BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ BẢO NHƯ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ BẢO NHƯ
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA
LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ BẢO NHƯ
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐẾN TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 9340301
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS MAI THỊ HOÀNG MINH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án tiến sĩ với đề tài “Ảnh hưởng của chênh lệch giữa
lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi
Các thông tin, số liệu và các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án được tôi tự phân tích một cách trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nghiên cứu sinh
Trang 4Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp cũng như các chuyên gia, quý doanh nghiệp đã cung cấp nhiều văn bản, quy định, chia sẽ nhiều kinh nghiệm thực
tế, có những đóng góp quý báu để thực hiện đề tài Đặc biệt, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân đã luôn đồng hành, chia sẽ và hỗ trợ tinh thần lẫn tài chính giúp tôi có thể hoàn thiện luận án như ngày hôm nay
Xin trân trọng cám ơn!
Nghiên cứu sinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
TÓM TẮT xi
ABSTRACT xiii
PHẦN GIỚI THIỆU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Tình hình kinh tế VN trong thời gian qua 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
3.1 Mục tiêu chung 4
3.2 Mục tiêu cụ thể 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5.1 Đối tượng nghiên cứu 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa của nghiên cứu 7
8 Cấu trúc của luận án 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 10
1.1 Các nghiên cứu có liên quan 10
1.1.1 Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 10
1.1.1.1 Các nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận 10
1.1.1.2 Các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 14
Trang 6thành phần trong lợi nhuận 19
1.1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 19
1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước 25
1.1.3 Ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 27
1.1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài 27
1.1.3.2 Nghiên cứu trong nước 32
1.2 Kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước 34
1.3 Khe hổng nghiên cứu 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 39
2.1 Các khái niệm nghiên cứu 39
2.1.1 Lợi nhuận kế toán 39
2.1.2 Thu nhập chịu thuế 40
2.1.3 Tính ổn định của lợi nhuận 40
2.1.4 Tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 42
2.1.4.1 Các thành phần trong lợi nhuận 42
2.1.4.2 Tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 44
2.1.5 Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế 44
2.1.6 Các nguyên nhân gây ra BTD 46
2.2 Lý thuyết nền 49
2.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory) 49
2.2.2 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) 51
2.2.3 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 54
2.2.4 Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive accounting theory) 57
2.3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 61
2.3.1 Tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 61
2.3.2 BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận 63
2.3.3 BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 64
Trang 7và của các thành phần trong lợi nhuận 66
2.4 Bối cảnh tại VN 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 74
3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 74
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 74
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 75
3.2 Kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 76
3.3 Kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 78
3.4 Phân nhóm các công ty dựa vào nguyên nhân gây BTD 80
3.5 Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 86
3.5.1 Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận 86
3.5.2 Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 86
3.6 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu 89
3.6.1 Dữ liệu và mẫu quan sát 89
3.6.2 Dữ liệu bảng 91
3.6.3 Các bước phân tích dữ liệu 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 99
4.1 Thống kê mô tả 99
4.2 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến 102
4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến Pearson 102
4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 102
4.3 Kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu 103
4.3.1 Lựa chọn mô hình POLS và mô hình FEM 103
4.3.2 Lựa chọn mô hình POLS và mô hình REM 104
Trang 84.4 Hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liê ̣u bảng 106
4.5 Hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liê ̣u bảng 106
4.6 Phân tích kết quả hồi quy 107
4.6.1 Kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 107 4.6.2 Kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 110
4.6.3 Kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận 114
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 133
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 138
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ 139
5.1 Kết luận 139
5.2 Những đóng góp của luận án 142
5.2.1 Đóng góp về mặt lý thuyết 142
5.2.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 147
5.3 Một số hàm ý quản trị 149
5.3.1 Đối với các nhà hoạch định chính sách 149
5.3.2 Đối với Kế toán trưởng và nhà quản lý 150
5.3.3 Đối với nhà đầu tư 151
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 152
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
PHỤ LỤC 30
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG ANH
BTD Book-tax difference (Dịch: Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán
và thu nhập chịu thuế)
EM Earnings Management (Dịch: Điều chỉnh lợi nhuận)
FEM Fixed Effect Model (Dịch: Mô hình tác động cố định)
LNBTD Large Negative Book-Tax Differences (Dịch: Chênh lệch giữa
lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có giá trị âm lớn)
LPBTD Large Positive Book-Tax Differences (Dịch: Chênh lệch giữa
lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có giá trị dương lớn)
POLS Pooled Ordinary Least Squares (Dịch: Bình phương nhỏ nhất
cổ điển gộp)
REM Random Effect Model (Dịch: Mô hình tác động ngẫu nhiên)
TAXAVOIDER Tax Avoidance (Dịch: Tránh thuế)
TIẾNG VIỆT
BCTC Báo cáo tài chính
HĐKD Hoạt động kinh doanh
Thông tư 200 Thông tư số 200/2014/TT-BTC
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Danh sách các biến sử dụng trong nghiên cứu 87
Bảng 3.2 Bảng tóm tắt các mô hình và kì vọng 89
Bảng 3.3 Bảng tóm tắt mẫu 90
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 100
Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 102
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến 102
Bảng 4.4 Kiểm định lựa chọn mô hình POLS và mô hình FEM 104
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định lựa chọn POLS và mô hình REM 104
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình FEM và mô hình REM 105
Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi 106
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra tự tương quan 107
Bảng 4.9 Kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận giai đoạn 2010-2014 108
Bảng 4.10 Kiểm tra tính ổn định của lợi nhuận giai đoạn 2015-2019 108
Bảng 4.11 Kiểm tra tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 2010-2014 109 Bảng 4.12 Kiểm tra tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 2015-2019 109 Bảng 4.13 Kết quả kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận 111 Bảng 4.14 Kết quả kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận 112
Bảng 4.15 Thống kê mô tả các biến trong mẫu LPBTD theo cách phân loại 1 115
Bảng 4.16 Hệ số tương quan giữa các khoản dồn tích điều chỉnh và thuế suất thực tế chênh lệch 118
Bảng 4.17 Kết quả kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận theo cách phân loại 1 119
Bảng 4.18 Kết quả kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận theo cách phân loại 1 120
Bảng 4.19 Thống kê mô tả các biến trong mẫu LPBTD theo cách phân loại 2 123
Bảng 4.20 Kết quả kiểm tra các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận theo cách phân loại 2 126
Trang 11thành phần trong lợi nhuận theo cách phân loại 2 128 Bảng 4.22 Tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 130
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu đề xuất 76
Trang 13TÓM TẮT
Tên đề tài: Ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu
thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tóm tắt:
Tính ổn định của lợi nhuận là tiêu chí quan trọng để phân tích đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp và là thông tin quan trọng đối với người sử dụng báo cáo tài chính Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh tính ổn định của lợi nhuận chịu ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (BTD) Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề khá mới mẻ tại những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kế toán quốc tế hướng tới Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), sự ra đời của Thông tư 200/2014/TT-BTC có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống kế toán Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận khi doanh nghiệp áp dụng các chế độ kế toán khác nhau là hết sức cần thiết
Bằng cách sử dụng dữ liệu bảng, chia mẫu nghiên cứu thành các mẫu phụ và phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS), tác giả đã kiểm tra ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận
và các thành phần trong lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC Kết quả cho thấy khi doanh nghiệp áp dụng các chế độ kế toán khác nhau, lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận đều có tính ổn định; tuy nhiên, ảnh hưởng của BTD
và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận sẽ khác biệt Đặc biệt trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC, BTD càng lớn thì tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận càng giảm, các công ty có BTD phát sinh do điều chỉnh lợi nhuận tăng (hoặc tránh thuế) thì có lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận ít ổn định hơn (hoặc ổn định hơn) các công ty có BTD phát sinh do những nguyên nhân khác Kết quả nghiên cứu
Trang 14tin cho các bên liên quan
Từ khóa: Lợi nhuận kế toán, Thu nhập chịu thuế, Chênh lệch giữa lợi nhuận kế
toán và thu nhập chịu thuế, Tính ổn định của lợi nhuận, Việt Nam
Trang 15is still a relatively new issue Circular 200/2014/TT-BTC, in particular, has had reaching effects on the accounting system in the context of international accounting integration toward International Financial Reporting Standards (IFRS) As a result, it
far-is necessary to investigate the effects of BTD on earnings persfar-istence when enterprises use different accounting regimes
By using panel data, subsamples, and feasible general least squares (FGLS) estimation, the author examined the effect of BTD and its sources on earnings and the persistence of its components at companies listed on the Vietnam stock exchange before and after the implementation of Circular 200/2014/TT-BTC The findings show that when enterprises apply different accounting regimes, earnings and earnings components are persistent; however, the influence of BTD and the sources of BTD
on earnings and its component’s persistence are different Especially, in the Circular 200/2014/TT-BTC period, the larger BTD, the lower persistence of earnings and its components; for the large positive BTD group, firms with upward earnings management (or tax avoidance) have earnings and its components are less persistent (or more persistent) than firms whose BTDs arise for other sources The research findings are very important in evaluating earnings quality and providing more information to stakeholders
Keywords: Book Income, Taxable Income, Book – tax differences, Earnings
Trang 16PHẦN GIỚI THIỆU
1 Sự cần thiết của đề tài
Chất lượng lợi nhuận (LN) là đề tài được nghiên cứu nhiều trong các tài liệu (Kousenidis và cộng sự, 2013) Trong đó, tính ổn định của LN được xem như là đại diện của chất lượng LN (P Dechow và cộng sự, 2010; Mohammady, 2010; Kousenidis và cộng sự, 2013) Sự khác biệt giữa LN kế toán và thu nhập chịu thuế ảnh hưởng đến chất lượng LN trên báo cáo tài chính (BCTC) và do đó, những thông tin này rất hữu ích đối với người sử dụng để dự báo LN tương lai (Hanlon, 2005; Tang, 2006; Lev và Nissim, 2004; H Choi và cộng sự, 2020) Một số nhà hoạch định chính sách và báo chí cho rằng nên công bố thêm thông tin về BTD và các công ty có BTD lớn vì những công ty này có thể đang thao túng các số liệu cho mục đích kế toán hoặc cho mục đích thuế hoặc cho cả hai (Hanlon và Heitzman, 2010)
Thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa BTD và tính ổn định của LN cũng như tính ổn định của các khoản dồn tích Chẳng hạn nghiên cứu của Mills và Newberry (2001) đưa ra bằng chứng về độ lớn của BTD có quan hệ cùng
chiều với nhiều khoản mục trong BCTC Phillips và cộng sự (2003) mở rộng nghiên
cứu của Mills và Newberry (2001) và chỉ ra chi phí thuế thu nhập hoãn lại cung cấp thông tin hữu ích về hoạt động điều chỉnh LN thông qua tổng các khoản dồn tích và dồn tích bất thường Joos và cộng sự (2000) cho rằng mối quan hệ giữa LN trước thuế
và sau thuế thì yếu hơn khi BTD (theo giá trị tuyệt đối) lớn, đây là bằng chứng để các doanh nghiệp dùng BTD như là cơ hội để điều chỉnh LN Các nhà đầu tư sẽ nhận ra
LN được điều chỉnh, từ đó giảm sự tin tưởng của họ vào LN được công bố Nghiên cứu của (Blaylock và cộng sự, 2012; Hanlon, 2005; Xie, 2001) cũng chỉ ra rằng BTD ảnh hưởng đến chất lượng LN và thành phần dồn tích trong LN Blaylock và cộng sự (2012) còn cho thấy BTD xuất phát từ điều chỉnh LN, tránh thuế và do các quy định khác nhau giữa kế toán và thuế, các nguyên nhân này đều ảnh hưởng đến tính ổn định của LN và các khoản dồn tích Tang (2007) cung cấp một số bằng chứng thực nghiệm xác nhận BTD là công cụ hữu ích để điều chỉnh LN và quản lý thuế sau khi đã loại
Trang 17bỏ những khác biệt trong việc ghi nhận số liệu trên các báo cáo cho mục đích kế toán
và mục đích thuế Có thể thấy, các nghiên cứu trước trên thế giới thường tập trung vào ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và thành phần dồn tích mà chưa xem xét đến tính ổn định của thành phần dòng tiền, vấn đề này đã được đề cập trong nghiên cứu của Hanlon (2005) nhưng không được tiến hành nghiên cứu thực nghiệm (Jeong và Choi, 2019)
Tại VN, kể từ năm 2013, chính sách thuế đã được sửa đổi thường xuyên không chỉ để hỗ trợ doanh nghiệp mà còn tăng cường sự tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) (Loan và cộng sự, 2018) Tình trạng tránh thuế ngày càng phổ biến, do các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước đều lợi dụng các kẽ hở và ưu đãi trong luật thuế TNDN của Việt Nam để tìm cách giảm nghĩa vụ thuế (Ha và cộng
sự, 2021) Việc này làm thu hẹp nguồn thu của nhà nước, có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội và có thể gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế (Ha và cộng sự, 2021) Công tác kiểm tra thuế TNDN ngày càng được quan tâm và tăng cường do lo ngại về việc tránh thuế của các công ty, đồng thời giúp tăng nguồn thu của chính phủ và tăng mức thuế đối với các đối tượng đóng thuế Đồng thời, thị trường chứng khoán VN đang nổi lên vấn đề chênh lệch số liệu số liệu trước và sau kiểm toán, đặc biệt là khoản mục LN (Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương, 2017) Vì vậy, việc phân tích và hiểu các thông tin về chênh lệch giữa kế toán
và thuế (BTD), cụ thể là chênh lệch giữa LN kế toán và thu nhập chịu thuế, tính ổn định của LN và các thành phần trong LN cũng như ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN là hết sức cần thiết Mặc dù trên thế giới đã có các nghiên cứu trên diện rộng về BTD, mối quan hệ của nó với tính ổn định của LN và các khoản dồn tích Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào làm rõ vấn đề nêu trên đối với các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển như VN Việt Nam đang từng bước hội nhập kế toán quốc tế, tiến gần hơn với IFRS, đánh dấu sự thay đổi này đó là Thông
tư số 200/2014/TT-BTC (Thông tư 200) ra đời và có hiệu lực cho việc lập và trình bày BCTC từ năm 2015 (Phan và cộng sự, 2018)
Xuất phát từ những vấn đề vừa nêu, đóng góp chính của luận án nhằm giải quyết
Trang 18hạn chế của các nghiên cứu trước dựa trên nghiên cứu của (Blaylock và cộng sự, 2012; Hanlon, 2005), đó là tìm hiểu về ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN
và tính ổn định của các thành phần trong LN tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán VN trong 10 năm qua Như đã trình bày ở trên, trong luận án này, chỉ tiêu BTD chính là sự chênh lệch giữa LN kế toán và thu nhập chịu thuế Sự khác biệt chính của đề tài so với các nghiên cứu trước ở việc (1) So sánh tính ổn định của LN
và các thành phần trong LN giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200; (2) Xem xét ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của thành phần dòng tiền, từ đó đánh giá tính ổn định của LN; (3) So sánh ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN qua 2 giai đoạn nghiên cứu như đã trình bày Ngoài ra, cách tính BTD, xác định các công ty thuộc nhóm điều chỉnh LN hay tránh thuế đều dựa trên các tiếp cận mới, khác với nghiên cứu của Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012), phù hợp với điều kiện tại VN và loại bỏ được ảnh hưởng của mức thuế suất thuế TNDN thay đổi nhiều trong nhiều năm gần đây tại VN
2 Tình hình kinh tế VN trong thời gian qua
Trong giai đoạn 2009 – 2019, nền kinh tế VN đã tiếp tục tăng trưởng và phát triển, giá trị vốn hóa số lượng các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán cũng tăng lên đáng kể (Khánh Giang, 2020) Bên cạnh những mặt đạt được, kinh tế VN tiếp tục đối diện với nhiều khó khăn, thách thức cần nỗ lực vượt qua như: lạm phát, bong bóng bất động sản, giá cổ phiếu biến động thất thường khiến hoạt động của nhiều doanh nghiệp niêm yết cũng bị ảnh hưởng
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp và cũng như sự phát triển kinh tế phải kể đến các quy định về thuế TNDN Trong 10 năm ( từ 2009 đến 2019), luật Thuế TNDN với sự thay đổi của thuế suất và cách tính thu nhập chịu thuế
đã góp phần làm thay đổi phần lớn sách thuế VN Chẳng hạn như lộ trình giảm thuế suất từ 25% năm 2009 còn 20% từ năm 2016… đã tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện môi trường hoạt động và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
Trang 19nghiệp trong nước Các khoản thu nhập, LN được cập nhật và bổ sung vào đối tượng chịu thuế, xóa bỏ sự phân biệt thuế suất và điều chỉnh phù hợp với các mặt bằng thuế suất chung của thuế TNDN tại khu vực và trên thế giới Các khoản chi phí hợp lý cũng được quy định một cách rõ ràng và phù hợp hơn với điều kiện của VN và theo thông lệ quốc tế
Song song đó, sự ra đời của Thông tư 200 có hiệu lực thực hiện từ 01/01/2015
đã có ảnh hưởng lớn đến việc tính toán các chỉ tiêu kế toán như LN trước thuế, thu nhập chịu thuế, dòng tiền, các khoản dồn tích… Vì vậy, cần phải tìm hiểu ảnh hưởng của BTD đến chất lượng LN nói chung hay tính ổn định của LN nói riêng trước và sau khi áp dụng Thông tư 200
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của luận án nhằm kiểm tra và đo lường tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, xác định ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định này như thế nào Đồng thời, luận án còn tìm hiểu sự khác nhau của tính ổn định LN và các thành phần trong LN dưới ảnh hưởng của BTD qua các giai đoạn áp dụng chế độ kế toán tại VN
3.2 Mục tiêu cụ thể
Luận án nghiên cứu ba vấn đề cụ thể sau:
Thứ nhất, kiểm tra và đo lường tính ổn định của LN và các thành phần trong
LN, so sánh tính ổn định này giai đoạn trước (2010-2014) và sau khi áp dụng Thông
Trang 204 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết các câu hỏi sau: Câu 1: Tính ổn định của LN và các thành phần trong LN tại VN như thế nào? Tính ổn định này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010-2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015-2019) có khác nhau không?
Câu 2: BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010-2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015-2019) có khác nhau không?
Câu 3: Các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010-2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015-2019) có khác nhau không?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm: Tính ổn định của LN, tính ổn định của các thành phần trong LN, BTD, các nguyên nhân gây ra BTD của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán VN
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam, bao gồm thị trường chứng khoán
TP HCM (HOSE) và thị trường chứng khoán Hà Nội (HNX) với dữ liệu thu thập từ năm 2010 – 2019 Đây chính là khoảng thời gian mà các BCTC của các doanh nghiệp niêm yết được cung cấp tương đối đầy đủ
Loại trừ ra khỏi mẫu các công ty: (1) Có ít quan sát thu thập được do mới niêm yết, (2) các công ty thuộc nhóm ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm vì có những quy định hoạt động đặc thù riêng biệt, (3) các công ty không thu thập được dữ liệu cần thiết trong BCTC liên tục 3 năm, (4) các công ty không áp dụng Thông tư 200 sau năm 2014 Đồng thời, quá trình hoạt động của công ty chịu ảnh hưởng của môi trường bất lợi như dịch bệnh Covid-19 diễn ra mạnh ở VN trong năm 2020, 2021 làm ảnh hưởng đến LN và các chỉ tiêu trên BCTC, do đó, tác giả không cập nhật giai đoạn
Trang 21nghiên cứu trong hai năm này
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng dữ liệu bảng để kiểm tra và đo lường tính ổn định của LN, các thành phần trong LN cũng như ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến mối quan hệ này, qua đó trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu đã đề ra Dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chuỗi thời gian (time - series data) và dữ liệu chéo (across – sectional data) Dữ liệu bảng có những ưu điểm nổi trội hơn so với hai loại
dữ liệu đã nêu như các kết quả ước lượng các của tham số trong mô hình tin cậy hơn; cho phép xác định và đo lường tác động phức tạp hơn so với sử dụng dữ liệu chéo hoặc dữ liệu chuỗi thời gian, đơn giản hóa các bước tính toán và suy luận thống kê (Hsiao, 2007) nên dữ liệu bảng được sử dụng trong luận án Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp định lượng nhằm phân tích mối quan hệ tuyến tính giữa LN qua các năm, ảnh hưởng của dòng tiền và các khoản dồn tích đến LN tương lai; và ảnh hưởng của BTD, các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN Phương pháp này đòi hỏi phải là dữ liệu bảng động (dynamic panel data), tức là dữ liệu có chứa biến trễ của biến phụ thuộc
Mô hình nghiên cứu được kế thừa từ Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012), trong đó, biến BTD được phân chia thành ba mẫu phụ mục đích kiểm tra các giá trị khác nhau của BTD có ảnh hưởng khác nhau đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN không Ngoài ra, từ mẫu BTD mang giá trị dương lớn, tác giả phân chia thành các mẫu phụ nhỏ hơn là biến điều chỉnh LN (EM), tránh thuế (TAXAVOIDER) và sự khác nhau giữa quy định của kế toán và luật thuế (BASE), những mẫu phụ này đại diện cho các nguyên nhân gây ra BTD cũng được xem xét để nghiên cứu ảnh hưởng của các nguyên nhân trên đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN Chi tiết mô hình nghiên cứu được trình bày trong chương 3 Luận án thực hiện thêm bước tính toán khác nhằm xác định các công ty thuộc nhóm tránh thuế (TAXAVOIDER), từ đó củng cố cho các kết quả ước lượng Nếu các kết quả là nhất quán so với ban đầu thì kết quả nghiên cứu tìm thấy được gia tăng tính vững và độ tin cậy
Trang 227 Ý nghĩa của nghiên cứu
Các nghiên cứu về chất lượng LN, cụ thể là tính ổn định của LN và ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ tại VN Vì vậy, luận án nhằm mục tiêu tìm hiểu tính ổn định của LN và các thành phần trong
LN, ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của LN
và các thành phần trong LN trong bối cảnh trước và sau khi áp dụng Thông tư 200 tại
VN Luận án có những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:
Về mặt lý thuyết:
Đề tài đóng góp cho lý thuyết gồm bốn yếu tố Đầu tiên, luận án củng cố các bằng chứng về tính ổn định của LN và thành phần trong LN trong bối cảnh VN Thứ hai, nghiên cứu cung cấp các bằng chứng về ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN ở VN Thứ ba, cung cấp cách thức phân nhóm các công ty dựa trên nguyên nhân gây ra BTD và xem xét ảnh hưởng của các nguyên nhân trên đối với tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN trong bối cảnh Việt Nam Cuối cùng, bằng cách so sánh các kết quả nghiên cứu giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200, luận án cũng cho thấy ảnh hưởng của chế độ kế toán mới này đối với tính ổn định của LN Những điều này có ý nghĩa trong việc nghiên cứu kế toán, thuế và mở rộng hiểu biết về mối liên hệ BTD và tính ổn định của LN cũng như các thành phần của LN trong bối cảnh VN Đồng thời, nghiên cứu còn là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo liên quan đến BTD, các nguyên nhân gây ra BTD, tính ổn định của LN và các thành phần trong LN
Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao chất lượng dự đoán LN trong tương lai thông qua việc làm rõ tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, từ đó giúp các nhà đầu tư, cổ đông có cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa quyết định đầu tư, các chiến lược cạnh tranh… một cách đúng đắn Thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của LN và các thành phần trong LN, các nhà quản lý, kế toán
Trang 23trưởng có thêm thông tin để quản lý LN, nâng cao chất lượng LN trình bày trong BCTC, cập nhật kiến thức, tuân thủ các quy tắc ghi nhận các nghiệp vụ trong các giai đoạn áp dụng chế độ kế toán khác nhau
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp các cơ quan nhà nước, các nhà hoạch định chính sách có thêm thông tin để quản lý các doanh nghiệp, xây dựng các nguyên tắc và chế độ kế toán và thuế một cách khoa học, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực
kế toán quốc tế
8 Cấu trúc của luận án
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài được trình bày dưới dạng 5 chương như sau:
Phần đầu tiên trình bày sự cần thiết của đề tài, tình hình kinh tế VN trong thời gian qua, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu
Các nội dung tiếp theo gồm:
- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Trình bày các nghiên cứu liên quan trên thế giới và tại VN, đưa ra những nhận xét và làm rõ khe hổng nghiên cứu nhằm khẳng định sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
Trình bày cơ sở lý thuyết để hình thành mô hình nghiên cứu, bao gồm LN kế toán, thu nhập chịu thuế và các thành phần trong LN; tính ổn định của LN, tính ổn định của các thành phần trong LN; BTD và các nguyên nhân gây ra BTD, các lý thuyết nền có liên quan Từ các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày phương pháp nghiên cứu, các mô hình hồi quy, cách đo lường các biến trong mô hình, mẫu nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu và các bước phân tích dữ liệu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 24Trình bày các kết quả nghiên cứu thu thập được Trong phần này, tác giả phân tích các kết quả nghiên cứu định lượng để trả lời cho câu hỏi về tính ổn định của LN
và của các thành phần trong LN, ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định này; đồng thời, so sánh kết quả nghiên cứu trong những giai đoạn
áp dụng chế độ kế toán khác nhau (giai đoạn trước và sau khi áp dụng Thông tư 200) Đồng thời, tác giả cũng thảo luận các kết quả đã đạt được trong chương 4 này
- Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị
Tác giả trình bày kết luận từ kết quả nghiên cứu, những đóng góp về mặt lý thuyết và về mặt thực tiễn; từ đó đưa ra các hàm ý quản trị đối với các bên liên quan trong việc đánh giá chất lượng LN và dự đoán LN trong tương lai Cuối cùng là các hạn chế trong đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 25CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Như đã trình bày ở phần giới thiệu, việc tìm hiểu tính ổn định của LN và các thành phần trong LN cũng như ảnh hưởng của BTD đến mối quan hệ trên có ý nghĩa lớn về mặt lý thuyết và thực tiễn đối với quá trình hoạt động kinh doanh (HĐKD) của doanh nghiệp Thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, góp phần phát triển các lý thuyết có liên quan và có ý nghĩa thực tiễn
Trong chương 1 này, tác giả tập trung tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước theo các dòng nghiên cứu (1) về tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, (2) ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của LN và của các thành phần trong LN, (3) ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định LN và tính ổn định của các thành phần trong LN Sau khi nhận xét những kết quả đạt được
từ các nghiên cứu trước, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu cho luận án
1.1 Các nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận
BCTC cung cấp thông tin có giá trị để đánh giá hoạt động và dự đoán lợi tức đầu tư Các nhà phân tích và đầu tư thường chú trọng đến LN khi sử dụng các thông tin có trong BCTC LN được coi là có chất lượng cao khi thể hiện được tính ổn định
và có thể sử dụng để dự đoán LN của công ty trong tương lai Do đó, nhiều bài báo
bằng cách tiếp cận định lượng và định tính đã nghiên cứu về vấn đề này
1.1.1.1 Các nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận
Nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu thời kỳ trước đa số đều cho rằng sự thay đổi của LN là độc lập
và không liên quan giữa các năm với nhau (Ball và Brown, 1969; Ball và Watts, 1972) Tuy nhiên, bằng cách sử dụng các dữ liệu khác nhau, như dữ liệu chuỗi thời gian và phân tầng mẫu nghiên cứu, Brooks và Buckmaster (1976) đã cho ra kết quả khác biệt, đại diện cho giai đoạn đầu tiên khẳng định LN trong các năm có liên quan với nhau và LN có xu hướng lặp lại giá trị của những năm trước Tương tự, cũng bằng
Trang 26dữ liệu chuỗi thời gian, các tác giả có thể chứng minh tỷ lệ hoàn vốn (ROR – Rate of Return) (R N Freeman và cộng sự (1982)) hay LN trong quá khứ (Lipe (1990)) có tính ổn định và có thể cung cấp thông tin dự đoán LN trong tương lai Khi nghiên cứu
dữ liệu chéo, R Freeman và Tse (1992) lý giải hệ số phản hồi thấp (hay biến động phi tuyến) của LN trong các phương trình hồi quy là do lỗi của các thành phần đại diện cho LN không mong muốn Ví dụ khi xét theo dữ liệu chuỗi thời gian, các công
ty có LN ổn định thấp có thể do quá trình lấy mẫu có thành phần LN không mong muốn làm phát sinh các lỗi dự báo lớn Kết quả trên cũng trùng với nghiên cứu của Das và Lev (1994) Sau này, Sloan (1996) đã mở rộng các nghiên cứu trước bằng cách sử dụng dữ liệu bảng và khẳng định rằng LN hiện tại có tính ổn định, phản ánh
LN tương lai và phụ thuộc vào mối quan hệ giữa độ lớn của thành phần dồn tích và dòng tiền với LN Ông cho rằng các khoản dồn tích cao hay thấp bất thường sẽ khiến
LN ít ổn định hơn
Ngoài ra, đối với các công ty thua lỗ, LN ít ổn định hơn vì ít nhất ba lý do Đầu tiên, một khoản lỗ có thể là kết quả của việc ghi nhận các giao dịch dự kiến thua lỗ (Basu, 1997), bao gồm các khoản lỗ chưa thực hiện trong LN hiện tại, công ty chuyển đổi một loạt các giao dịch thua lỗ trong tương lai thành một khoản lỗ tạm thời Thứ hai, các khoản lỗ cũng có thể là dấu hiệu của các công ty đang thanh lý tài sản, những tài sản này tạo ra tổn thất cho doanh nghiệp (Hayn, 1995) Và cuối cùng, các khoản
lỗ có thể do cú sốc tiêu cực (ví dụ như đình công, thảm họa tự nhiên hoặc thay đổi công nghệ) kèm theo thanh lý tài sản hoặc chi tiêu bằng tiền mặt (Frankel và Litov, 2009) Nếu những cú sốc tiêu cực có khả năng được nhận ra ngay lập tức thì những
cú sốc tích cực được nhận ra dần dần theo thời gian, do đó, các khoản lỗ sẽ có xu hướng ít ổn định hơn so với các khoản lãi
Frankel và Roychowdhury (2008) sắp xếp các công ty dựa trên tính kịp thời không đối xứng của LN và thấy rằng các tài khoản đặc biệt (Special items) âm có giá trị lớn có xu hướng kịp thời hơn và ít ổn định hơn Dichev và Tang (2008) kiểm tra xem biến động LN trong quá khứ có khả năng giải thích sự ổn định cho của LN hiện tại hay không Các tác giả kết luận LN sẽ ổn định lâu dài nếu không có các cú sốc
Trang 27kinh tế hay “vấn đề” trong việc xác định LN kế toán Các phát hiện cũng xác nhận
sự ổn định cao hơn của LN phân phối so với tổng LN ròng liên quan đến tiền mặt trả
cho các cổ đông (Moienadin và Tabatabaenasab, 2014) Ngoài ra, Doukakis (2010)
đã kiểm tra tính ổn định của LN và các thành phần trong LN sau khi áp dụng IFRS, kết quả cho thấy việc phân tách LN thành các thành phần nhỏ có thể cải thiện dự đoán
về khả năng sinh lời trong tương lai, đồng thời IFRS không cải thiện tính ổn định của
LN và các thành phần trong LN
Ở khía cạnh khác, Govendir và Wells (2014) cung cấp bằng chứng rằng các loại
LN có tính ổn định khác nhau Nghĩa là LN có khả năng đa dạng về cả bản chất và ý nghĩa của chúng đối với LN trong tương lai, điều này phù hợp với các nghiên cứu xem xét về thuộc tính cung cấp thông tin của LN kế toán Tuy sử dụng các chỉ tiêu khác nhau như LN từ HĐKD chia cho tổng TS bình quân (Sloan, 1996), ROA (Richardson và cộng sự, 2005; Frankel và Litov, 2009), LN trước thuế (Hanlon, 2005; Blaylock và cộng sự, 2012), LN ròng hay LN phân phối (Moienadin và Tabatabaenasab, 2014)… các nghiên cứu đều dùng phương pháp đo lường tính ổn định của LN bằng cách hồi quy giá trị tương lai trên giá trị hiện tại (Schipper và Vincent, 2003; Patricia M Dechow và Schrand, 2004; Dichev và Tang, 2008) và kết luận sự tái xuất hiện của LN hiện tại trong LN tương lai hay LN có tính ổn định
Nghiên cứu trong nước
Tại VN, một số ít bài báo đề cập đến tính ổn định hoặc các khía cạnh liên quan đến tính ổn định của LN như nghiên cứu của Nguyet (2017) điều tra ảnh hưởng của biến động LN đến khả năng dự đoán LN Tác giả nhận thấy mối quan hệ nghịch đảo giữa biến động LN cũng như khả năng dự đoán LN trong cả ngắn hạn và dài hạn, tức
là nếu công ty có LN biến động thấp, thì khả năng dự đoán của LN sẽ cao hơn so với công ty có mức biến động cao Trong trường hợp này, mức độ biến động của LN có thể giúp dự đoán LN trong tương lai Vinh và Huong (2019) cũng cho thấy đối với các công ty niêm yết phi tài chính VN, công ty nào có cổ phần nước ngoài lớn hơn thì việc công khai tài chính cao hơn Đặc biệt hơn, các công ty có cổ phần nước ngoài lớn thường có các đặc điểm như (i) điều chỉnh LN thấp hơn; (ii) LN ổn định hơn; và
Trang 28(iii) thông tin về LN cao hơn Điều này cho thấy các tổ chức nước ngoài với kỹ năng quản lý sâu rộng có thể hỗ trợ các công ty đầu tư trong việc cải thiện chất lượng công
bố chỉ tiêu LN Gần đây, D N Hung và Van (2020) đã đo lường chất lượng LN trên nhiều khía cạnh khía cạnh khác nhau Trong đó, sự điều chỉnh LN, tính ổn định, tính trơn tru (smoothness), tính thay đổi (variability), giá trị thích hợp của thông tin, tính kịp thời có quan hệ cùng chiều với LN cổ phiếu trong khi chất lượng các khoản dồn tích thì liên quan nghịch chiều đến LN cổ phiếu Nhung và cộng sự (2020) đã nghiên cứu trường hợp các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2008-2017 nhằm cung cấp hiểu biết tốt hơn về tính ổn định của LN của các doanh nghiệp VN, trường hợp điển hình về nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á Kết quả cho thấy tính ổn định của LN là yếu tố quyết định đối với dự báo LN trong tương lai và định giá cổ phiếu Các doanh nghiệp VN có LN ở mức ổn định thấp, LN giữa các ngành có sự phân hóa cao và thay đổi không đồng đều Trong một số lĩnh vực, các doanh nghiệp quy mô lớn có LN và tốc độ tăng trưởng ổn định Ngược lại, có những doanh nghiệp quy mô nhỏ, sản xuất kinh doanh không tập trung, LN và tăng trưởng LN thấp, thậm chí thua lỗ (Nhung và cộng sự, 2020) Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, giai đoạn nghiên cứu của Nhung và cộng sự (2020) từ 2008-2017, các số liệu kế toán bị chi phối bởi Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 200 nên
dễ xảy ra trường hợp sai lệch trong kết quả nghiên cứu (bias result)
Như vậy, có thể thấy giai đoạn đầu trên thế giới, các nghiên cứu kết luận giá trị
LN của công ty qua các năm không liên quan với nhau Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu sau này đều chỉ ra rằng LN có tính ổn định, LN năm sau có thể lặp lại LN năm trước Tính ổn định của LN có thể bị ảnh hưởng bởi các cú sốc kinh tế, công ty làm
ăn thua lỗ hay trong việc ghi nhận kế toán… Tại VN, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của LN như sự biến động LN, chất lượng LN… Một số ít nghiên cứu về tính ổn định của LN và kết luận rằng LN có tính
ổn định thấp, nhưng những nghiên cứu này lại gặp hạn chế trong việc lấy mẫu do ảnh hưởng của các chế độ kế toán áp dụng khác nhau
Ở một khía cạnh khác, LN được cấu thành bởi hai thành phần là dòng tiền và
Trang 29các khoản dồn tích (Blaylock và cộng sự, 2012; Hanlon, 2005; Sloan, 1996), thông tin về dòng tiền và các khoản dồn tích năm hiện tại có thể dùng để dự đoán LN tương lai Sloan (1996) và ảnh hưởng đến tính ổn định của LN Trong phần tiếp theo, tác giả
sẽ trình bày các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần này trong LN
1.1.1.2 Các nghiên cứu về tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận
Nghiên cứu nước ngoài
Mối quan hệ giữa LN và các thành phần trong LN được đề cập lần đầu trong nghiên cứu của Rayburn (1986) Kết quả phân tích dữ liệu chuỗi thời gian đã chứng minh mối quan hệ giữa dòng tiền từ HĐKD và tổng các khoản dồn tích với LN bất thường Các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo đã dự đoán LN trong tương lai theo quý và theo năm (Bernard và Thomas, 1990; Ou và Penman, 1989), đồng thời chứng minh thành phần dồn tích ít ổn định hơn so với thành phần dòng tiền (Sloan, 1996; Patricia M Dechow, 1994; Fairfield và cộng sự, 2003b) Có thể thấy cả dòng tiền và các khoản dồn tích đều ảnh hưởng đến tính ổn định của LN và cung cấp thêm thông tin về LN trong tương lai
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các khoản dồn tích đến tính ổn định của LN, các tác giả như Sloan (1996), Xie (2001), Patricia M Dechow và Dichev (2002), Richardson và cộng sự (2006)… đã chứng minh các khoản dồn tích có khả năng cung cấp thông tin khác nhau liên quan đến việc dự đoán LN và ước tính giá trị doanh nghiệp (Ohlson, 1995) Sloan (1996) cho thấy tính ổn định của LN bị ảnh hưởng cả bởi độ lớn và dấu của các khoản dồn tích Tuy nhiên, Sloan (1996) cho rằng các nhà đầu tư có thể không nhận ra sự khác biệt tính ổn định giữa dòng tiền và các khoản dồn tích và do đó, có thể nhận định sai về các khoản dồn tích Theo Sloan (1996), tình huống này xuất phát từ sự chủ quan của các nhà đầu tư vì họ không thể hoàn toàn nhìn thấy tính ổn định của thành phần dồn tích Nghiên cứu sâu hơn của Xie (2001) cho thấy sự ổn định thấp hơn của các khoản dồn tích bất thường ngay cả khi kiểm soát tăng trưởng doanh số Trong thực tế, lỗi ước tính các khoản dồn tích có thể bị ảnh hưởng bởi sự điều chỉnh LN và bởi các quy ước kế toán như nguyên tắc thận trọng Tương tự, Patricia M Dechow và Dichev (2002) cũng cho thấy các khoản dồn
Trang 30tích vốn lưu động có khả năng đảo ngược (giá trị và dấu) trong vòng một năm, do đó, các khoản dồn tích này có khả năng điều chỉnh hay chuyển đổi thành dòng tiền và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty (về mặt LN từ HĐKD) Các tác giả cũng cho rằng chất lượng của các khoản dồn tích và LN giảm là do mức độ của các sai số ước tính trong các khoản dồn tích, đồng thời kết luận chất lượng các khoản dồn tích có liên quan cùng chiều đến tính ổn định của LN Từ đó, có thể thấy công ty có các khoản dồn tích có tính ổn định thấp phản ánh môi trường kinh doanh không chắc chắn và LN biến động nhiều hơn Kết quả nói trên có thể được suy ra từ sự đảo ngược của các khoản dồn tích và sự tham gia của các ước tính kế toán (Barth và Hutton, 2004; Fairfield và cộng sự, 2003b) Từ nghiên cứu của Sloan (1996), các bài báo sau này phân chia các khoản dồn tích thành các thành phần khác nhau và nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đối với tính ổn định của LN Chẳng hạn như Richardson và cộng
sự (2005) phân chia các khoản dồn tích thành ngắn hạn và dài hạn (current and current accrual), trong đó, các khoản dồn tích dài hạn có tính ổn định nhưng ít có ý nghĩa thống kê đối với tính ổn định của LN Richardson và cộng sự (2006) chia các khoản dồn tích thành các khoản dồn tích tùy chỉnh và không tùy chỉnh, kết quả cho thấy các sai sót tạm thời trong kế toán có ảnh hưởng lớn đến tính ổn định của các khoản dồn tích Ngoài ra, tác giả còn cho thấy tính ổn định thấp của dồn tích không liên quan đến việc tăng doanh thu nhưng có liên quan đến thao túng LN (hay ROA) Cũng kế thừa nghiên cứu của Sloan (1996), Patricia M Dechow và Ge (2006) cho thấy các công ty có các khoản dồn tích dương lớn là những công ty đang tăng tài sản, tạo doanh thu và mở rộng kinh doanh, trong đó, dòng tiền cho hoạt động đầu tư được
non-mở rộng ngay lập tức và chỉ một ít được vốn hóa tài sản Do đó, trong những công ty này, các khoản dồn tích điều chỉnh có thể cải thiện tính ổn định của LN vì chúng làm giảm tác động nhất thời của dòng tiền âm lên LN Ngược lại, các khoản dồn tích âm lớn là dấu hiệu cho thấy các công ty giảm tài sản và thu hẹp quy mô Các khoản dồn tích được điều chỉnh này dẫn đến việc ghi lại các khoản phí tổn thất, chi phí tái cơ cấu và các khoản mục khác trong LN và là kết quả của việc công ty ghi nhận các dòng tiền tạm thời dương lớn dưới dạng nợ phải trả Do đó, các khoản dồn tích này làm
Trang 31giảm tính ổn định của LN
Sau này, Oei và cộng sự (2008) dựa trên nghiên cứu của Richardson và cộng sự (2005) để điều tra mối quan hệ giữa sự tính ổn định của LN và tổng các khoản dồn tích, tác giả chia các khoản dồn tích thành các khoản dồn tích ngắn hạn, dài hạn và các khoản dồn tích từ hoạt động tài chính Tương tự như các nghiên cứu trước, tổng các khoản dồn tích ít ổn định và dễ thao túng hơn so với dòng tiền; do đó, điều chỉnh
LN có thể làm tăng mức độ sai sót trong các khoản dồn tích Tuy nhiên, điều chỉnh
LN không phải lý do duy nhất để giải thích của các lỗi trong các khoản dồn tích, khiến các khoản dồn tích có tính ổn định thấp hơn đối với LN tương lai (đại diện là ROA) Cũng theo Richardson và cộng sự (2005) và Oei và cộng sự (2008), các lỗi trong dồn tích thường do hai nguyên nhân Thứ nhất là do các khoản dồn tích không đáng tin cậy được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán hiện hành Thứ hai là do các ước tính sai
về tác động kinh tế trong tương lai của các giao dịch trong quá khứ và hiện tại Do
đó, các lỗi trong ước tính của giai đoạn hiện tại sẽ được thể hiện trong các giai đoạn tương lai, dẫn đến thêm lỗi đo lường trong các giai đoạn đó Vấn đề tiếp theo được xác định và thảo luận bởi Richardson và cộng sự (2005), do sai số của các khoản dồn tích, trong phương trình hồi quy tính ổn định của LN, hệ số ổn định trên thành phần dồn tích phải luôn luôn nhỏ hơn hệ số ổn định trên thành phần dòng tiền Ngoài ra, Hao (2009) còn cho thấy các công ty có khoản dồn tích có giá trị thấp sẽ có LN tạm thời cao hơn các công ty có các khoản dồn tích cao, tính ổn định của các khoản dồn tích khác nhau là do sai số ước tính trong các khoản dồn tích
Khác với các nghiên cứu trước ở thị trường phát triển, Abousamak (2018) nghiên cứu mối quan hệ giữa tính ổn định của LN và các thành phần của LN dựa trên khả năng dự đoán LN ở Ai Cập - một thị trường mới nổi sau khi áp dụng Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) Tác giả sử dụng các chỉ tiêu như thay đổi của các khoản dồn tích vốn lưu động, thay đổi dồn tích từ hoạt động tài chính và thay đổi dồn tích từ hoạt động đầu tư Kết quả không phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước, thành phần dồn tích lại ổn định hơn thành phần dòng tiền
Như vậy, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra các khoản dồn tích có ý nghĩa lớn
Trang 32đối với tính ổn định của LN (Allen và cộng sự, 2013; Fairfield và cộng sự, 2003b; Zhang, 2007) Các khoản dồn tích khác nhau có ý nghĩa khác nhau đối với tính ổn định của LN, bao gồm các cách định nghĩa và phân loại các khoản dồn tích; sự khác biệt này có thể cung cấp thêm thông tin về hoạt động của công ty để dự đoán LN trong tương lai và ước tính giá trị doanh nghiệp (Govendir và Wells, 2014)
Khi nghiên cứu ý nghĩa của dòng tiền đến tính ổn định của LN, các bằng chứng cho thấy LN và dòng tiền cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư (Bowen và cộng sự, 1987) Patricia M Dechow (1994) cũng chỉ ra rằng dòng tiền hiện tại cung cấp thông tin về dòng tiền và LN trong tương lai Từ nghiên cứu này, Sloan (1996)
đã khẳng định thành phần dòng tiền có tính ổn định hơn các khoản dồn tích Đây cũng
là kết quả nghiên cứu của các tác giả sau này như Allen và cộng sự (2013), Frankel
và Litov (2009) và Fairfield và cộng sự (2003b) Quá trình chuyển đổi từ dòng tiền thành LN cung cấp thông tin liên quan đến các nhà đầu tư về hiệu suất và giá trị doanh nghiệp dự kiến Các nghiên cứu hỗ trợ cho quan điểm này như Mary E Barth và cộng
sự (2001) phát hiện ra việc phân chia các khoản dồn tích thành các các loại khác nhau
hỗ trợ cho quá trình dự đoán các dòng tiền trong tương lai McBeth (1993) và Jarva (2010) cũng nhận thấy so với các khoản dồn tích, dòng tiền đóng góp yếu hơn trong việc dự đoán dòng tiền trong tương lai Cheng và Hollie (2005) kiểm tra ảnh hưởng tính ổn định của các thành phần trong dòng tiền (bao gồm dòng tiền từ doanh thu, từ giá vốn hàng bán, từ các khoản chi trong quá trình hoạt động, từ lãi vay, từ thuế và từ các hoạt động khác) trong việc dự đoán dòng tiền trong tương lai Phù hợp với phỏng đoán, các tác giả này cung cấp bằng chứng cho thấy các thành phần khác nhau của dòng tiền có ý nghĩa khác nhau trong việc dự đoán dòng tiền trong tương lai, và tính
ổn định của dòng tiền nhìn chung cao hơn các khoản dồn tích Đồng thời, thành phần dòng tiền và dồn tích bổ sung cho nhau trong việc giải thích các dòng tiền trong tương lai (Cheng và Hollie, 2005) Nghiên cứu của Grahama và cộng sự (2005) cho thấy dòng tiền cũng chịu sự thao túng của người quản lý Từ nghiên cứu của Sloan (1996), Patricia M Dechow và cộng sự (2008) chia dòng tiền thành tiền mặt có thể giữ lại trong tài khoản công ty, tiền mặt thanh toán cho các chủ nợ và tiền mặt chi trả cho
Trang 33các chủ sở hữu Patricia M Dechow và cộng sự (2008) giải thích rằng dòng tiền ổn định hơn các khoản dồn tích là do phân phối tiền ròng cho các chủ sở hữu Đồng thời, khi giải thích tính ổn định thấp hơn của thành phần dồn tích so với dòng tiền, ngoài lập luận của Sloan (1996) cho rằng các khoản dồn tích mang tính chủ quan hơn và dễ
bị sai số trong đo lường hơn so với dòng tiền, atricia M Dechow và cộng sự (2008) cung cấp cách giải thích khác, các khoản dồn tích đo lường những thay đổi trong vốn đầu tư và những thay đổi này có liên quan đến các khoản đầu tư quá mức Những cách giải thích này không loại trừ lẫn nhau mà có thể cùng tồn tại
Fairfield và cộng sự (2003a) nhận thấy đối với tài sản tăng trưởng ròng, các khoản dồn tích từ HĐKD thể hiện mối quan hệ chặc chẽ hơn so với dòng tiền từ HĐKD Tuy nhiên, các khoản dồn tích và dòng tiền có ý nghĩa tương đương trong việc dự đoán LN tương lai
Ball và Shivakumar (2005) và Ball và Shivakumar (2006) phát hiện rằng việc ghi nhận lỗ kịp thời (dòng tiền âm) làm tăng sức mạnh của LN trong việc dự đoán dòng tiền trong tương lai Đồng thời, các tác giả còn cho thấy LN phản ứng nhanh hơn đối với tin xấu (dòng tiền âm) so với tin tốt (dòng tiền dương) Tuy nhiên, khác với kết quả này, Kordestani và cộng sự (2016) lại chứng minh so với dòng tiền dương
từ HĐKD, dòng tiền âm không có tác động nào đến LN trong việc dự đoán dòng tiền trong tương lai
Sutisna và Ekawati (2017) xem xét ảnh hưởng của sự biến động các khoản dồn tích và dòng tiền đối với tính ổn định của LN ở cấp độ công ty và ngành Nghiên cứu cho thấy sự biến động của dòng tiền không ảnh hưởng đến tính ổn định của LN ở cấp công ty và ngành Các khoản dồn tích tùy chỉnh và không tùy chỉnh không ảnh hưởng đến tính ổn định của LN ở cấp công ty Tuy nhiên, các khoản dồn tích không tùy chỉnh có tác động cùng chiều đến sự ổn định của LN ở cấp ngành Mức độ ổn định của LN chịu ảnh hưởng nhiều hơn ở cấp ngành so với cấp công ty Do đó, LN cấp ngành chứa nhiều thông tin cơ bản hơn để dự đoán LN trong tương lai
Nghiên cứu trong nước
Khi nghiên cứu các thành phần trong LN, Lê Quang Minh và cộng sự (2013)
Trang 34cho thấy thành phần dòng tiền có xu hướng ổn định hơn so với thành phần dồn tích trong LN công bố của các doanh nghiệp VN Tương tự, Đường Nguyễn Hưng (2014) kết luận rằng độ lớn và sự thay đổi của biến dồn tích hiện tại sẽ tác động mạnh đến biến dồn tích trong tương lai và các khoản dồn tích thì ít ổn định hơn so với dòng tiền, chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn Kết quả NC này cũng cho thấy việc dự đoán LN của các doanh nghiệp cần phải tiến hành đối với từng thành phần của LN và xem xét đến yếu tố ổn định của từng thành phần này để có được kết quả dự đoán LN thực tế hơn Khuong và cộng sự (2019) đã nghiên cứu thành phần tiền mặt cũng như tác động của việc tránh thuế doanh nghiệp đối với việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán VN Kết quả cho thấy việc tránh thuế có mối quan hệ tích cực đáng kể với việc nắm giữ tiền mặt Tương tự, Bùi Quang Hùng và cộng sự (2021) đã chứng minh LN có tính ổn định, các thành phần của nó cũng có tính ổn định và tính ổn định của những thành phần này có ảnh hưởng đến tính ổn định của LN
Những phát hiện này cung cấp một cái nhìn sâu sắc chi tiết hơn về bản chất của các loại LN (cả dòng tiền và các khoản dồn tích) và ý nghĩa của chúng đối với tính
ổn định của LN Việc mô hình hóa đồng thời lỗi đo lường trong dòng tiền và dồn tích
sẽ cung cấp sự hiểu biết về tính ổn định của LN Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng (1) LN có tính ổn định và (2) Các thành phần trong LN có tính ổn định, trong
đó, thành phần dòng tiền có tính ổn định hơn thành phần dồn tích Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về tính ổn định của LN và các thành phần trong LN, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của chúng còn rất hạn chế
1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và của các thành phần trong lợi nhuận
1.1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài
Ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận
Sự khác biệt giữa LN kế toán và thu nhập chịu thuế ảnh hưởng đến chất lượng
LN trên BCTC và do đó, những thông tin này rất hữu ích đối với người sử dụng để
dự báo LN tương lai (Tang, 2006; Hanlon, 2005; Lev và Nissim, 2004) Frankel &
Trang 35Litov (2009) cho thấy LN trở nên ít ổn định hơn do ảnh hưởng của cú sốc kinh tế và các vấn đề trong việc xác định LN kế toán Một số nhà hoạch định chính sách hoặc báo chí cho rằng nên cung cấp thêm thông tin về BTD và các công ty có BTD lớn có thể đang thực hiện hành vi thao túng LN (LN kế toán cao hơn thu nhập chịu thuế) vì mục đích kế toán, hoặc mục đích thuế hoặc cho cả hai (Hanlon và Heitzman, 2010) Các ngân hàng cũng có xu hướng tăng lãi suất, rút ngắn thời gian đáo hạn và yêu cầu tài sản thế chấp đối với các công ty có BTD lớn (Hsu và cộng sự, 2022) Đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành để kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến chất lượng hay tính
ổn định của LN
Thứ nhất, nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận
Các công ty có BTD lớn (tính giá trị tuyệt đối) thì mối quan hệ giữa LN và LN giữ lại yếu hơn, đồng thời, tổng BTD có mối quan hệ cùng chiều với mô hình LN trước đó và tình trạng suy thoái tài chính (Mills và Newberry, 2001) Tương tự, Ayers
và cộng sự (2010) cho thấy sự điều chỉnh trong xếp hạng tín dụng dường như xấu hơn khi công ty có BTD lớn BTD tăng hay giảm tiết lộ thông tin về chất lượng LN và về tài chính ngoại bảng, sự khác biệt đó có thể phù hợp với các tác nhân kinh tế Bằng chứng này phù hợp với lập luận BTD càng tăng (BTD mang giá trị dương càng lớn) báo hiệu chất lượng LN giảm và/hoặc tăng tài chính ngoại bảng Các tác giả cũng thấy rằng BTD càng giảm (BTD mang giá trị âm càng lớn) dẫn đến xếp hạng tín dụng
ít thuận lợi hơn và những thay đổi này báo hiệu chất lượng LN giảm Có thể thấy dấu (âm hoặc dương) và các biến thể (âm hoặc dương) về mức độ BTD cho thấy mức độ thận trọng (đại diện cho chất lượng thông tin kế toán) trong BCTC (Heltzer, 2009) Heltzer (2009) cho thấy các công ty có BTD âm thể hiện tính thận trọng không điều kiện mạnh hơn trong LN kế toán và làm giảm chất lượng LN, vì tính thận trọng không điều kiện có liên quan đến điều chỉnh LN (Qiang, 2007), các công ty ít ghi nhận kịp thời các khoản lỗ kế toán Đổi lại, những công ty có BTD dương là những công ty ghi nhận kịp thời LN, hay nói đúng hơn là giảm tính thận trọng có điều kiện (Heltzer, 2009) Tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện bởi Raedy và cộng sự (2011) tìm thấy bằng chứng cho thấy BTD dường như không cung cấp thêm thông tin giúp các nhà
Trang 36đầu tư dự đoán LN trong tương lai Để cải thiện việc giải thích nội dung của BTD, sẽ rất lý tưởng khi phân tích chúng theo loại, mỗi loại BTD sẽ cung cấp thông tin khác nhau về chất lượng LN trong các BCTC (Y.H.Tang và Firth, 2012; Blaylock và cộng
sự, 2012), từ đó cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư
Thứ hai, ảnh hưởng của BTD tạm thời và vĩnh viễn ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận
Bằng cách tập trung vào các nguyên tắc thuế (được xác định bằng tỷ lệ thu nhập chịu thuế/LN kế toán), Lev và Nissim (2004) cho thấy tổng BTD cung cấp thông tin
về LN trong tương lai, tuy nhiên, chênh lệch tạm thời thì không liên quan đến sự thay đổi LN, trong khi Hanlon (2005) và Phillips và cộng sự (2003) cho thấy BTD tạm thời có mối liên hệ nghịch chiều đến tính ổn định của LN trước thuế Sự không nhất quán này đã mở ra nhiều nghiên cứu trong tương lai Blaylock và cộng sự (2012) và Guenther (2011) mở rộng nghiên cứu của Hanlon (2005), khám phá mối quan hệ giữa BTD tạm thời và tính ổn định của LN trước thuế, kết quả trùng với nghiên cứu của Hanlon (2005) rằng BTD tạm thời có mối quan hệ nghịch chiều tới LN Tuy nhiên, Guenther (2011) còn cho thấy nếu kiểm soát các biến như số năm hoạt động, các khoản mục tạm thời có giá trị lớn, các khoản dồn tích lớn và ROA trước thuế cao thì không có mối liên hệ giữa BTD lớn và tính ổn định thấp của LN Weber (2009) và (Chi và cộng sự, 2014) kế thừa phương pháp của Lev và Nissim (2004), nghiên cứu phản ứng của thị trường đến mối quan hệ giữa BTD tạm thời với thay đổi LN trong tương lai Kết quả cho thấy cả nhà phân tích và nhà đầu tư đều không đánh giá được đầy đủ thông tin có trong BTD dẫn đến việc dự đoán LN trong tương lai sai Mô hình
mở rộng của Jackson (2015), phân chia BTD thành tạm thời và vĩnh viễn, cũng giúp chứng minh rằng kết quả của Lev và Nissim (2004) không phù hợp với kết quả của Hanlon (2005) rằng các công ty có BTD tạm thời lớn có LN ít ổn định hơn Ngay cả khi sử dụng phương pháp của Lev và Nissim (2004), Jackson (2015) cũng thấy rằng BTD tạm thời (thuế thu nhập hoãn lại) liên quan nghịch chiều đến thay đổi LN trước thuế trong tương lai Việc phân chia BTD thành BTD tạm thời và vĩnh viễn được xác định rõ ràng và ước tính mối liên hệ của nó với thay đổi LN trước thuế và thay đổi
Trang 37chi phí thuế trong tương lai giúp ta hiểu rõ hơn về hai dòng nghiên cứu này liên quan đến nhau như thế nào (Jackson, 2015) BTD tạm thời xảy ra khi một sự kiện kinh tế được ghi nhận có cùng giá trị cho mục đích kế toán và thuế tại các thời điểm khác nhau Ngược lại, BTD vĩnh viễn xuất hiện khi một sự kiện kinh tế (doanh thu và/hoặc chi phí) được ghi nhận cho mục đích kế toán, nhưng không được thừa nhận bởi các quy tắc thuế (Lev và Nissim, 2004) BTD tạm thời và vĩnh viễn có thể cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà kinh tế đưa ra quyết định liên quan đến dự báo về kết quả của công
ty trong tương lai (Barth và cộng sự, 2008) Theo Comprix và cộng sự (2010), BTD vĩnh viễn có tương quan mạnh hơn với sự không chắc chắn của người tham gia thị trường liên quan đến kết quả của công ty trong tương lai so với BTD tạm thời; do đó, BTD vĩnh viễn phù hợp để xác định các điều chỉnh BCTC và thuế - điều chỉnh tăng
LN kế toán và giảm thu nhập chịu thuế (Frank và cộng sự, 2009)
Thứ ba, tổng BTD, BTD tạm thời, BTD vĩnh viễn và các biến thể âm và dương của BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của lợi nhuận
Marques và cộng sự (2016) cũng cung cấp bằng chứng cho thấy tổng BTD, BTD tạm thời, BTD vĩnh viễn và các biến thể âm và dương của BTD có thể là thông tin phù hợp với các nhà đầu tư trong các công ty ở Mỹ Latinh để dự báo kết quả trong tương lai Các loại tổng BTD, BTD tạm thời và BTD vĩnh viễn thể hiện các hệ số âm trong mối quan hệ với LN nhằm dự báo kết quả trong tương lai Trái với dự kiến và các nghiên cứu trước, các biến thể tích cực và tiêu cực trong BTD lại thể hiện các hệ
số dương Điều này liên quan đến các khu vực có thị trường vốn với sự bảo vệ nhà đầu tư yếu, sự can thiệp của chính phủ trong việc ban hành các quy tắc kế toán và có lịch sử tuân thủ tài chính và thuế lớn hơn Có thể hiểu, các quốc gia này cung cấp một môi trường thuận lợi cho việc kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu Hơn nữa, vì các quốc gia này có những đặc điểm riêng biệt, họ có thể đưa ra kết quả khác nhau cho các nghiên cứu trước đây về BTD
Thứ tư, ảnh hưởng của thể chế đến mối quan hệ của BTD và tính ổn định của lợi nhuận
Có thể thấy mỗi loại BTD có thể đóng góp theo những cách khác nhau cho các
Trang 38nhà kinh tế về dự đoán LN trong tương lai của các công ty Sự khác biệt giữa các hệ thống pháp lý, nhu cầu về thông tin kế toán, sự khác biệt trong bảo vệ pháp lý cho các cổ đông bên ngoài và sự khác biệt về mức độ tuân thủ kế toán và thuế có thể có tác động đến các lựa chọn kế toán của nhà quản lý (Guenther và Young, 2000) Lý thuyết thể chế cho rằng các công ty có xu hướng áp dụng các thực tiễn được thể chế hóa trong xã hội, với mục đích tăng tính hợp pháp trong thị trường mà công ty hoạt động mà ít xem xét liệu các thể chế đó có phù hợp với các chuẩn mực kế toán hay không (Meyer và Rowan, 1977) Do đó, các loại BTD có liên quan đến LN trong tương lai không chỉ là kết quả của các hoạt động kế toán được thực hiện, mà còn của văn hóa nhà đầu tư và hệ thống chính trị của đất nước và mỗi khu vực tài phán có thể thể hiện các hành vi khác nhau cho mối quan hệ này (Yoon, 2008) Nếu một quốc gia thể hiện sự liên kết mạnh (yếu) của các chỉ tiêu kế toán với các quy tắc thuế có thể dẫn đến việc hạch toán với chất lượng thông tin thấp (cao) Ở những quốc gia có mức
độ tuân thủ kế toán và thuế thấp (cao) hơn, nghĩa là quy định kế toán và thuế khác nhau (giống nhau) nhiều, mức BTD cao hơn (thấp hơn) được xác nhận và thông tin
kế toán (thuế) được các nhà đầu tư đánh giá cao hơn (Yoon, 2008)
Nhìn chung, kết quả khá nhất quán trong các nghiên cứu rằng BTD cung cấp thêm thông tin về chất lượng LN kế toán, cụ thể là tính ổn định của LN Hơn nữa, mối quan hệ giữa các loại BTD khác nhau và LN trong tương lai không có quy luật chung mà mỗi loại BTD sẽ có ý nghĩa khác nhau đối với tính ổn định của LN, tùy vào chính sách kế toán công ty áp dụng, tùy vào các quy định của thuế và môi trường thể chế công ty hoạt động
Ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận
BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của dòng tiền
Các dấu (âm hoặc dương) của BTD được sử dụng như một chỉ số đo lường chất lượng LN và các thành phần trong LN Những thay đổi tiêu cực (BTD mang giá trị
âm càng lớn) hay tích cực (BTD mang giá trị dương càng lớn) đều báo hiệu sự giảm chất lượng của số liệu kế toán và ảnh hưởng đến LN hay dòng tiền trong tương lai (Ayers và cộng sự, 2010; Hanlon, 2005) Do đó, cả hai biến thể (âm hoặc dương)
Trang 39trong BTD đều có tác động đến dự báo số liệu kế toán (Ayers và cộng sự, 2010; Hanlon, 2005) Các công ty có BTD càng cao thì kết quả tài chính càng ít ổn định (Hanlon, 2005; Tang, 2006), điều này chứng minh BTD đóng góp vào sự không chắc chắn của nhà đầu tư về các số liệu kế toán của công ty Do đó, BTD có thể cung cấp thêm thông tin về các thành phần tạm thời của LN hiện tại và dòng tiền trong tương lai Tuy nhiên, tính hữu dụng này có thể bị nghi ngờ, vì thông tin thuế là phức tạp, không đầy đủ và chưa được tiêu chuẩn hóa (Weber, 2009)
Atwood và cộng sự (2010) kiểm tra mức độ phù hợp giữa kế toán và thuế ở các quốc gia khác nhau ảnh hưởng đến tính ổn định của LN và mối quan hệ giữa LN hiện tại và dòng tiền của năm tiếp theo Kết quả cho thấy tính ổn định của LN, mối quan
hệ giữa LN hiện tại và dòng tiền trong tương lai sẽ thấp khi mức độ phù hợp giữa kế toán và thuế cao, nghĩa là BTD càng nhỏ thì dòng tiền càng ít ổn định
BTD ảnh hưởng đến tính ổn định của thành phần dồn tích
BTD cũng ảnh hưởng đến chất lượng LN thông qua các khoản dồn tích với lập luận là các khoản dồn tích kế toán phản ánh nhiều quyền tùy chọn hơn với với luật thuế (Revsine và cộng sự, 1998; Palepu và Healy, 2000; Penman, 2001), do đó, BTD tạm thời phản ánh nhiều thông tin mà luật thuế không cho phép như các khoản dồn tích về nợ xấu, chi phí bảo hành, doanh thu hoãn lại… Nếu BTD lớn biểu thị sự tùy chỉnh trong quá trình ghi nhận các khoản dồn tích thì các công ty có BTD lớn sẽ có
LN và các khoản dồn tích ít ổn định hơn (Xie, 2001) Theo các lập luận này, Hanlon (2005) chỉ ra các công ty có BTD lớn thể hiện LN và các khoản dồn tích ít ổn định hơn so với các công ty có BTD nhỏ vì đến một lúc nào đó, các khoản dồn tích sẽ được hoàn nhập giá trị Hanlon (2005) nhận thấy các nhà đầu tư định giá chính xác tính ổn định của thành phần dồn tích đối với LN trong tương lai, nhưng thực tế lại đánh giá thấp tính ổn định của thành phần dòng tiền đối với LN tương lai Do đó, các nhà đầu
tư đánh giá thấp tính ổn định của LN đối với các công ty có BTD mang giá trị dương lớn Nếu các khoản dồn tích ghi nhận cho mục đích kế toán chứ không phải cho mục đích thuế, lúc này thuế thu nhập hoãn lại phát sinh tăng, có nghĩa là BTD cao hơn và
sự chênh lệch này có thể cho thấy sự gia tăng của các khoản dồn tích kế toán (Blaylock
Trang 40và cộng sự, 2012) Các BTD tạm thời cũng có khả năng cung cấp thông tin về các khoản dồn tích tùy chỉnh, các khoản dồn tích này được ước tính theo mô hình của Jones (1991) để phát hiện điều chỉnh LN (Phillips và cộng sự, 2003; Blaylock và cộng
sự, 2012) Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012) đã phân tích mối quan hệ của BTD tạm thời lớn và tính ổn định của các khoản dồn tích, tác giả nhận thấy rằng các khoản dồn tích tùy chỉnh ít ổn định hơn so với các khoản dồn tích không tùy chỉnh Các nghiên cứu này thường không đề cập đến BTD vĩnh viễn vì BTD vĩnh viễn không được tạo ra từ quá trình dồn tích kế toán
Có thể thấy các loại BTD đều có ý nghĩa khác nhau đối với thành phần dòng tiền và dồn tích trong tương lai Đa phần các tác giả đều chứng minh BTD tạm thời ảnh hưởng nghịch chiều đến tính ổn định của LN và thành phần dồn tích, ảnh hưởng của BTD đến thành phần dòng tiền cũng mang tính quan trọng không kém, tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hiếm và kết quả chưa nhất quán
1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về BTD ảnh hưởng đến chất lượng LN và các thành phần trong
LN chủ yếu theo hai hướng:
Hướng thứ nhất, tác giả trình bày các phương pháp vận dụng khoảng trống giữa nguyên tắc kế toán và thuế khiến nhận định của nhà đầu tư và các bên liên quan về tình hình của công ty bị sai lệch, chẳng hạn như công ty có thể điều chỉnh LN bằng cách lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu - chi phí, thời điểm mua bán tài sản, phương pháp trích khấu hao (Nguyễn Thị Minh Trang, 2011) hoặc phân tích các khoản chi phí làm phát sinh BTD (Chúc Anh Tú, 2014) Thông qua phân biệt các khoản chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn, các nghiên cứu trao đổi về việc trình bày thông tin trên BCTC của doanh nghiệp chính xác và hợp lý hơn (Trần Thị Lan Hương và Ngô Thị Hường, 2017) và nhằm giúp các kế toán viên nắm vững nguyên tắc ghi nhận thuế hoãn lại khi có các tình huống liên quan phát sinh Ngoài
ra, những nghiên cứu trao đổi về thuế thu nhập hoãn lại còn giúp các nhà quản trị nhận thức được việc thực hiện thuế TNDN không ảnh hưởng đến LN sau thuế của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2020) Tương tự, Pham (2020) nghiên cứu