm này thể hiện ở chỗ là người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT đang cần được bảo vệ ngay quyền

và lợi ích hợp pháp, nếu không được nhận kịp thời một khoản tiền nhất định, tính mạng, sức khỏe của người đó có thể bị nguy hiểm, bị đe dọa Vì tính nhân đạo của pháp luật và trách nhiệm của Nhà nước với công dân, các BPKCTT thuộc nhóm này thường được áp dụng dưới hai hình thức là theo đơn yêu cầu của đương sự và trong một số trường hợp cần thiết, Tòa án có quyền tự mình áp dụng BPKCTT ngay cả khi đương sự không có yêu cầu

- Các BPKCTT được áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp

Bao gồm các biện pháp như: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyển về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác

Đây là các biện pháp mà pháp luật TTDS có quy định về điều kiện áp

dụng « chỉ được áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp », các tài sản khác

của người có nghĩa vụ tuy có khả năng bảo đảm thi hành án nhưng nếu không

có tranh chấp thì cũng không được áp dụng của biện pháp này Các BPKCTT này có mục đích nhằm bảo toàn tài sản tranh chấp, ngăn chặn, phòng ngừa

Trang 22

người có nghĩa vụ tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản, đảm bảo thi hành án Đối với nhóm các BPKCTT này được áp dụng trên cơ sở yêu cầu của đương sự

- Các BPKCTT phong tỏa tài khoản, tài sản

Bao gồm các BPKCTT như : Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ Các BPKCTT này được áp dụng đối với người có nghĩa vụ có tài khoản mở tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước hoặc trong trường hợp người có nghĩa vụ có tài sản nhưng vì muốn trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền đã gửi tài sản cho người khác quản lý hộ, tránh sự phát hiện của người có quyền yêu cầu ADBPKCTT

Thực chất các biện pháp phong tỏa tài sản, tài khoản nêu trên đều là phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ, mục đích của việc áp dụng là nhằm

cô lập không cho các tài sản của người có nghĩa vụ được đưa vào giao dịch, lưu thông, từ đó bảo toàn được tài sản, bảo đảm khả năng thi hành án Các biện pháp này thường không liên quan đến các chủ thể có quyền lợi là người yếu thế không có khả năng tự bảo vệ mình nên thường được Tòa án áp dụng dựa trên yêu cầu của đương sự

- Các BPKCTT cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định

Thuộc nhóm này có thể kể đến các BPKCTT như: Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ thi hành quyết định sa thải người lao động Thực chất các biện pháp KCTT nêu trên được áp dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án của Tòa án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết Các biện pháp này thường liên quan đến các chủ thể có quyền lợi là người yếu thế không có khả năng tự bảo vệ mình nên Tòa án có thể tự mình áp dụng nếu xét thấy cần thiết hoặc áp dụng dựa trên yêu cầu của đương sự

- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do pháp luật quy định

Trang 23

Ngoài các BPKCTT nêu trên, pháp luật có thể cho phép Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể áp dụng các BPKCTT khác chưa được liệt kê trong pháp luật nếu việc áp dụng các biện pháp này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự Thực tiễn giải quyết án dân sự rất phong phú, đa dạng, nên các quy định được dự liệu trước về BPKCTT nhiều khi không thể bao quát hết các tình huống nảy sinh trong cuộc sống Do vậy, cần phải có những quy định mở nhằm trao thêm thẩm quyền cho Tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự như biện pháp KCTT nhằm bảo toàn chứng cứ, niêm phong, bắt giữ tàu bay, tàu biển v.v

1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

1.2.1 Khái niệm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Theo Lý luận chung về nhà nước và pháp luật: “Áp dụng pháp luật là

hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền, thông qua những trình tự thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân tổ chức cụ thể ”[ 34, tr.381]

Áp dụng BPKCTT là một hình thức áp dụng pháp luật, đó là việc Tòa

án nghiên cứu, xem xét các quy định của pháp luật TTDS về BPKCTT như các quy định về người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, thời điểm có quyền yêu cầu, thẩm quyền, điều kiện, thủ tục áp dụng để quyết định các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như xem xét các khiếu nại, kiến nghị về việc áp dụng để quyết định việc thay đổi, hủy bỏ BPKCTT đã được áp dụng Trên cơ

sở nghiên cứu các quy định pháp luật nội dung và pháp luật hình thức, Thẩm phán hay HĐXX vận dụng vào thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự để quyết định các biện pháp khẩn cấp tạm thời phù hợp hoặc quyết định biện pháp thay thế nếu xét thấy cần thiết

Trang 24

Áp dụng BPKCTT có vai trò rất quan trọng, có tác dụng rút ngắn thời gian tố tụng, giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Do đó, hoạt động ADBPKCTT nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cũng như những người làm công tác pháp luật Trong đó, khái niệm ADBPKCTT nhận được nhiều sự quan tâm nhất, bởi lẽ trên cơ sở xây dựng được khái niệm ADBPKCTT đầy

đủ, chính xác, có khả năng bao quát cao sẽ tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho Tòa án và các đương sự thực hiện Vì vậy, khái niệm ADBPKCTT nhận được nhiều ý kiến khác nhau, có quan điểm cho rằng ADBPKCTT là việc xét các điều kiện luật định về BPKCTT và quyết định áp dụng hay không áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT trên cơ sở thủ tục được pháp luật tố tụng dân sự quy định

Những người theo quan điểm nêu trên cho rằng ADBPKCTT trong việc giải quyết các vụ án dân sự chỉ đơn thuần là việc Thẩm phán được giao nhiệm

vụ giải quyết vụ án, hoặc HĐXX xem xét, nghiên cứu các điều kiện do pháp luật quy định về BPKCTT (điều kiện về nội dung, hình thức), trên cơ sở xem xét nội dung yêu cầu của người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT (đơn yêu cầu, thời điểm yêu cầu, biện pháp yêu cầu, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn ) có thỏa mãn các quy định của pháp luật không Trên cơ sở đó, Thẩm phán hoặc HĐXX quyết định áp dụng hay không áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT vào giải quyết các vụ án dân sự Những người theo quan điểm này cho rằng ADBPKCTT trong việc giải quyết các vụ án dân sự chỉ là hoạt động

áp dụng pháp luật thuần túy, không bao gồm các vấn đề khác liên quan như việc ra quyết định sửa đổi, thay thế BPKCTT đã được áp dụng bằng BPKCTT khác

Tuy nhiên, quan điểm nêu trên không nhận được sự ủng hộ của nhiều người, những người theo quan điểm này cho rằng ADBPKCTT trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm không đơn thuần chỉ là xét các điều kiện luật định về BPKCTT và quyết định áp dụng hay không áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT trên cơ sở thủ tục được PLTTDS quy định nêu trên

Trang 25

mà ADBPKCTT còn được hiểu ở phạm vi rộng hơn, bao quát hơn, nó không chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật đơn thuần mà còn bao gồm việc ra quyết định sửa đổi, thay thế BPKCTT đã được áp dụng bằng BPKCTT khác

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, tức là việc áp dụng BPKCTT cần được hiểu theo nghĩa rộng, tức là nó bao gồm các hoạt động áp dụng, sửa đổi và thay thế BPKCTT đã được áp dụng bằng BPKCTT khác Vì việc áp dụng hay sửa đổi, thay thế BPKCTT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tùy theo tính chất, mức độ phức tạp của mỗi vụ án dân sự Thẩm phán giải quyết, các BPKCTT được áp dụng sẽ có tác dụng trong thời điểm này và

có thể không còn tác dụng, không còn cần thiết trong một thời điểm khác Do vậy, căn cứ vào tình hình thực tế, Thẩm phán giải quyết vụ án có thể sửa đổi, thay thế BPKCTT đang được áp dụng bằng một BPKCTT khác, tạo điều kiện cho hoạt động ADBPKCTT của Tòa án đạt được hiệu quả cao Việc sửa đổi, thay thế BPKCTT này bằng BPKCTT khác cũng phải tuân theo đầy đủ các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật nói chung Vì vậy, ADBPKCTT phải được hiểu theo nghĩa rộng, đầy đủ, khái quát theo hướng bao gồm các hoạt động là áp dụng, sửa đổi, thay thế BPKCTT này bằng BPKCTT khác mới phản ánh được đầy

đủ, sâu sắc nhất bản chất của hoạt động ADBPKCTT

Từ những phân tích nêu trên, khái niệm ADBPKCTT trong giải quyết các vụ án dân sự có thể được hiểu như sau :

Áp dụng BPKCTT trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là việc Thẩm phán hay HĐXX sơ thẩm xét các điều kiện luật định về BPKCTT (điều kiện về nội dung, hình thức) để quyết định một hoặc nhiều BPKCTT hoặc ra quyết định sửa đổi, thay thế BPKCTTT đã được áp dụng bằng BPKCTT khác

1.2.2 Đặc điểm của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Áp dụng BPKCTT là hoạt động áp dụng pháp luật, nó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật nói chung như: mang tính quyền

Trang 26

lực nhà nước; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền; mang tính cá biệt, cụ thể;

đòi hỏi sự sáng tạo Tuy nhiên, áp dụng BPKCTT trong việc giải quyết các vụ

án dân sự sơ thẩm thì chỉ riêng Tòa án cấp sơ thẩm là chủ thể duy nhất được nhà nước trao quyền thực hiện Vì vậy, ngoài các đặc điểm chung nêu trên, ADBPKCTT còn có những đặc điểm riêng biệt dưới đây:

- Việc áp dụng BPKCTT chủ yếu được tiến hành trên cơ sở quyền tự

định đoạt của đương sự

Có thể khẳng định rằng, các BPKCTT thường do một bên yêu cầu (thường là nguyên đơn), còn Tòa án rất hiếm khi ra quyết định áp dụng BPKCTT (trừ một số trường hợp được pháp luật quy định vì tính nhân đạo), nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tài sản tranh chấp, hoặc chứng cứ Đây là đặc điểm để phân biệt ADBPKCTT với các hoạt động

áp dụng pháp luật khác Đặc điểm này được hình thành dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, việc áp dụng BPKCTT trong việc giải quyết các vụ án dân sự được thực hiện dựa trên yêu cầu của đương là chủ yếu

Trường hợp đơn yêu cầu ADBPKCTT là có căn cứ và cần thiết, Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT và cũng trên cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự, Tòa án sẽ ra quyết định thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ BPKCTT nếu thấy BPKCTT đang được áp dụng là không phù hợp hoặc không còn cần thiết

- Chủ thể áp dụng là Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến

Trang 27

TTDS Nếu vụ án đã được đưa ra xét xử tại phiên tòa thì các vấn đề phát sinh tại phiên tòa, trong đó có việc quyết định về BPKCTT phải do Hội đồng xét

xử sơ thẩm thực hiện

- Mục đích của việc áp dụng BPKCTT là nhằm đáp ứng nhu cầu cấp

bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu áp dụng BPKCTT hoặc người yếu thế

BPKCTT được quy định trong pháp luật phải có tính đa dạng, bao gồm nhiều loại biện pháp khác nhau, mỗi biện pháp được áp dụng nhằm một mục đích nhất định, có biện pháp nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự (buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ), có biện pháp nhằm bảo toàn tài sản (kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản ), có biện pháp nhằm giải quyết vụ án và đảm bảo thi hành án dân sự (cấm hoặc buộc đương sự thực hiện những hành vi nhất định ) Mặc dù mỗi BPKCTT khác nhau, được áp dụng tương ứng với mỗi vụ án có tính chất khác nhau, nhằm mục đích khác nhau, nhưng cái đích cuối cùng của việc áp dụng BPKCTT mà người yêu cầu

áp dụng BPKCTT và chủ thể áp dụng BPKCTT hướng tới vẫn là nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu áp dụng BPKCTT hoặc người yếu thế

- Việc áp dụng BPKCTT phải nhanh chóng, kịp thời và trong một số

trường hợp cần phải tiến hành bí mật, bất ngờ

Với mục đích nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự trong vụ án dân sự (một bên đương sự trong vụ án dân sự - thường là nguyên đơn), nếu các biện pháp KCTT được áp dụng không đảm bảo được yếu tố nhanh chóng, kịp thời, thì tính mạng, sức khỏe, tài sản của người yêu cầu áp dụng BPKCTT sẽ không được bảo đảm Mặt khác, việc áp dụng BPKCTT sẽ tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của bên bị áp dụng BPKCTT, trường hợp các thông tin về việc áp dụng BPKCTT bị rò rỉ ra ngoài, người bị yêu cầu ADBPKCTT biết được sẽ tìm cách đối phó như tẩu tán, hủy hoại tài sản, rút tiền ra khỏi tài khoản gây thiệt hại cho người yêu

Trang 28

cầu ADBPKCTT Do đó, để việc ADBPKCTT phát huy được hiệu qủa thì ngoài việc đảm bảo yếu tố nhanh chóng, kịp thời trong quá trình áp dụng còn phải bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ và có hiệu quả

- Áp dụng BPKCTT phải tuân theo các điều kiện, trình tự thủ tục do

pháp luật quy định:

Áp dụng BPKCTT do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, việc

áp dụng có tác động trực tiếp quyền, lợi ích của người bị ADBPKCTT nên pháp luật cần quy định Thẩm phán hay HĐXX phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Đó là các điều kiện pháp luật

về nội dung, hình thức, chẳng hạn các điều kiện về người yêu cầu áp dụng BPKCTT (đơn yêu cầu, thời điểm yêu cầu, nội dung yêu cầu, tài liệu chứng

cứ kèm theo đơn yêu cầu, điều kiện về việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm ); các điều kiện về trình tự, thủ tục ra quyết định ADBPKCTT, thời hạn

ra quyết định, hình thức văn bản của Tòa án, thời hạn gửi quyết định ADBPKCTT v.v Đây là những điều kiện bắt buộc mà Thẩm phán, hoặc HĐXX sơ thẩm phải tuân theo trong quá trình áp dụng

- Việc áp dụng phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự

trong vụ án:

Việc ADBPKCTT do con người tiến hành mà cụ thể là do Thẩm phán Tòa án thực hiện, mà Thẩm phán cũng là những con người bình thường, đôi khi cũng mắc phải những sai lầm, thiếu sót trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ Do đó, Thẩm phán có thể ban hành các quyết định ADBPKCTT không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự (gồm nguyên đơn, bị đơn, người thứ ba có liên quan) trong vụ án

Vì vậy, pháp luật TTDS không những phải có các quy định để bảo vệ riêng quyền lợi của nguyên đơn mà còn phải thiết lập các quy định khác nhằm ràng buộc, hạn chế Tòa án áp dụng BPKCTT không đúng hoặc ngăn chặn sự lạm quyền yêu cầu ADBPKCTT từ phía người có quyền yêu cầu áp dụng như các quy định về việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, quy định về việc Tòa án không áp dụng vượt quá yêu cầu của người có quyền yêu cầu ADBPKCTT,

Trang 29

quy định về trách nhiệm do việc ADBPKCTT không đúng, khiếu nại, kiến nghị liên quan đến việc ADBPKCTT để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tất cả các đương sự trong vụ án dân sự

1.2.3 Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

- Áp dụng BPKCTT góp phần kết thúc vụ án một cách nhanh chóng

Trong các tranh chấp dân sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các đương sự có quyền lựa chọn phương thức và cách thức thực hiện khác nhau, có thể họ tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp Trường hợp mâu thuẫn phát sinh gay gắt, các bên không thể thương lượng được, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết

Thông thường các vụ việc tranh chấp được Tòa án giải quyết thông qua con đường khởi kiện, Tòa án cũng như các đương sự phải tuân theo điều kiện về trình tự, thủ tục rất chặt chẽ (thủ tục thụ lý, hòa giải, xét xử ) Do đó, đến khi tranh chấp được giải quyết dứt điểm cũng phải mất một khoảng thời gian khá dài Trong khi đó, có những tình huống khẩn cấp đòi hỏi Tòa án phải quyết định ngay các biện pháp cần thiết nếu không tính mạng, sức khỏe, tài sản của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm không được bảo đảm Do vậy, trong trường hợp khẩn cấp, pháp luật quy định cho phép đương sự đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện, có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng ngay BPKCTT

Trong nhiều trường hợp việc áp dụng BPKCTT buộc người có nghĩa vụ phải

tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình hoặc thỏa thuận với bên nguyên đơn về giải quyết vụ án, do vậy thời hạn tố tụng được rút ngắn, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo vệ kịp thời

- Áp dụng BPKCTT góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách của đương

sự

Các tranh chấp dân sự rất phong phú, đa dạng, một trong số các tranh chấp đó đòi hỏi Tòa án phải xem xét, giải quyết ngay mà không thể giải quyết theo một trình tự, thủ tục thông thường, nếu không quyền, lợi ích hợp pháp của một trong các bên đương sự sẽ không được bảo đảm Đó là các tranh

Trang 30

chấp về vấn đề cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tạm ứng tiền công, tiền lương Trong trường hợp này, các BPKCTT như: buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được áp dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự

- Áp dụng BPKCTT góp phần bảo toàn tài sản, đảm bảo khả năng thi hành án dân sự

Có thể khẳng định rằng, phần lớn các tranh chấp dân sự có liên quan đến tài sản, có thể tranh chấp trực tiếp một tài sản cụ thể hoặc thông qua một

vụ việc tranh chấp mà các vấn đề về tài sản được các đương sự yêu cầu Tòa

án giải quyết Do đó, các BPKCTT khẩn cấp tạm thời như kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài sản, tài khoản các biện pháp này được áp dụng đối với người có nghĩa vụ nhằm ngăn chặn những người này tẩu tán, hủy hoại tài sản qua đó, có tác dụng bảo toàn tài sản, bảo đảm thi hành án

- Áp dụng BPKCTT tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án

Đối với các tranh chấp dân sự, thời hạn thụ lý, giải quyết theo quy định của PLTTDS hiện hành phải mất từ hai tháng đến bốn tháng Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ phức tạp của mỗi vụ án dân sự mà thời hạn đưa vụ án

ra xét xử có thể được gia hạn thêm từ một tháng đến hai tháng Tuy nhiên với việc áp dụng BPKCTT đã đem lại hiệu quả tức thì, quyền lợi của đương sự được bảo vệ ngay khi vụ án chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, các hành vi tiêu cực của đương sự đối lập được ngăn chặn kịp thời Chẳng hạn, có những vụ án, bị đơn có hành vi hủy hoại chứng cứ, mua chuộc, đe dọa người làm chứng đã được Tòa án ngăn chặn kịp thời, tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết vụ án được đúng đắn, chính xác Thông qua việc áp dụng các BPKCTT như kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản, cấm thay đổi hiện trạng tài sản, phong tỏa tài sản, tài khoản đã bảo toàn được tài sản, bảo đảm

Trang 31

thi hành án, làm cho hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án càng được nâng cao

1.3 CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

Như chúng tôi đã phân tích ở các phần trước của luận văn, việc áp dụng BPKCTT có thể đem lại hiệu quả cao, nhưng cũng có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng Do đó, có thể khẳng định rằng hiệu quả của việc áp dụng BPKCTT phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, các yếu tố này chi phối hiệu quả hoạt động ADBPKCTT, làm cho các quyết định do Tòa án áp dụng được đúng đắn, chính xác hoặc cũng có thể dẫn đến sai lầm, thiếu sót Các yếu tố này có thể kể đến là:

- Yếu tố về lựa chọn thời điểm yêu cầu áp dụng BPKCTT thích hợp và

bảo mật được thông tin về yêu cầu áp dụng BPKCTT đối với đương sự bị áp dụng

Tùy theo tính chất của tình huống và BPKCTT cần yêu cầu Tòa án áp dụng mà đương sự phải cân nhắc để lựa chọn một thời điểm thích hợp nhất,

có thể ngay khi khởi kiện hoặc trong quá trình giải quyết sơ thẩm vụ án Nếu yêu cầu áp dụng các biện pháp mà đương sự bị áp dụng biết được thông tin có thể sẽ đề phòng làm vô hiệu hóa yêu cầu hoặc biện pháp mà Tòa án quyết định thì khi yêu cầu áp dụng cần phải có sự bảo mật thông tin về yêu cầu áp dụng BPKCTT

- Yếu tố về hồ sơ, tài liệu ban đầu do đương sự cung cấp có kịp thời và

đầy đủ hay không

Tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án xem xét, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận các yêu cầu của đương sự về việc áp dụng BPKCTT Trong vụ án dân sự, tài liệu chứng cứ chủ yếu do đương sự cung cấp Do đó, nếu tài liệu chứng cứ đương sự cung

Trang 32

cấp càng đầy đủ, có giá trị chứng minh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong quá trình dụng BPKCTT và ngược lại

Hiệu quả hoạt động áp dụng BPKCTT của Tòa án phụ thuộc vào việc cung cấp kịp thời và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu cần thiết trong hồ sơ yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT Nếu ngay từ đầu đương sự không cung cấp đủ các chứng cứ, tài liệu cần thiết có thể dẫn tới yêu cầu áp dụng BPKCTT của

họ bị Tòa án từ chối hoặc Tòa án cần phải cân nhắc kỹ, yêu cầu bổ sung thêm tài liệu làm cho việc áp dụng biện pháp không kịp thời, làm mất đi tính hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, không thể ngăn chặn được hành vi tẩu tán, chuyển dịch hay thay đổi hiện trạng tài sản

Tâm lý phó mặc vào Tòa án, không chủ động trong việc chuẩn bị chứng cứ, tài liệu tự bảo vệ cho mình có thể ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của việc áp dụng BPKCTT Ngoài ra, với thói quen, lối sống chủ yếu dựa vào niềm tin khi tiến hành giao dịch có thể dẫn tới khi có tranh chấp, đương

sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nhưng không thể cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng BPKCTT của mình là có căn cứ và hợp pháp nên yêu cầu áp dụng BPKCTT không được Tòa án chấp nhận

- Yếu tố về kỹ năng, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán

Trong vụ án dân sự, yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự được chấp nhận hay không phụ thuộc Thẩm phán Tòa án quyết định Việc áp dụng BPKCTT đúng sai, đạt hiệu quả hay gây thiệt hại phụ thuộc nhiều vào kỹ năng, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Người Thẩm phán có kỹ năng, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc sẽ đặt quyền, lợi ích của đương sự lên trên hết, từ đó các bước nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ đều hết sức thận trọng Với khả năng chuyên môn, kinh nghiệm công tác của mình, người Thẩm phán dễ dàng nhận ra yêu cầu áp dụng BPKCTT nào là có cơ sở pháp luật, có căn cứ và yêu cầu nào chưa hợp lý, chính xác, từ đó ra quyết định áp

Trang 33

dụng BPKCTT để bảo vệ quyền lợi của các đương sự Tuy nhiên, nếu Thẩm phán năng lực chuyên môn, kinh nghiệm công tác hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc có thể dẫn đến đánh giá tài liệu, chứng cứ không khách quan, chính xác, hoặc vì lý do vụ lợi làm sai lệch hồ sơ vụ án, có thể ra quyết định áp dụng BPKCTT không đúng, gây thiệt hại cho đương sự Vì vậy,

có thể khẳng định rằng kỹ năng, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán là nhân tố quan trọng chi phối hiệu quả hoạt động ADBPKCTT

- Yếu tố về cơ chế phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động áp dụng BPKCTT của Tòa án

Việc áp dụng BPKCTT đạt được hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức khác Bởi lẽ, ngay sau khi quyết định áp dụng BPKCTT được ban hành, quyết định áp dụng BPKCTT phải được các cá nhân, cơ quan, tổ chức thi hành ngay nhưng việc thi hành như thế nào, kết quả ra sao Tòa án không thể quyết định được

Chẳng hạn, trường hợp đương sự bị áp dụng BPKCTT là phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ, cấm chuyển dịch thì người phải thực hiện quyết định này chính là tổ chức ngân hàng, người giữ tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm quản lý hồ sơ, sang tên, chước bạ tài sản

Nếu các cơ quan này không phối hợp với Tòa án, không có thiện chí và tinh thần trách nhiệm cao khi thực hiện thì biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng sẽ không có hiệu quả trên thực tế Do vậy, việc quy định rõ về sự phối hợp và chế tài xử lý là hết sức cần thiết

- Ngoài các yếu tố nêu trên thì yếu tố về tính hợp lý của pháp luật trong

các quy định về BPKCTT cũng là yếu tố quan trọng chi phối hiệu quả hoạt động ADBPKCTT

Các quy định pháp luật về BPKCTT càng hợp lý, đầy đủ, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động ADBPKCTT của Tòa án đạt hiệu quả Ngược lại, các quy định pháp luật về BPKCTT chưa đầy đủ, không hợp lý, không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sẽ làm giảm hiệu hoạt động ADBPKCTT Nếu các quy định của pháp

Trang 34

luật về việc áp dụng các BPKCTT không phù hợp, còn có hạn chế, bất cập về điều kiện áp dụng từng BPKCTT cụ thể, thời điểm yêu cầu ADBPKCTT, thời hạn ra quyết định ADBPKCTT, về việc thực hiện biện pháp bảo đảm, về trách nhiệm trong việc áp dụng BPKCTT thì khi áp dụng trên thực tế sẽ nảy sinh những vướng mắc, bất cập làm giảm hiệu quả của việc áp dụng BPKCTT

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Bảo vệ các quyền con người là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng pháp luật Trong số các quyền đó, các quyền về dân sự luôn được pháp luật quan tâm đặc biệt Trong văn bản pháp luật của các quốc gia đều có quy những quy định công nhận cho mỗi cá nhân được quyền tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, trường hợp các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại nghiêm trọng mà đương sự không tự bảo

vệ được, thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới đều có quy định về cơ sở pháp lý cho việc ADBPKCTT thông qua việc xác định điều kiện, thẩm quyền, thủ tục

và cơ chế bảo đảm khi ADBPKCTT nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tài sản, bảo đảm khả năng thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án Dù có sự khác biệt giữa các quốc gia trong việc quy định về các BPKCTT nhưng pháp luật cần phải dự liệu nhiều biện pháp với những điều kiện áp dụng khác nhau để đáp ứng kịp thời những tình huống phức tạp phát sinh trong quá trình sơ thẩm vụ án dân sự; các vấn đề về thẩm quyền, thủ tục và quyền phản kháng biện pháp được Tòa án quyết định cũng được cần được pháp luật ghi nhận Mỗi BPKCTT được áp dụng trong một vụ

án cụ thế, phù hợp với một tình huống cụ thế nhằm mục đích giải quyết tốt nhất vụ việc đang tranh chấp Việc áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án dân sự phải hướng đến mục tiêu giải quyết tốt nhất vụ án, bảo vệ kịp thời quyền lợi cho đương sự

Tuy nhiên, để việc áp dụng BPKCTT đạt được hiệu quả như mong muốn, nhà lập pháp và chủ thể áp dụng BPKCTT phải nắm vững các vấn đề

lý luận cơ bản về các BPKCTT như các vấn đề bản chất và phân loại các BPKCTT; đặc điểm của việc áp dụng BPKCTT, các yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động ADBPKCTT Việc nắm rõ các vấn đề lý luận cơ bản nêu trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là tiền đề cho việc xây dựng và áp dụng các quy định của pháp luật về các BPKCTT, từ đó nâng cao hiệu quả áp dụng các BPKCTT trong TTDS

Trang 36

Chương 2

CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN

SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

2.1.1 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ là việc người có quyền yêu

cầu áp dụng BPKKTT có đơn yêu cầu hoặc Tòa án xét thấy cần thiết buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự Các quy định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa

vụ có ý nghĩa quan trọng là kịp thời giải quyết được những nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ quyền lợi ích của họ, tránh gây ra những thiệt hại không thể khắc phục được khi chưa có phán quyết chính thức của Tòa án về việc giải quyết vụ án dân sự đó Các BPKCTT về buộc thực hiện trước một phần nghĩa

vụ được xây dựng, ban hành dựa trên nguyên tắc đề cao quyền tự định đoạt của đương sự Tòa án có quyền tự mình áp dụng các BPKCTT này khi xét thấy cần thiết

Các BPKCTT về việc buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ được quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 102 và các điều luật tương ứng khác, từ Điều 104 đến Điều 106 BLTTDS Khi áp dụng mỗi biện pháp cụ thể, Tòa án cần căn cứ vào các quy định về điều kiện áp dụng được quy định khá cụ thể, chặt chẽtrong BLTTDS và Nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao đối với mỗi biện pháp:

Trang 37

2.1.1.1 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng

Đây là biện pháp được Tòa án áp dụng nhằm buộc người bị yêu cầu cấp dưỡng (người có nghĩa vụ cấp dưỡng) phải tạm ứng trước một khoản tiền nhất định cho người được cấp dưỡng, để đảm bảo cho người được cấp dưỡng kịp thời giải quyết được những khó khăn trước mắt của họ, để không bị ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống

Điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại khoản 2 Điều 102

và Điều 104 BLTTDS và được hướng dẫn áp dụng tại mục 3.2 Nghị quyết số 02/2005/NQ – HĐTP của HĐTPTANDTC, theo đó biện pháp này được áp

dụng nếu « việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và Tòa

án xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người được cấp dưỡng »

Với quy định pháp luật nêu trên, thì khi Tòa án áp dụng biện pháp này phải dựa trên những điều kiện nhất định như tính khẩn cấp của vụ việc đang

giải quyết « nếu không thực hiện trước…sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống

của người được cấp dưỡng » Tức là Tòa án căn cứ vào những thiệt hại, hậu

quả xấu có thể xảy ra trên thực tế, làm thiệt hại đến quyền, lợi ích của người được cấp dưỡng nếu như không áp dụng ngay biện pháp này, người được cấp dưỡng có thể bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe Ngoài điều kiện về tính khẩn cấp, khi áp dụng biện pháp này Tòa án còn phải xác định người bị yêu cầu cấp dưỡng là người có nghĩa vụ cấp dưỡng, là người có tài sản, có khả năng cấp dưỡng…Có thể thấy biện pháp này chủ yếu được áp dụng trong các vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, đặc biệt là các vụ án về ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn …trong đó một bên có yêu cầu cấp dưỡng cho bản thân hoặc cho người khác

Trang 38

2.1.1.2 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe

bị xâm phạm

Để kịp thời giải quyết các nhu cấp bách của đương sự, khi có đương sự yêu cầu hoặc Tòa án xét thấy cần thiết, thì trước khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Tòa án có thể quyết định áp dụng BPKCTT là « buộc bên

có nghĩa vụ phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại », tức

là Tòa án buộc người đã thực hiện hành vi trái pháp luật (người đã thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác) phải ứng trước một khoản tiền nhất định, để bồi thường cho người bị hại, với mục đích để người

bị thiệt hại kịp thời giải quyết những khó khăn, nhu cầu cấp bách trước mắt của họ

Điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 105 BLTTDS,

theo đó biện pháp này được áp dụng khi có các điều kiện : « việc giải quyết

vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và cần thiết »

Như vậy, áp dụng biện biện pháp này phải dựa trên hai điều kiện:

Thứ nhất, vụ án mà Tòa án đang giải quyết có liên quan đến yêu cầu

đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe Đối với điều kiện này, Tòa

án dựa trên yêu cầu của người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, hoặc Tòa

án tự mình áp dụng nếu xét thấy cần thiết

Thứ hai, yêu cầu đó là có « căn cứ » và « cần thiết » Đối với điều kiện

thứ hai, việc xác định yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe

bị xâm hại như thế nào là có « căn cứ » và « cần thiết » do Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự đó quyết định dựa trên việc xác định có hay không hành

vi xâm hại về tính mạng, sức khỏe; tính chất, mức độ của hành vi xâm hại, người thực hiện hành vi xâm hại phải có lỗi và người đó có khả năng về kinh

tế để thực hiện ngay việc bồi thường…tình trạng sức khỏe của người bị xâm

Trang 39

hại, hoàn cảnh kinh tế của người đó… nếu xét thấy người bị xâm hại lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, bị mất việc làm, hoàn cảnh kinh tế khó khăn…nếu không áp dụng ngay biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại sẽ gây ra những hậu quả xấu không thể khắc phục được cho người đó thì Tòa án áp dụng biện pháp này để kịp thời giải quyết các nhu cầu cấp bách của họ, trước khi có bản án, quyết định chính thức của Tòa án Điều này cũng thể hiện tính cấp bách, khẩn cấp của việc áp dụng BPKCTT buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường do tính mạng, sức khỏe bị xâm hại

2.1.1.3 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Biện pháp buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, được Tòa án quyết định nhằm buộc người sử dụng lao động phải ứng trước một khoản tiền nhất định, để thanh toán tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động,

để họ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho mình và những người mà họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng Điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại

Điều 106 BLTTDS, theo đó Tòa án áp dụng biện pháp này « …nếu việc giải

quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu trả tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động »

Đây là BPKCTT có ý nghĩa rất quan trọng, thiết thực vì vậy, cũng giống như hai biện pháp trên, nó được áp dụng dựa trên yêu cầu của đương

sự, hoặc Tòa án tự mình áp dụng nếu xét thấy có căn cứ và cần thiết Khi áp dụng biện pháp này Tòa án phải dựa trên pháp luật để xác định tính có « căn

cứ » và tính « cần thiết » dựa trên tính « khẩn cấp » của vụ việc đang được giải quyết Ví dụ, trường hợp người lao động nếu không được thanh toán tiền

Trang 40

lương, tiền công, tiền bồi thường…kịp thời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sinh hoạt của chính bản thân người đó và gia đình, như không có tiền để chi tiêu, mua lương thực, thực phẩm, thuốc thang…những thứ thiết yếu khác phục vụ cuộc sống hàng ngày, hoặc nếu không kịp thời nhận được trợ cấp do bị tai nạn, hoặc bị bệnh nghề nghiệp thì tình trạng sức khỏe của người lao động có thểt xấu đi, bệnh tình của họ có thể bị nặng thêm, hoặc đe dọa đến tính mạng Chính vì tính khẩn cấp như vậy, nên việc áp dụng BPKCTT này sẽ đạt được hiệu quả rất quan trọng, kịp thời bảo vệ quyền lợi cho người lao động

2.1.2 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp đối với tài sản đang tranh chấp

2.1.2.1 Về cơ sở xác định điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp

Kê biên tài sản đang tranh chấp là trường hợp Tòa án tiến hành kiểm

kê, thống kê những tài sản đang tranh chấp trong vụ kiện để nắm rõ về tình trạng của những tài sản đó và buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, tẩu tán hay phá hủy tài sản đang có tranh chấp đó

Tài sản bị kê biên có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án Biện pháp này được xây dựng dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, do đó nó chỉ được áp dụng khi

có yêu cầu của đương sự

Là một biện pháp quan trọng, kê biên tài sản đang tranh chấp được quy định tại khoản 6 Điều 102 BLTTDS, điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 108 BLTTDS, theo đó biện pháp này được áp dụng nếu:

« …có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán,

hủy hoại tài sản » Theo các quy định pháp luật nêu trên, thì điều kiện áp

dụng biện pháp này phải dựa trên hai căn cứ :

Ngày đăng: 09/12/2022, 18:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật tố tụng dân sự Cộng Hòa Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự Cộng Hòa Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia HN
Năm: 1998
2. Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2002), Nxb Chính trị quốc gia HN, bản dịch tiếng Việt Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
8. Tống Quang Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh – NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh
Tác giả: Tống Quang Cường
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
10. Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật tố tụng dân sự Việt Nam, xuât bản dưới sự bảo trợ của Bộ tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Đẩu
Nhà XB: Bộ Tư pháp
Năm: 1962
11. Lê Thu Hà (2007), “Những điểm mới về biện pháp khẩn cấp tạm thời”, Tạp chí Tòa án nhân dân (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Tạp chí Tòa án nhân dân (1)
Năm: 2007
12. Nguyễn Như Hùng (2006), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời và xác minh điều kiện thi hành án” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp khẩn cấp tạm thời và xác minh điều kiện thi hành án
Tác giả: Nguyễn Như Hùng
Năm: 2006
13. Học viện tư pháp (2007), Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sự
Tác giả: Học viện tư pháp
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân Hà Nội
Năm: 2007
14. Học viện tư pháp (2010), Kỹ năng thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, Tập tài liệu dùng cho các lớp đào tạo nghiệp vụ thi hành án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
Tác giả: Học viện tư pháp
Nhà XB: Tập tài liệu dùng cho các lớp đào tạo nghiệp vụ thi hành án
Năm: 2010
15. Nguyễn Lân (2001), Từ điển từ và ngữ tiếng Việt, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2001
16. Vũ Thanh Mai (2010), “Thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: Vũ Thanh Mai
Năm: 2010
17. Phạm Duy Nghĩa (2010), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Năm: 2010
18. Nghị quyết số 02/ NQ - HĐTP ngày 27 tháng 04 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương VIII ô Cỏc biện phỏp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS ằ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 04 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương VIII các biện pháp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS
Tác giả: Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2005
19. Nguyễn Thị Hoài Phương (2010), “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án”, những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí nhà nước và pháp luật (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Phương
Nhà XB: Tạp chí nhà nước và pháp luật
Năm: 2010
20. Nguyễn Văn Pha (1997), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Pha
Năm: 1997
21. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1989
22. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
23. Quách Mạnh Quyết (2010), “Phát triển tính tranh tụng trong mô hình tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay”, Công trình nghiên cứu khoa học đạt giải khuyến khích do Bộ tư pháp tổ chức năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển tính tranh tụng trong mô hình tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay
Tác giả: Quách Mạnh Quyết
Năm: 2010
24. Nguyễn Bích Thảo (2008), “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án”. Tạp chí nhà nước và pháp luật (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án
Tác giả: Nguyễn Bích Thảo
Năm: 2008
25. TANDTC (2005), Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương 8 “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật tố tụng dân sự ngày 27/4/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương 8 “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật tố tụng dân sự ngày 27/4/2005
Tác giả: TANDTC
Năm: 2005
26. TANDTC (2009), “Một số vướng mắc của Bộ luật tố tụng dân sự cần tập trung thảo luận và đề xuất, kiến nghị, xây dựng luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc của Bộ luật tố tụng dân sự cần tập trung thảo luận và đề xuất, kiến nghị, xây dựng luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: TANDTC
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w