1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNU LS bảo vệ người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thực trạng và giải pháp 07

124 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ Người Lao Động Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng – Thực Trạng Và Giải Pháp
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Thu
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể tuy nhiên thực tế vẫn còn vướng nhiều hạn chế, bất cập và tồn tại nhiều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐẶNG PHƯỚC TÂM

BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM

ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐẶNG PHƯỚC TÂM

BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM

ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành : Luật kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Thu

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 7 1.1 Khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

và bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 7

1.1.1 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 71.1.2 Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 14

1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ người lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 17

1.2.1 Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm phát huy nhân tố con người, thể hiện tinh thần nhân đạo và đảm bảo công bằng xã hội 171.2.2 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là lực lượng có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của kinh tế - xã hội chung của toàn cầu 181.2.3 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã, đang

và sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ, rủi ro 19

1.3 Pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 20

1.3.1 Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng 201.3.2 Nội dung và biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 21

Trang 5

1.4 Lược sử pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao động đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng 26

1.4.1 Giai đoạn năm 1980 – 1994 26

1.4.2 Giai đoạn năm 1994-2006 28

1.4.3 Từ năm 2006 đến nay 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 32 2.1 Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 32

2.1.1 Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 32

2.1.2 Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam trong thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 56

2.1.3 Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam sau khi làm việc ở nước ngoài 79

2.2 Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 81

2.2.1 Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài 81

2.2.2 Biện pháp bảo vệ người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài 85

2.2.3 Biện pháp bảo vệ người lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài 87

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 89

3.1 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 89

Trang 6

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 92

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 923.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 102

KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong thời đại toàn cầu hóa, việc sử dụng và phân bố lao động theo nhu cầu thị trường đã trở thành hiện tượng tự nhiên, mang tính toàn cầu và tuân thủ quy luật kinh tế - dòng lao động sống sẽ chuyển dịch tới bất kỳ nơi nào mà

ở đó có mức thù lao cao hơn Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động Việt Nam Hiện tại, Việt Nam có khoảng 500.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ Mỗi năm người lao động gửi về nước hơn 1,6 - 2 tỷ USD [40] và họ đang ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong xã hội Vấn đề bảo vệ người lao động

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng vì đó mà được Đảng và nhà nước ta quan tâm rất nhiều

Công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể tuy nhiên thực tế vẫn còn vướng nhiều hạn chế, bất cập và tồn tại nhiều điểm nóng như tình trạng người lao động bị lừa đảo xuất khẩu lao động, bị thu phí dịch vụ, tiền môi giới quá cao so với quy định, không được giáo dục định hướng trước khi xuất khẩu hoặc giáo dục định hướng không đến nơi đến chốn, công việc, thời gian, tiền lương lao động không đúng như trong hợp đồng, tình trạng lao động không có việc làm hay tình trạng người lao động bị chủ đánh đập, chửi bới, lăng mạ, bị xâm hại tình dục… Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do hệ thống quy định pháp luật hiện hành của nước ta còn nhiều sơ hở, chưa phù hợp với thực tiễn, người lao động thiếu hiểu biết pháp luật, doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, cá nhân đưa người lao động đi làm việc nước ngoài cố tình làm trái quy định pháp

Trang 8

luật, việc quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của các cơ quan quản lý nhà nước còn lỏng lẻo, chưa nghiêm minh

Từ trước đến nay ít thấy có một tác phẩm nào nghiên cứu toàn diện vấn

đề bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bởi vậy có thể nói việc lựa chọn đề tài nghiên cứu về vấn đề này là điều rất cần thiết không chỉ nhằm giúp đỡ những người lao động Việt Nam “yếu thế”

đang làm việc nước ngoài mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, đảm bảo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

Từ những lý do đó mà tôi đã chọn đề tài: “Bảo vệ người lao động Việt

Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng- Thực trạng và giải pháp ”

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu chung về vấn đề bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chúng ta không thể không tìm hiểu tác phẩm

Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam của Khoa Luật,

ĐHQGHN Trung Tâm Nghiên Cứu Quyền Con Người & Quyền Công Dân, NXB Lao Động - Xã Hội, Hà Nội 2011 Tác phẩm tập hợp các bài viết, công trình nghiên cứu của các giảng viên Khoa Luật và một số chuyên gia bên ngoài của về vấn đề bảo vệ lao động di trú nói chung và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói riêng: TS Lê Thị Hoài Thu , “Pháp luật hiện hành về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”; Đặng Nguyên Anh, “Xuất khẩu lao động, một số vấn đề chính sách và thực tiễn”; Đặng Nguyên Anh, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Thị Bích, Đào Thế Sơn , “Nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế - xã hội của di cư quốc

tế tại Việt Nam”; GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao, “Khuân khổ pháp lý quốc tế về bảo vệ người lao động di trú”, Vũ Công Giao - Lã Khánh

Trang 9

Tùng “Bảo vệ người lao động di trú ở Khu vực Đông Nam Á”, Phạm Hồng Thái - Vũ Công Giao “Khuôn Khổ pháp lý quốc tế về bảo vệ người lao động

di trú”

Với tính chất là cơ quan chủ quản và quản lý chuyên ngành về vấn đề bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có khá nhiều công trình nghiên cứu

khoa học cũng như tổ chức nhiều hội thảo về vấn đề này: Báo cáo tình hình

cho vay đi XKLĐ tại các quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông, 2011;

Báo cáo tình hình lao động Việt Nam làm việc tại Malaysia, 2009; Hội Thảo Đối thoại chính sách về bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài, Hà Nội

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhiều tác giả đã quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như: Luận án tiến sĩ kinh tế:

“Phát triển Xuất khẩu lao động Việt Nam trong hội nhập kinh tế Quốc tế”,

2010 - Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

- Trường Đại học Kinh tế - Luật; Khoá luận tốt nghiệp: “Thực trạng và giải

pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam” , năm 2010 tác giả: Vũ Thị Vân;

Khóa luận tốt nghiệp: “Xuất khẩu lao động Việt Nam- thực trạng và triển

vọng 2010”, năm 2003 tác giả: Lê Văn Tùng, Các nghiên cứu này chủ yếu

nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam, phản ánh thực trạng quy định pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và đưa ra được rất nhiều biện pháp hoàn thiện pháp luật về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Như chúng ta đã biết thì xuất khẩu lao động là một đề tài nóng, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng có rất nhiều bài viết, bài bình luận về vấn đề này, tuy nhiên đến nay số lượng các công trình nghiên cứu toàn diện,

Trang 10

sâu sắc vấn đề bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng theo từng giai đoạn của tiến trình di cư rất ít Vì vậy việc lựa chọn

đề tài này là khá mới mẻ, vừa có giá trị lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn như một sự bổ sung cần thiết và khoa học Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn

- Mục đích:

Khái quát pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong từng giai đoạn người lao động đi làm việc ở nước ngoài để từ đó tìm ra các vướng mắc, bất cập để

đề xuất các biện pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ người lao động đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng đáp ứng các yêu cầu trong thời kỳ hội nhập

- Nhiệm vụ:

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của Luận văn là:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Sự cần thiết phải bảo vệ người lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng, pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, lược sử pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

+ Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong từng giai đoạn của tiến trình di cư, đã có những bước tiến

bộ gì và đang còn những tồn tại nào

+ Đưa ra các biện pháp hoàn thiện các quy định pháp luật và các kiến

Trang 11

nghị về việc thực hiện pháp luật bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng kết hợp những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta cũng như các quy định pháp luật về bảo

vệ người lao động nói chung và bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin Phương pháp phân tích, hệ thống được tác giả sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài để đánh giá, nhận xét các quy định pháp luật cũng như thực tiễn pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phương pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển, tiến bộ cũng như hạn chế còn tồn tại của các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc

5 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về các vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thực trạng quy định và thực hiện pháp luật bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong từng giai đoạn của quá trình đi làm việc ở nước ngoài; các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ quyền người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Cách tiếp cận của đề tài và hướng nghiên cứu của đề tài có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu lập pháp và hành pháp về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhất là trong thời kỳ hội nhập

Trang 12

- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ và nghiên cứu cho sinh viên, học sinh

- Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luật và Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI

LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

1.1 Khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, di cư lao động quốc

tế đã trở thành một trong những vấn đề lớn của thời đại Theo ước tính của các

cơ quan Liên Hợp quốc, hiện trên thế giới có gần 200 triệu người lao động di trú, chiếm khoảng 3% dân số toàn cầu, và con số này vẫn đang ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của dân số và khả năng giải quyết việc làm của mỗi quốc gia

Tình trạng di trú vì việc làm góp phần làm năng động hóa các hoạt động kinh tế của thế giới nói chung, nền kinh tế quốc gia nói riêng cũng như cho nhiều người lao động, gia đình Tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức mà các Chính phủ và người lao động di trú khắp nơi phải đối mặt

Đây là một bất công có tầm vóc toàn cầu, bởi lao động di trú là lực lượng đã

và đang có những đóng góp to lớn và không thể phủ nhận với nền kinh tế và

sự thịnh vượng xã hội của cả nước tiếp nhận và nước gốc [22, tr3] Để có cái nhìn khái quát nhất về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trước hết chúng ta sẽ đi tìm hiểu thế nào là người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cách phân loại và đặc điểm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ra sao

1.1.1 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Có nhiều thuật ngữ để chỉ những người lao động ra nước ngoài làm việc như “người lao động di trú”, “lao động di cư”, “người di trú vì việc làm”,

“người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” và theo thời gian,

Trang 14

các quan điểm của các tổ chức quốc tế, của các quốc gia về người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng có nhiều thay đổi, bổ sung Mỗi một quốc gia khác nhau thì việc công nhận một người là người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng khác nhau

Quan niệm về người lao động đi làm việc ở nước ngoài lần đầu tiên được quy định tại Điều 11 Công ước 97 của ILO năm 1949, khi đó ILO đã sử

dụng thuật ngữ người di trú vì việc làm để hàm chỉ nhóm người này Theo đó,

người di trú vì việc làm được hiểu là một người di cư từ một quốc gia này tới

quốc gia khác để tìm kiếm việc làm bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như là một người di trú vì việc làm Khái niệm này không bao hàm: những lao động qua lại các vùng biên giới, những nghệ sĩ và người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn và các thủy thủ Với cách giải thích đó, ILO quan niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài khá rộng, không đặt ra vấn đề người di trú có quốc tịch hay không, sự di chuyển có cần xuất phát từ nước gốc hay không, việc sinh sống và làm việc ở nước ngoài là có thời hạn hay không có thời hạn

Chính vì quan niệm một cách khái quát và chung chung như vậy đã khiến cho việc quản lý cũng như bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài thời kỳ này gặp khó khăn hơn và trên thực thế khó được thực hiện vì vấn đề quốc tịch không được đặt ra Bởi quốc tịch là trạng thái pháp lý thể hiện mối quan hệ giữa công dân một nhà nước xác định, quốc tịch cho phép người lao động đi làm việc nước ngoài quyền được bảo vệ bởi nhà nước nơi họ có quốc tịch khi tham gia quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài

Kế thừa và phát huy quan niệm của ILO, năm 1990, Liên Hợp quốc đã

cụ thể hóa khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (Viết tắt: MWC) Liên Hợp quốc gọi những người lao động đi làm việc nước

Trang 15

ngoài là “lao động di trú”, “lao động di trú” được định nghĩa là một người

đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người

đó không phải là công dân (Khoản 1 Điều 2 MWC)

Khái niệm này khẳng định đi làm việc ở nước ngoài là cả một quá trình

từ chuẩn bị lên đường, trên đường sang nước ngoài, trong thời gian làm việc ở nước ngoài và cả sau thời làm việc ở nước ngoài Người lao động đi làm việc

ở nước ngoài không chỉ có những người đang làm việc ở nước ngoài mà còn bao gồm cả những người chuẩn bị, trên đường sang nước ngoài, và những người đã hồi hương, đây cũng chính là những đối tượng cần được bảo vệ

Quan niệm này đã giúp các tổ chức quốc tế, các quốc gia liên quan dễ dàng đề

ra các biện pháp bảo vệ người lao động thích hợp cho giai đoạn

Khái niệm của Liên Hợp quốc đã đề cập đến vấn đề quốc tịch của người lao động Người không quốc tịch, không chịu sự ràng buộc nghĩa vụ pháp lý

và được hưởng sự bảo vệ của một quốc gia thì không được coi là người lao động đi làm việc nước ngoài, đi làm việc nước ngoài ở đây được hiểu là đi làm việc tại nước mà người lao động không phải là công dân

Liên Hợp quốc còn quan niệm mục đích di cư sang nước khác của người lao động phải là vì tìm kiếm việc làm, hưởng lương ở một quốc gia khác trong một khoảng thời gian nhất định Quan điểm mục đích tìm kiếm việc làm và hưởng lương tại quốc gia khác là để loại trừ những đối tượng di

cư ra nước ngoài vì những mục đích khác như học tập, nghiên cứu, du lịch, tránh nạn, làm từ thiện, từ đó đưa ra biện pháp bảo vệ phù hợp nhất với nhóm đối tượng này Việc xác định thời hạn làm việc của người lao động ở nước ngoài cũng là nhằm để loại trừ những đối tượng đi làm việc và định cư luôn ở nước ngoài

Dựa trên tình trạng pháp lý của việc cư trú và lao động, Liên Hợp quốc

đã chia người lao động đi làm việc ở nước ngoài thành hai loại là: người lao

Trang 16

động di trú có giấy tờ hợp pháp (hay lao động di trú hợp pháp) và người lao động di trú không có giấy tờ (hay lao động di trú bất hợp pháp), trong đó người lao động di trú hợp pháp là những người được một nước cho phép vào,

ở lại và được làm một công việc được trả lương tại quốc gia đó, còn người lao động di trú bất hợp pháp thì không được trao các quyền tương tự Để làm rõ

khái niệm người lao động di trú, Liên Hợp quốc còn liệt kê và định nghĩa

những đối tượng được coi là lao động di trú và những đối tượng không được coi là lao động di trú dựa trên tính chất nghề nghiệp Theo đó, những đối tượng được coi là lao động di trú (Khoản 2 Điều 2 MWC) gồm 8 dạng: Nhân công vùng biên, Nhân công theo mùa, Người đi biển (bao gồm cả ngư dân), Nhân công làm việc tại một công trình trên biển, Nhân công lưu động, Nhân công theo dự án, Nhân công lao động chuyên dụng, Nhân công tự chủ

Những đối tượng không được coi là lao động di trú (Điều 3 MWC), bao gồm 6 dạng chính: Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và

tổ chức quốc tế, hoặc những người được cử hoặc được tuyển dụng bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính thức mà việc tuyển dụng người đó và địa vị của người đó được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước quốc tế cụ thể; Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác mà việc tiếp nhận và địa vị của người đó được điều chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này, người đó không được coi là người lao động di trú; Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xứ để làm việc như những nhà đầu tư; Những người

tị nạn và không có quốc tịch; Sinh viên và học viên; Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình trên biển không được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng trả lương ở quốc gia nơi có việc làm

Trang 17

Nếu so sánh với khái niệm trước đây về người lao động đi làm việc nước ngoài thì khái niệm được nêu trong Công ước của Liên Hợp quốc mang tính chất cụ thể hơn và giới hạn phạm vi các đối tượng được coi là người lao động đi làm việc nước ngoài hơn

Theo pháp luật Việt Nam, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng)

Quy định trên khẳng định người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải

là người có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, nghĩa là nếu một công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài và sau đó sang quốc gia thứ ba khác

để làm việc thì sẽ không được coi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Điều kiện “cư trú tại Việt Nam” cho thấy việc di cư ra nước ngoài của người lao động phải xuất phát từ quốc gia mà người lao động mang quốc tịch Đây là cách định nghĩa theo quan điểm của một quốc gia gửi lao động, vì thế so với khái niệm mà Liên Hợp quốc đưa ra thì những đối tượng được coi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam có phạm vi hẹp hơn, vì Liên Hợp quốc chỉ quy định “tại quốc gia mà người đó không phải là công dân” mà không quan niệm người đó trước khi làm việc ở nước ngoài họ cư trú ở đâu một cách bao quát dưới góc độ nhìn nhận của cả quốc gia gửi lao động và quốc gia tiếp nhận lao động

Việc di cư ra ngước ngoài của người lao động Việt Nam phải hợp pháp, phải được sự công nhận của Việt Nam và quốc gia tiếp nhận So với quan điểm của Liên Hợp quốc thì nhóm đối tượng này thuộc dạng “lao động di trú

có giấy tờ” (lao động di trú hợp pháp) Quan niệm vậy nhằm quản lý tốt hơn

Trang 18

luồng di cư lao động của quốc gia mình nhưng lại bỏ sót và chưa đề cao trách nhiệm quốc gia trong việc bảo vệ công dân thuộc nhóm lao động di trú bất hợp pháp Như vậy, xét về nội hàm, khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của Việt Nam hẹp hơn khái niệm “người lao động

di trú” mà Liên Hợp quốc đã nêu

Khác với cách phân loại người lao động đi làm việc ở nước ngoài của Liên Hợp quốc, các nhà luật gia Việt Nam đã phân loại người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo 4 hình thức hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ký với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ký với doanh nghiệp trúng thầu,

nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động

đi làm việc ở nước ngoài; Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ký với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân

Việc phân loại người lao động đi làm việc ở nước ngoài dựa vào hình thức và đối tượng ký kết hợp đồng trên chủ yếu nhằm mục đích quản lý các đối tượng được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, sàng lọc tính hợp pháp của hợp đồng mà người lao động đã ký để có cơ chế bảo vệ họ cho phù hợp Tuy nhiên, vì quan niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là “lao động di trú hợp pháp” nên việc phân loại trên không thể hiện được rõ sự khác nhau về bản chất của từng nhóm người lao động đi làm việc ở nước ngoài đó, quyền và lợi ích họ được hưởng là như nhau, cơ chế bảo vệ họ là giống nhau

Nhằm tiến gần hơn với quan niệm Liên Hợp quốc và đạt được mục đích

Trang 19

quản lý và bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chúng ta có thể định nghĩa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp

đồng như sau: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau

đây gọi tắt là người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là một người đã, đang

và sẽ làm một công việc trong một khoảng thời gian nhất định có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trước hết phải đáp ứng các điều kiện chung của một người lao động khi tham gia quan hệ pháp luật lao động, đó là có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động Năng lực pháp luật của người lao động được đồng thời cả quốc gia gửi lao động và quốc gia tiếp nhận lao động ghi nhận có quyền xuất cảnh, nhập cảnh, quyền được làm việc ở nước ngoài, quyền được hưởng các lợi ích

và thực hiện các nghĩa vụ trong quan hệ lao động, Năng lực hành vi lao động là khả năng bằng chính hành vi của bản thân, người lao động tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động ở nước ngoài, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ để được hưởng quyền lợi Năng lực hành vi lao động được thể hiện trên hai yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực

Thể lực chính là sức khỏe của người lao động để có thể thực hiện được một công việc nhất định ở nước ngoài theo yêu cầu của chủ sử dụng Thông thường các quốc gia sẽ không tiếp nhận những lao động mắc các bệnh truyền nhiễm như HIV, Viêm gan A, B, C, bệnh răng miệng, và các chủ sử dụng nước ngoài ưa chọn những lao động có ngoại hình cao ráo, gương mặt sáng sủa, tác phong nhanh nhẹn, chịu khó, có sức khỏe tốt, bền bỉ, trong khoảng

độ tuổi từ 18 đến 45 Trí lực là khả năng nhận thức của người lao động đối với hành vi lao động mà họ thực hiện và với mục đích công việc mà họ làm, đó là khả năng lựa chọn công việc phù hợp, khả năng lựa chọn thị trường lao động muốn tham gia, khả năng tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình ở quốc

Trang 20

gia tiếp nhận, Muốn có năng lực hành vi lao động, người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải trải qua quá trình phát triển cơ thể và có quá trình tích lũy kiến thức ngoại ngữ, trình độ tay nghề, trình độ hiểu biết về đất nước, con người và môi trường lao động của quốc gia mà mình muốn đến làm việc

Ngoài những điều kiện chung nêu trên, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn có những điểm đặc thù khác, đó là:

- Tính chất quốc tế của việc làm và lao động

Khi đi làm việc nước ngoài, người lao động “bán” sức lao động của mình cho chủ sử dụng nước ngoài theo hợp đồng lao động đã ký kết Nên quan hệ mua - bán sức lao động ở đây là quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, ngoài sự điều chỉnh của pháp luật nước gửi lao động thì người lao động còn chịu sự chi phối bởi pháp luật, các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội và phong tục tập quán của nước sở tại và các điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương mà quốc gia tiếp nhận lao động và quốc gia gửi lao động tham gia

- Đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

Công việc mà người lao động làm ở nước ngoài là công việc có thời hạn, thời hạn làm việc được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng Thời hạn làm việc ở nước ngoài cũng chính là thời hạn cư trú hợp pháp của người lao động được quốc gia tiếp nhận lao động công nhận và bảo vệ Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt với những người sống thường trú và làm việc tại quốc gia

họ không mang quốc tịch để làm việc, những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tổ chức quốc tế, … Vì vậy, cam kết về nước đúng thời hạn

là một trong những điều khoản quan trọng được đặc biệt lưu ý trong hợp đồng nhằm tránh tình trạng hết hạn hợp đồng mà người lao động không về nước, ở lại cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài

1.1.2 Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Theo đánh giá của các chuyên gia, người lao động đi làm việc ở nước

Trang 21

ngoài thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị bóc lột và bị xâm phạm nhất, công việc mà họ làm là “ở nước ngoài” nên nhiều khi họ bị cả quốc gia mình và cả quốc gia tiếp nhận “lãng quên”, “từ chối”, vì vậy bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không chỉ là nhiệm vụ của riêng một quốc gia, tổ chức, cá nhân nào cả mà đó còn là hành động tích cực của cả cộng đồng quốc tế Các quốc gia gửi lao động và quốc gia tiếp nhận lao động luôn là những chủ thể tiên phong, có trách nhiệm chủ yếu nhất trong việc bảo

vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, vì tính chất phức tạp của việc di trú quốc tế nên các chủ thể khác ít liên quan hoặc không liên quan như: quốc gia trung chuyển mà người lao động đi qua để đến quốc gia làm việc hoặc để về nước, quốc gia khác cũng đang có lao động làm việc tại quốc gia tiếp nhận lao động, cá nhân, cộng đồng quốc tế, cũng là những chủ thể

có vai trò quan trọng trong việc gây sức ép đối với các quốc gia liên quan phải thực hiện các biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài không phải chỉ khi nào người lao động bị xâm phạm, bị đối xử thậm tệ thì các quốc gia, cơ quan chức năng mới lên tiếng mà ngay trong cả điều kiện làm việc bình thường, ổn định

họ cũng cần được bảo vệ, bảo vệ để duy trì trạng thái bình thường, ổn định đó,

để vừa phòng ngừa những nguy cơ có thể xảy ra, vừa phát huy hơn nữa những nhân tố tích cực, thuận lợi hơn cho người lao động nhằm mục đích đẩy mạnh hoạt động hợp tác lao động quốc tế lành mạnh nói riêng và quá trình toàn cầu hóa nói chung Bởi vậy, có thể khái niệm bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là việc các quốc gia, tổ chức, cá nhân (trước hết là các quốc gia, tổ chức, cá nhân liên quan) thực hiện các biện pháp cụ thể vừa để duy trì thực hiện, phát huy những quyền và lợi ích chính đáng vừa hạn chế những bất lợi, rủi ro và nguy

Trang 22

cơ khác cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Tương tự như việc bảo vệ người lao động nói chung, bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải thực hiện một cách toàn diện, trên mọi phương diện: việc làm, thu nhập, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự, cuộc sống, Tuy nhiên, do xuất phát từ những nét đặc thù của nhóm đối tượng này nên việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn phải đáp ứng những yêu cầu riêng, như:

- Việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải được thực hiện trong suốt quá trình di cư lao động

Bất kể giai đoạn nào của tiến trình di cư, quyền lợi của người lao động

đều có thể bị xâm phạm Trước khi đi làm việc ở nước ngoài, họ có thể bị kẻ xấu lừa đảo, bị thu phí cao, bị ép buộc ra nước ngoài làm việc, ; trên đường

đi sang nước ngoài, họ có thể gặp tai nạn, rủi ro, bị bắt cóc, bỏ rơi giữa đường ; khi làm việc ở nước ngoài họ bị chủ sử dụng lao động ngược đãi, vi phạm hợp đồng lao động, khi hồi hương thì gặp khó khăn trong cuộc sống, bị thất nghiệp, bị chính quyền và xã hội bỏ rơi, Mỗi giai đoạn di cư, người lao động phải đối mặt với những nguy cơ và rủi ro khác nhau vậy nên mỗi một giai đoạn của tiến trình di cư có những biện pháp bảo vệ khác nhau và trách nhiệm bảo vệ người lao động của các chủ thể khác nhau

- Việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải dựa trên cơ sở hợp tác, thiện chí của quốc gia gửi lao động, quốc gia tiếp nhận lao động và hỗ trợ của cộng đồng, tổ chức quốc tế

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là một bên trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài, quyền tài phán đối với quan hệ lao động này nhiều trường hợp vượt ra ngoài phạm vi của quốc gia gửi lao động nên việc bảo vệ họ không chỉ phụ thuộc riêng rẽ bất cứ một quốc gia nào

mà còn phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ hợp tác giữa quốc gia đó với

Trang 23

quốc gia tiếp nhận lao động, vào cộng đồng quốc tế

Đây có thể nói là điểm đặc thù nhất của việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài so với việc bảo vệ người lao động làm việc trong nước

Người lao động làm việc và hưởng lương trong nước, họ nhận được sự bảo vệ một cách trực tiếp và nhanh chóng bởi nhà nước của mình Nhà nước có thể

dễ dàng sử dụng tối đa quyền lực của mình để bảo vệ người lao động hễ mỗi khi quyền lợi chính đáng của họ bị xâm phạm, đồng thời, việc phản ánh thông tin bị xâm phạm của người lao động đến các cơ quan có thẩm quyền trong nước cũng sẽ diễn ra nhanh chóng hơn so với một người lao động đang làm việc ở nước ngoài Đa phần quốc gia gửi lao động chỉ thực hiện tốt công tác bảo vệ người lao động của mình trong giai đoạn đầu chuẩn bị ra nước ngoài làm việc và giai đoạn hồi hương còn giai đoạn người lao động đang làm việc ở nước ngoài bị bỏ ngỏ, hoặc sự nỗ lực bảo vệ người lao động gặp thất bại do vấn đề chủ quyền quốc gia Thế nên có thể nói việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài khó khăn, phức tạp hơn nhiều so với việc bảo vệ các nhóm đối tượng người lao động khác và cần sự hỗ trợ, hợp tác tích cực của cả

Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không nằm ngoài mục tiêu bảo vệ con người, phát huy nhân quyền và đảm bảo công bằng xã hội Trong quan hệ lao động, người lao động nói chung luôn đứng ở

vị trí yếu thế hơn, vì đồng lương vì cuộc sống người lao động khó có điều kiện thỏa thuận bình đẳng thực sự với chủ sử dụng lao động mà buộc phải chấp

Trang 24

nhận những điều kiện lao động, môi trường làm việc không thuận lợi Chính

sự lệ thuộc đó mà người lao động bị lạm dụng, bị xâm phạm nghiêm trọng

Bảo vệ quyền được sống, được lao động và được hưởng thụ lành mạnh vừa là nhiệm vụ và cũng chính là mục tiêu tối thượng của mọi xã hội để thu hẹp bớt

sự cách biệt này đến một mức có thể chấp nhận được Thấm nhuần tư tưởng này các quốc gia trên thế giới, các tổ chức quốc tế đã pháp điển hóa việc bảo

vệ người lao động thành nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế

1.2.2 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là lực lượng

có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của kinh tế - xã hội chung của toàn cầu

Lao động di cư đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế

- xã hội chung của toàn thế giới, thể hiện trực tiếp và rõ nhất đối với nền kinh

tế - xã hội của nước gửi lao động và nước tiếp nhận lao động Cụ thể là:

* Đối với quốc gia gửi lao động:

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có những đóng góp sau:

- Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội nhờ lượng kiều hối chuyển về nước hàng năm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì hầu hết người lao động khi trở về nước, mang theo tài chính và kỹ năng thu thập được khi ở nước ngoài thường có xu hướng chuyển từ lĩnh vực nông nghiệp sang sản xuất thương mại

- Giải quyết nạn thất nghiệp cho hàng triệu người lao động và tạo việc làm cho cả các doanh nghiệp, trung tâm giới thiệu việc làm, các trường đào tạo khi tham gia thực hiện chương trình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Từ đó góp phần giải quyết ổn thỏa các hệ lụy của vấn nạn thất nghiệp (mất trật tự xã hội, an ninh - quốc phòng)

- Góp phần phát triển nguồn nhân lực quốc gia thông qua hoạt động đào

Trang 25

tạo, đào tạo lại và quá trình tích lũy kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật của các quốc gia tiếp nhận lao động Họ chính là lực lượng chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật nhanh nhất và hiệu quả nhất của quốc gia gửi lao động

- Thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại (tài chính, tín dụng, xuất khẩu hàng hóa, ), và nâng cao năng lực cạnh tranh sức lao động trên trường quốc

tế Họ còn là cầu nối giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, nâng cao vị trí chính trị và uy tín của quốc gia gửi lao động trên trường quốc tế

* Đối với quốc gia tiếp nhận lao động:

- Giải quyết tình trạng khan hiếm, thiếu hụt lao động, giảm căng thẳng cung - cầu trên thị trường lao động, nhất là trong những công việc mà người lao động bản xứ không muốn làm như công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại, công việc có thu nhập thấp,

- Tiết kiệm các chi phí đầu tư ban đầu (nuôi dưỡng, đào tạo công dân nước mình đến độ tuổi lao động) cho người lao động

- Góp phần phát triển kinh tế và tích lũy xã hội thông qua các khoản đóng góp của lao động nước ngoài như: thuế thu nhập, phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại phí khác

Vậy bảo vệ người lao động là rất cần thiết để đảm bảo công bằng đối với những đóng góp to lớn của người lao động đi làm việc ở nước ngoài nhằm hướng đến một xã hội công bằng và dân chủ thực sự

1.2.3 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã, đang và

sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ, rủi ro

Đi làm việc ở nước ngoài có nghĩa là người lao động phải sống xa gia đình, xa quê hương, tổ quốc, xa những người hướng dẫn, hỗ trợ và bảo vệ mình, chính vì vậy họ rất dễ bị bóc lột, bị phân biệt đối xử và xâm phạm các quyền [29, tr13] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những nguy cơ phổ biến mà

Trang 26

người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải đối mặt, đó là:

- Trước khi đi làm việc ở nước ngoài họ có thể: Bị lừa đảo biến thành nạn nhân của những kẻ buôn người; bị các nhà tuyển dụng lao động trong nước hạch sách, đòi hỏi, thu phí cao,

- Trong thời gian ở nước ngoài người lao động có thể không được trả lương theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng; Phải sinh sống làm việc trong những hoàn cảnh thiếu an toàn và vệ sinh; Bị hành hạ và lạm dụng, kể cả lạm dụng tình dục, đặc biệt đối với lao động là nữ giới; Tử vong, tai nạn lao động;

Gặp thiên tai, chiến tranh, bạo loạn, ở quốc gia tiếp nhận, quốc gia trung chuyển; Bị thu giữ trái phép Hộ chiếu và các giấy tờ tùy thân khác; bị các cơ

sở tuyển dụng và các cơ quan nhà nước mình bỏ rơi; bị phân biệt đối xử nặng

nề so với lao động bản địa, cả về tiền lương, tiền công, điều kiện lao động, bảo hiểm và trợ cấp xã hội, [22, tr14]

- Sau thời gian làm việc ở nước ngoài, người lao động có thể bị tai nạn,

tử vong, bắt cót trên đường hồi hương hay bị chính quyền địa phương bỏ rơi, thất nghiệp, nợ nần

Ngoài ra, hạn chế về ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa cũng là rào cản khiến lao động di cư chịu thêm nhiều thiệt thòi Nghịch lý này càng ngày càng diễn ra phổ biến đòi hỏi các quốc gia phải lên tiếng và hành động kịp thời để giảm thiểu bớt những rủi ro, nguy cơ mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải đối mặt

1.3 Pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

1.3.1 Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Cùng với mục tiêu di cư lao động an toàn, hệ thống pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế đang ngày càng thể hiện vai trò tối ưu trong việc

Trang 27

bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Cụ thể:

Pháp luật là phương tiện thể hiện đường lối, chính sách của mỗi quốc gia trong vấn đề bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài Không có pháp luật thì mục tiêu bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài chỉ tồn tại dưới dạng ý niệm, quan niệm, tư tưởng và việc thực thi nó trên thực tế sẽ không triệt để, hiệu quả, việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài

có thể được thực hiện tùy ý thích theo sự đánh giá, nhận thức chủ quan của mỗi chủ thể

Trong công tác bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, pháp luật được đánh giá là công cụ quản lý nhà nước không thể thiếu, quan trọng và hữu hiệu nhất Muốn bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhà nước phải dựa trên căn cứ pháp luật và theo trình tự, thủ tục luật định, ngược lại người lao động đi làm việc ở nước ngoài muốn đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình cũng phải tuân thủ quy định pháp luật

Pháp luật thể chế hóa và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng một cách rõ ràng nhất, pháp luật yêu cầu các chủ thể phải tôn trọng các quyền và lợi ích đó của người lao động

Ngoài pháp luật ra thì còn có các công cụ quản lý xã hội khác như: đạo đức, tập quán, quy định của các tổ chức xã hội Tuy nhiên do tính phổ biến, tính bắt buộc thực hiện không cao, và tính được bảo đảm thực hiện trên thực tế

ở mức độ thấp của các công cụ này nên pháp luật vẫn luôn giữ vai trò tối ưu và không thể thay thế trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài

1.3.2 Nội dung và biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Để có cơ sở vững chắc trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý vững chắc thông qua việc

Trang 28

ban hành pháp luật quốc gia, công ước quốc tế, các hiệp định song phương

Văn kiện đầu tiên về lĩnh vực này là Công ước di trú vì việc làm của ILO, được thông qua ngày 08/06/1939, sau này được sửa đổi bằng Công ước

về lao động di trú (Công ước số 97 năm 1949) Công ước số 97 năm 1949 yêu

cầu các quốc gia thành viên phải đối xử với những người lao động di trú một cách bình đẳng như những người lao động là công dân của nước mình Đến năm 1975, ILO thông qua Công ước số 143 về người di trú trong môi trường

bị lạm dụng và việc thúc đẩy dự bình đẳng về cơ hội trong đối xử với người lao động di trú So với Công ước 97, Công ước 143 tiến thêm một bước nữa trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài là yêu cầu các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo vệ tất cả các quyền con người của người lao động di trú [19, tr24] Ngoài hai điều ước kể trên, ILO cũng đã thông qua nhiều văn kiện khác có liên quan đến việc bảo vệ người lao động đi

làm việc ở nước ngoài như: Khuyến nghị về người lao động di trú (Khuyến nghị 151 năm 1975); Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc (Công ước số 29, năm 1930), Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng bức (Công

ước số 105, năm 1957),

Bên cạnh ILO nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đã thông qua những văn kiện pháp lý điều chỉnh vấn đề bảo vệ lao động đi làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là Liên hợp quốc Văn kiện quốc tế quan trọng nhất của Liên Hợp quốc phải kể đến là Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ngày 18/12/1990) Đây là điều ước quốc tế chứa đựng các quy định về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài đầy đủ nhất vệ mặt đối tượng, toàn diện và chi tiết về mặt nội dung và biện pháp bảo

vệ Bởi vậy việc phân tích các nội dung cần bảo vệ và biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới đây cũng xuất phát từ các quy định của Công ước

Trang 29

1.1.1.1 Nội dung bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình tập trung ở các nội dung sau:

- Nội dung bảo vệ người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Tuy Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình không chia rành mạch các giai đoạn bảo vệ người lao động

đi làm việc ở nước ngoài song các quy định trong Công ước luôn phản ánh được quan điểm bảo vệ người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài với trách nhiệm trước tiên và chủ yếu của quốc gia gửi lao động Theo đó người lao động được tự do rời khỏi quốc gia xuất xứ của họ ngoại trừ những hạn chế được quy định theo pháp luật quốc gia xuất xứ và Công ước, Quốc gia gửi lao động cần bảo đảm việc thông báo đầy đủ về mọi điều kiện liên quan đến việc

cư trú và các công việc mà người lao động phải làm, cung cấp thông tin và sự

hỗ trợ thích hợp cho người lao động liên quan đến những giấy phép, thủ tục và dàn xếp cần thiết cho việc rời khỏi, đi đến, lưu lại, các công việc có hưởng lương, xuất cảnh và hồi hương, cũng như về các điều kiện làm việc và cuộc sống ở quốc gia nơi có việc làm và về phong tục tập quán, tiền tệ, thuế và các quy định pháp luật liên quan Các quốc gia liên quan phải phối hợp với nhau ngăn chặn và loại trừ việc di chuyển và tuyển dụng người lao động di trú trong tình trạng bất hợp pháp một cách bất hợp pháp hoặc bí mật

Như vậy theo quan điểm của Liên Hợp quốc dù là lao động di trú bất hợp pháp hay hợp pháp, họ cũng cần được được bảo vệ, nhưng ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình di cư, các quốc gia có liên quan cần phải hướng quá trình di cư ra nước ngoài vì việc làm của công dân là hợp pháp, có như vậy mới hạn chế được ở mức thấp nhất những rủi ro, khó khăn mà người lao động

Trang 30

có nguy cơ phải hứng chịu khi đi làm việc ở nước ngoài Công ước quy định theo hướng mở tùy thuộc vào thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia mà các nội dung bảo vệ và biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài đạt hiệu quả cao nhất

- Nội dung bảo vệ người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài

Đây là một trong những nội dung quan trọng được Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình chú trọng bảo vệ với nội dung quy định chiếm đa phần hơn các nội dung bảo vệ khác

Công ước quốc tế bảo vệ người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài bằng cách quy định liệt kê các quyền mà họ được hưởng khi đi làm việc

ở nước ngoài và trách nhiệm bảo vệ của các quốc gia thành viên có liên quan

Trong thời gian làm việc ở nước ngoài, Công ước bảo vệ trước tiên là tất cả các vấn đề liên quan đến quyền con người cơ bản mà mọi người lao động, bất

kể là hợp pháp hay bất hợp pháp, đó là: Vấn đề bất khả xâm phạm đến thân thể, tính mạng, danh dự nhân phẩm khi làm việc ở nước ngoài, vấn đề sở hữu tài sản, bình đẳng với công dân quốc gia sở tại (từ Điều 8-32 MWC) sau đến là bảo vệ việc làm, thu nhập và các quyền đặc thù dành cho lao động di trú hợp pháp (từ Điều 36-56 MWC) Quy định như vậy là nhằm mục đích bảo đảm cho mọi người lao động đi làm việc ở nước ngoài, kể cả lao động không

có giấy tờ, trong mọi trường hợp đều không bị đối xử như những kẻ phạm tội,

và phải được tôn trọng như những con người

Công ước nhấn mạnh việc bảo vệ người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài không chỉ thuộc về quốc gia gửi lao động mà còn cần đến những tác động tích cực từ phía quốc gia tiếp nhận lao động và cộng đồng quốc tế Việc bảo vệ người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài cho chúng ta thấy quy định của Công ước mang tính thực tế rất cao, không chỉ

ở chỗ thừa nhận và tính đến sự đa dạng về nguồn gốc và vị thế của người lao

Trang 31

động đi làm việc ở nước ngoài mà còn chú trọng đến các yếu tố mang tính chất đặng thù mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài thường gặp khó khăn bao gồm: các khó khăn liên quan đến giấy tờ tùy thân, về tiếp cận với hệ thống tư pháp, về các dịch vụ xã hội cần thiết, Chỉ khi các quyền và lợi ích

đó được bảo vệ thì người lao động mới có thể hoàn thành tốt các công việc và bảo đảm được nguồn thu nhập của mình

- Nội dung bảo vệ người lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài

Bảo vệ người lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài cũng là một trong những nội dung quan trọng mà Công ước quốc tế không hề bỏ qua Bảo

vệ người lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài được Công ước chú trọng ở hai nội dung, một là đảm bảo việc hồi hương của người lao động một cách trật tự, an toàn dù họ là lao động hợp pháp hay bất hợp pháp, trách nhiệm bảo vệ này chủ yếu thuộc về quốc gia tiếp nhận lao động, quốc gia quá cảnh;

hai là đảm bảo việc tái hòa nhập với cuộc sống hiện tại và nhanh chóng có việc làm mới cho người lao động, nhiệm vụ này này luôn thuộc về quốc gia xuất xứ [Điều 67 MWC]

1.1.1.2 Các biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Từ các nội dung cần bảo vệ, Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình cũng quy định các biện pháp bảo

vệ tương ứng với từng giai đoạn mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài tham gia, cụ thể:

- Các biện pháp bảo vệ người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài

+ Cung cấp thông tin liên quan đến các vấn đề di trú và nhập cư cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đầy đủ, khách quan, chính xác và kịp thời

+ Giới hạn và giám sát hoạt động các thành phần chủ thể tham gia các

Trang 32

hoạt động tuyển dụng, giới thiệu, bố trí người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

+ Triển khai các chương trình hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài

+ Các quốc gia có liên quan tích cực tham gia ký kết các điều ước quốc tế

và hiệp định song phương về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Các biện pháp bảo vệ người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài

+ Áp dụng chế độ đối xử quốc gia và xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

+ Giám sát việc việc sử dụng người lao động di trú của chủ sử dụng lao động

+ Ngăn chặn và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ

+ Giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền lợi của người lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Các biện pháp bảo vệ người lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài

+ Tạo mọi điều kiện để bất cứ một lao động di trú nào trong hoàn cảnh nào cũng được quyền hồi hương có trật tự và an toàn

+ Thúc đẩy các chương trình tái hòa nhập xã hội, tìm kiếm việc sau khi người lao động về nước

1.4 Lược sử pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

1.4.1 Giai đoạn năm 1980 – 1994

Việt Nam bắt đầu đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài từ năm

1980 Trong giai đoạn này hoạt động hợp tác lao động thực hiện theo cơ chế tập trung bao cấp và chủ yếu với một số nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Trung Đông và Châu Phi Cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc bảo vệ người lao động Việt

Trang 33

Nam đi làm việc ở nước ngoài trong thời kỳ này là Quyết định 46/ CP ngày 11/02/1980 quy định về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn tại các nước XHCN, Nghị quyết số 362/CP ngày 29/11/1980 về việc hợp tác sử dụng lao động với các nước XHCN

Đến năm 1986, đường lối đối mới toàn diện đất nước được mở ra trong

đó có hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả tiềm năng lao động xã hội, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/06/1988 chỉ thị các ngành, các cấp thực hiện tốt chủ trương mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia với nước ngoài

Chỉ thị cho phép thành lập các tổ chức kinh tế xuất khẩu lao động và chuyên gia Đây có thể nói là mốc đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, đến năm 1989 nhiều biến động chính trị lớn xảy ra tại các nước Đông Âu và khủng hoảng kinh tế, chính trị tại nhiều nước châu Phi dẫn đến phần lớn các nước này không còn nhu cầu nhận lao động Việt Nam, nhiều công nhân Việt Nam tuy chưa hết hợp đồng nhưng vẫn phải trở về nước

Bước sang năm 1991, chủ trương và chính sách đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài đã được đổi mới một cách căn bản so với thời kỳ hợp tác lao động Ngày 9/11/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 370/HĐBT về việc ban hành Quy chế đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong đó quy định đổi mới phương thức và mục tiêu đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, coi hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hoạt động kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định cụ thể quyền lợi của người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, các điều kiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của tổ chức kinh tế cũng như

Trang 34

trách nhiệm của các tổ chức kinh tế, bộ, ngành, các cấp trong việc chăm lo và bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài từ việc tìm kiếm thị trường, lựa chọn hình thức đưa người lao động đi làm việc phù hợp với yêu cầu công việc, bảo đảm thực hiện các điều khoản hợp đồng như đã cam kết và thỏa thuận với người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài, đến trách nhiệm đưa người lao động về nước và giải quyết chính sách, chế độ cho người lao động theo quy định (Điều 6, 8, 9, 12, 13, 14 Nghị định số 370/HĐBT ngày 9/11/1991 về việc ban hành Quy chế đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài)

Những quy định về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này bước đầu cũng thể hiện được sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước ta đối với nhóm đối tượng lao động này Tuy nhiên những quy định đó còn hết sức chung chung và chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trên thực tế chưa được áp dụng thường xuyên, hiệu quả bảo vệ chưa cao, nhiều người lao động bị xâm hại quyền lợi nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền không nắm bắt được tình hình hoặc không bảo vệ được tạo nên tâm lý lo sợ, e ngại khi đi làm việc ở nước ngoài của người lao động

1.4.2 Giai đoạn năm 1994-2006

Nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế pháp luật giai đoạn trước, ngày 23/06/1994, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật lao động, đây là văn bản đầu tiên luật hóa hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Đến năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/1999/NĐ-CP quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Nghị định đã cụ thể hóa đường lối, chủ tương chính sách bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời

kỳ mới với việc giới hạn các đối tượng được phép đi làm việc ở nước ngoài,

Trang 35

thủ tục cấp phép hoạt động chuyên doanh và đăng ký hợp đồng đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, Trên cơ sở đó, nhiều văn bản pháp luật bảo vệ người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được ban hành để hướng dẫn các vấn đề: cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài, phí môi giới đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động,

Các văn bản pháp luật đó kế thừa, cụ thể hóa và khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong các quy định pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài ở giai đoạn trước ở các khía cạnh: giới hạn và quy định cụ thể các “tổ chức kinh tế” được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bổ sung thêm nhiều quyền của người lao động đi làm việc ở nước ngoài, triển khai nhiều chương trình hỗ trợ người lao động xuất khẩu (hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ pháp lý, thủ tục xuất nhập cảnh ), giới hạn các đòi hỏi của doanh nghiệp đối với người lao động, xử lý vi phạm quyền lợi người lao động, Với những hướng dẫn cụ thể đó công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trên thực tế đạt nhiều hiệu quả hơn giai đoạn trước, ngày càng có nhiều người lao động Việt Nam có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài hơn, họ có quyền lựa chọn những thị trường lao động, hình thức đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh bản thân, tin tưởng vào sự bảo

hộ của nhà nước, mạnh dạn đi xuất khẩu lao động để tìm kiếm việc làm và thực hiện ước mơ thoát nghèo, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận lao động từ đó cũng ngày càng được củng cố và mở rộng hơn

1.4.3 Từ năm 2006 đến nay

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc pháp điển hóa các quy bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng, ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật người lao động Việt Nam đi

Trang 36

làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ ngày 29/11/2006

Trên cơ sở Luật nói trên, Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan đã ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện như: Nghị định

số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 04/09/2007 quy định cụ thể về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội số 18, 19, 20 năm

2007 về vấn đề bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài;

Đặc biệt, để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình hỗ trợ các huyện nghèo giảm nghèo nhanh và bền vững, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg về hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 Mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thay thế cho Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2007

Các thông tư mới hướng dẫn Luật và Nghị định cũng được ban hành như:

Thông tư 21/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10/10/2013 quy định mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà Doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động, Thông tư 22/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2013 quy định mẫu và nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động và Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Các văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung tiếp tục thực hiện mục tiêu bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, quản lý chặt chẽ hoạt động đưa

Trang 37

người lao động đi làm việc ở nước ngoài Theo đó pháp luật càng ngày càng mở rộng các quyền lợi mà người lao động được hưởng, giới hạn các đòi hỏi mà các

tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể có liên quan và quy định xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm quyền và lợi ích của người lao động đi làm việc ở nước ngoài,

Những thành tựu trong công tác hoàn thiện quy định pháp luật về bảo

vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này đã

tỏ rõ sự quan tâm mạnh mẽ của Nhà nước ta trong việc đánh giá vai trò của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và tính cấp thiết phải bảo

vệ nhóm đối tượng này, đồng thời tạo ra được khung pháp lý bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tương đối đầy đủ, chặt chẽ, mở ra cơ hội làm giàu, con đường tìm kiếm việc làm an toàn cho nhiều người lao động nghèo Việt Nam

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

2.1 Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Bảo vệ người lao động là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam với triết lí người lao động là kẻ yếu trong quan

hệ lao động, trên thị trường lao động và lực lượng lao động xã hội là nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia Trong đó, người lao động đi làm việc ở nước ngoài là đối tượng cần quan tâm đặc biệt [35, tr118] Trong hệ thống pháp luật hiện hành, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tập trung chủ yếu bảo người lao động ở tất cả các giai đoạn: trước khi đi làm việc ở nước ngoài, trong thời gian làm việc ở nước ngoài và sau thời gian làm việc ở nước ngoài ở tất cả các hình

Trang 39

động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo Bộ luật Lao động, Luật Người lao động Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành tập trung chủ yếu các nội dung:

- Đảm bảo cho mọi người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài hiểu

và nắm bắt rõ mọi thông tin liên quan đến chính sách và việc làm ngoài nước

Việc cung cấp các thông tin cần thiết về việc đi làm việc ở nước ngoài được thực hiện một cách công khai trong quá trình tuyển chọn lao động, tư vấn trực tiếp, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động Khi người lao động hiểu và nắm bắt rõ chính sách và pháp luật của Việt Nam, của quốc gia tiếp nhận lao động họ có thể an tâm lên đường sang nước ngoài làm việc hơn Trong lượng lớn các thông tin về chính sách và pháp luật Việt Nam

về người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì các thông tin liên quan đến điều kiện được đi làm việc ở nước ngoài của người lao động và nghĩa vụ tài chính mà người lao động phải thực hiện là những thông tin quan trọng mà mỗi một người lao động trước khi ra nước ngoài làm việc quan tâm đầu tiên và các

tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp

Người lao động được đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải có đủ các điều kiện luật định về năng lực hành vi dân sự, sự tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài; trình độ ngoại ngữ, tay nghề [30, Điều 42, Điều 50] và đặc biệt là phải đi làm việc ở nước ngoài theo một trong bốn hình thức hợp đồng pháp luật quy định

Trong 4 hình thức hợp đồng pháp luật quy định thì người lao động Việt Nam hiện nay chủ yếu đi làm việc ở nước ngoài thông qua các doanh nghiệp dịch vụ, bởi với hình thức này người lao động chỉ cần trả một khoản tiền cho doanh nghiệp dịch vụ thì có thể “mua” được một công việc ở nước ngoài một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn các hình thức khác Các doanh nghiệp dịch

vụ cũng là đơn vị khai thác thị trường lao động ngoài nước năng động hơn so

Trang 40

với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp trúng thầu, tổ chức cá nhân đầu tư ra nước ngoài

Bất kể một người lao động nào khi có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài cũng muốn được biết chi phí mà họ phải bỏ ra là bao nhiêu, nghĩa vụ tài chính của họ được pháp luật quy định, giới hạn như thế nào Vì thế pháp luật quy định các doanh nghiệp dịch vụ có trách nhiệm cung cấp thông tin tài chính (về tiền môi giới, tiền dịch vụ, tiền ký quỹ, phí đào tạo, phí visa, phí vé máy bay ) liên quan đến việc đi làm việc ở nước ngoài để người lao động có thể lựa chọn thị trường đi làm việc phù hợp với điều kiện kinh tế của bản thân và gia đình

Tiền môi giới: là khoản chi phí mà doanh nghiệp dịch vụ phải trả cho

bên môi giới để ký kết thực hiện hợp đồng cung ứng lao động [30, Điều 20]

Người lao động có trách nhiệm hoàn trả cho doanh nghiệp dịch vụ một phần hoặc toàn bộ tiền môi giới Để bảo vệ người lao động và thống nhất trong công tác quản lý, pháp luật quy định về mức trần tiền môi giới người lao động phải hoàn trả cho doanh nghiệp dịch vụ, loại tiền nộp và tỷ giá áp dụng việc

sử dụng tiền môi giới, quản lý tiền môi giới, những trường hợp doanh nghiệp dịch vụ không được thu tiền môi giới của người lao động, hoàn trả tiền môi giới Theo đó, mức trần tiền môi giới cho các thị trường không vượt quá một

tháng lương/người lao động cho một năm hợp đồng (Mục II Thông tư liên tịch

16/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 4 tháng 9 năm 2007 quy định cụ thể về tiên môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) Một số thị trường lao động đặc thù được

quy định mức trần tiền môi giới như: Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Macau, Séc, Slovakia, Ba Lan [9] Để bảo vệ người lao động trong trường hợp họ phải về nước trước thời hạn vì lý do bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh, doanh nghiệp bị phá sản) hoặc không phải do lỗi của người lao động thì doanh

Ngày đăng: 09/12/2022, 18:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w