Bên cạnh việc vận động, đấu tranh cho sự công bằng bình đẳng trong mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, dân sự, văn hóa thì quyền được thừa nhận quan hệ hôn nhân về mặt pháp luật của ngư
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA DU LỊCH
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN LUẬT KINH DOANH
HỢP PHÁP HOÁ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thùy Dung
Khóa - Lớp: K47 - HM002
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Sinh viên: Võ Trung Nghĩa, Nguyễn Vũ Khả My
Phạm Thu Huyền, Trần Nguyễn Minh Hiếu
Dương Lâm Tú Quỳnh, Nguyễn Phương Anh
Hoàng Hải Vân Kiều, Nguyễn Hoàng Huy
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục tiêu 5
3 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Kết cấu đề bài 6
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐỊNH NGHĨA VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI VÀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH 1.1 Định nghĩa về đồng tính luyến ái 7
1.2 Định nghĩa về hôn nhân đồng giới 7
CHƯƠNG 2: HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH TRONG QUAN ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT8 2.1 Hôn nhân đồng tính trong quan điểm của pháp luật Việt Nam 8
2.2 Hôn nhân đồng tính trong quan điểm của pháp luật ở các nước khác 9
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH 3.1 Quan điểm của sinh viên ở một số quốc gia trên Thế Giới về hôn nhân đồng tính 11
3.2 Quan điểm của sinh viên Việt Nam về hôn nhân đồng tính 3.2.1 Kết quả khảo sát ý kiến sinh viên về hôn nhân 14
3.2.2 Các quan điểm của thành phần phản đối hôn nhân đồng tính 14
3.2.3 Các quan điểm của thành phần ủng hộ hôn nhân đồng tính 15
CHƯƠNG 4: NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH 4.1.Những nhận định sai khi hợp thức hóa hôn nhân đồng tính 17
4.2.Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính mang lại những lợi ích thế nào? 18
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Cụm từ “Đồng tính” xuất hiện chính xác vào thời điểm nào thì không ai có thể xác định được nhưng mức độ phổ biến đã lan tỏa khắp thế giới ngay cả đối với ViệtNam ta Nhiều quan niệm sai lầm cho rằng “Đồng tính” là một căn bệnh của người hiện đại, khi xã hội phát triển những đứa trẻ có xu hướng chạy theo những phong trào lố lăng, ngộ nhận giới tính của bản thân Tuy nhiên thực tế cho thấy, những người đồng tính đã xuất hiện xuyên suốt qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam nói riêng và khắp thế giới nói chung, chỉ là thời điểm ấy xã hội không đủ cởi mở để công nhận điều đó Năm 1499, Đại Việt Sử ký toàn thư đã chép hoàng tử Lê Tuấn, đương thời ông được phong làm An Vương, tính tình thông minh đĩnh ngộ, học rộng, sức mạnh hơn hẳn người thường Nhưng lại có tật nóng tính, hay thích mặc quần áo con gái Trong thời đại văn học Việt Nam cũng nhắc đến “Mối tình trai” đầy cảm động của Xuân Diệu và Tô Hoài Ngày nay khoa học hiện đại đã chứng minh đồng tính là một xu hướng tình dục bình thường, tự nhiên và là hiện thực của
xã hội loài người, nó không phải là bệnh cần đề phòng và chữa trị Mặc dù vậy
cộng đồng đa dạng tính dục ( cộng đồng LGBTQ+ ) tại Việt Nam vẫn còn phải đối
diện với sự kỳ thị, phân biệt đối xử ở mức phổ biến được thể hiện dưới nhiều hình thức từ xã hội đến cộng đồng, từ nơi làm việc thậm chí cả trong gia đình của họ Những năm trở lại đây, vấn đề về quyền của người đồng tính tại Việt Nam đã được chú trọng quan tâm và giải quyết nhiều hơn trước Bên cạnh việc vận động, đấu tranh cho sự công bằng bình đẳng trong mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, dân
sự, văn hóa thì quyền được thừa nhận quan hệ hôn nhân về mặt pháp luật của ngườiđồng tính là một vấn đề cấp thiết và gây tranh cãi nhiều hơn cả Mặc dù Điều 16 của Hiến pháp năm 2013 nước ta đã khẳng định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống, chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” và cũng tại Điều 14 có quy định về quyền con người “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” theo đó pháp luật Việt Nam không cho phép bất
cứ sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng nào vì lý do giới tính hay xu hướng tình dục
cá nhân nhưng đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp lý của Việt Nam thừa nhận hôn nhân đồng giới Trong định nghĩa về hôn nhân pháp luật cũng chỉ quy định đây
là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn
Những năm trở lại đây, vấn đề về quyền của người đồng tính tại Việt Nam đã được chú trọng và cần phải được giải quyết nhiều hơn trước Bên cạnh việc vận
Trang 4văn hóa thì quyền được thừa nhận quan hệ hôn nhân về mặt pháp luật của người đồng tính là một vấn đề cấp thiết và gây tranh cãi nhiều hơn cả Mặc dù Điều 16 của Hiến pháp năm 2013 nước ta đã khẳng định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống, chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” và cũng tại Điều 14 có quy định về quyền con người “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” theo đó pháp luật Việt Nam không cho phép bất
cứ sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng nào vì lý do giới tính hay xu hướng tình dục
cá nhân nhưng đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào của Việt Nam thừa nhận hôn nhân đồng giới Trong khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 định nghĩa “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” và cũng theo khoản 5 điều này “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau
theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Trên thế giới đã có những quốc gia tiên phong công nhận hôn nhân đồng giới hợp pháp như Đài Loan, Nam Phi và một số nước thuộc liên minh Châu Âu, bên cạnh đó một số quốc gia cũng có sự thay đổi chính sách đáng chú ý về hôn nhân đồng tính là Hoa Kỳ Điều đó cho thấy thái độ cởi mở, thể hiện tính nhân văn, đề cao quyền con người của nhân loại Việt Nam là một nước coi trọng truyền thống gia đình, thuần phong mỹ tục nhưng đến hiện nay vẫn không còn quá khắt khe với vấn đề trên Quan hệ hôn nhân là một mối quan hệ được pháp luật dân sự tại Việt Nam quy định rất rõ ràng và chặt chẽ Trong đó vấn đề thừa nhận quan hệ hôn nhânđồng tính đã được Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bảnpháp lý liên quan điều chỉnh một cách chi tiết và phù hợp với thực tiễn Cụ thể tại nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, Hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì Điều 48 có quy định về những hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng (mức phạt từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng) thì hành vi “kết hôn giữa những người cùng giới tính” đã được bãi bỏ Khoản 5 Điều 10 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn với “giữa những người cùng giới tính”,
tuy nhiên từ ngày 1/1/2015, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 có hiệu lực Quốc hội đã bãi bỏ điều cấm này và thay bằng Điều 8, khoản 2 là “Nhà nước
không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Theo đó những
người đồng giới vẫn có thể chung sống, tổ chức hôn lễ nhưng dưới con mắt pháp luật thì không được coi là vợ chồng và không thể đăng ký kết hôn với cơ quan nhà nước, đồng thời những vấn đề tranh chấp về tài sản chung, cũng không được pháp luật xử lý
Trang 5Việc cởi mở nhưng không thừa nhận chính thống hôn nhân đồng tính trong phápluật tại Việt Nam cũng dẫn đến những vấn đề bất cập Thực tiễn xét xử của Tòa án trong thời gian qua cho thấy đã có một số vụ việc tranh chấp về tài sản giữa những người đồng tính quan hệ sống chung, nhưng chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết tranh chấp Bên cạnh đó tại điểm a, điểm b và điểm e khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 về các nguyên tắc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, quy định cấm “Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo, lừa dối, cản trở
kết hôn, lừa dối, cản trở ly hôn” tuy nhiên hiện nay một số người đồng tính vì áp
lực gia đình, xã hội, sự cản trở của pháp luật nên chấp nhận kết hôn với người khác giới, hay người bạn đời kết hôn với người đồng tính không biết sự thật về xu hướngtình dục của chồng/vợ mình thì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ cũng như điều kiện cấm kết hôn giả tạo Hơn nữa việc kết hôn, chung sống với người mình yêu là nhu cầu chính đáng và cơ bản của con người, kể
cả người đồng tính, đây là một vấn đề về đạo đức và nhân quyền, nếu pháp luật không thừa nhận thì có đang đối xử công bằng với cộng đồng này hay không? Với tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ này đòi hỏi pháp luật phải có những thay đổi nhất định để đảm bảo thực thi tốt trong xã hội Do đó nhóm
6 chúng tôi quyết định chọn đề tài “Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính tại Việt Nam” để có những cái nhìn khách quan dựa trên những cơ sở luận cứ khoa học nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là để xem xét và làm rõ một số các quy định từ đó đưa ra những hạn chế, bất cập của pháp luật ở nước ta hiện nay, qua đó hoàn thiện hơn nữa pháp luật dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân giúp cho hoạt động quản
lý của Nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn dựa trên hai phương diện lý luận và thực tiễn Bên cạnh đó, bài nguyên cứu còn dựa trên tìm hiểu, khảo sát nhu cầu và
ý kiến thực tế của cộng đồng sinh viên đối với vấn đề hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới tại Việt Nam từ đó đưa ra quan điểm và cái nhìn chung cho toàn xã hội về vấn
đề trên Đồng thời đưa ra những khuyến nghị và các hoạt động vận động hướng tới việc sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình tiến tới lộ trình thừa nhận quyền được kết hôn đồng giới của các cặp đôi tại Việt Nam, khẳng định tính bình đẳng và nhân quyền cho mọi công dân
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài “Hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Việt Nam”
là nghiên cứu về các quy tắc pháp luật cũng như quyền và quy định đối với việc kếthôn đồng giới ở Việt Nam để được hợp pháp hóa bởi mong muốn của họ là có thể
Trang 6được tôn trọng và đối xử bình đẳng như những người dị tính1, nhằm tạo nên sự bình đẳng trong cộng đồng giới tính thứ 3 hay còn gọi là cộng đồng LGBTQ+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chú trọng vào việc khai thác sâu về các vấn đề
lý luận và thực tiễn của việc được hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính ở Việt Nam và quan điểm về của các bạn trẻ hiện nay nói chung và sinh viên UEH nói riêng Bằng việc khảo sát các bạn sinh viên để từ đó có thể mang lại cái nhìn từ tổng quát đến
cụ thể một cách khách quan nhất về việc chấp nhận chính thức mối quan hệ hôn nhân đồng giới ở nước ta Thông qua các đề xuất hợp lý để xem xét và điều chỉnh pháp luật trong quan hệ đồng tính, góp phần hợp pháp hóa hôn nhân hiện nay ở Việt Nam
4 Kết cấu đề bài
Cấu trúc phần nội dung của bài tiểu luận bao gồm 4 chương:
Chương 1: Lý thuyết chung, các định nghĩa
Chương 2: Thực trạng, quan điểm trong pháp luật
Chương 3: Thực trạng, quan điểm trong giới trẻ, điển hình là sinh viên
Chương 4: Đưa ra giải pháp và nhìn nhận đúng đắn về hôn nhân đồng giới ở Việt Nam
1 Người bị thu hút bởi người khác giới
Trang 7Chương 1
Định nghĩa về đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng giới
1.1 Định nghĩa về đống tính luyến ái
Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính (Homosexuality) chỉ việc bị hấp dẫn trênphương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau Nó bắt nguồn từ từ homos trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “giống nhau”
Đồng tính được chia ra làm hai nhóm là đồng tính nam và đồng tính nữ:
Đồng tính nữ trong tiếng Anh gọi là Lesbian, viết tắt là Les Họ là những người
có giới tính sinh học là nữ và nhận thức bản thân là nữ nhưng lại bị hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục với người nữ cùng giới
Còn đồng tính nam còn được gọi là Gay, là những người sinh ra có giới tính sinh học là nam và nhận thức bản thân cũng là nam giới Và họ bị hấp dẫn bởi những người nam cùng giới
Về mặt giải phẫu sinh học, giải phẫu cơ thể nói chung, người đồng tính luyến ái là một người bình thường, có đầy đủ các đặc tính sinh học của một người nam hay người nữ Họ vẫn xác định được mình là nam hay nữ và rất hiểu về cơ chế sinh họccủa mình Điều khác biệt nhất ở đây là cảm xúc của họ hay còn gọi là xu hướng tính dục
1.2 Định nghĩa về hôn nhân đồng giới
Hôn nhân đồng giới (hay còn gọi là hôn nhân đồng tính) là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học hay giới tính xã hội Họ có thể tổ chức hôn lễ theo thủ tục hôn nhân truyền thống và chung sống với nhau như vợ chồng
Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là “hôn nhân bình đẳng” hay “bình đẳng hôn nhân”, thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến từ những người ủng hộ
Trang 8Chương 2
Hôn nhân đồng giới trong quan điểm của pháp luật
2.1 Hôn nhân đồng giới trong quan điểm của pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề lập pháp về hôn nhân giữa những người cùng giới tính được tranh luận rất sôi nổi, có hai luồng quan điểm trái chiều là nên công nhận hay
không nên công nhận hôn nhân này Công nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính là một vấn đề chính trị, xã hội, nhân quyền và quyền công dân, cũng như vấn đề tôn giáo ở nhiều quốc gia và trên thế giới Liệu rằng, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính ở Việt Nam là phù hợp?
Tại thời điểm này ở Việt Nam, các nhà làm luật, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động
xã hội, bác sĩ, luật sư đang lên tiếng tranh luận và đưa ra những ý kiến có nên ủng
hộ việc công nhận kết hôn đồng giới trong Luật Hôn nhân và Gia đình Cụ thể hiện tại có rất nhiều luồng quan điểm về hôn nhân giữa những người có cùng giới tính, nhưng trong đó có hai quan điểm chính trái chiều và mỗi quan điểm đều có những lập luận riêng bảo vệ cho quan điểm đó:
Thứ nhất, quan điểm công nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng
giới tính Quan điểm này được đưa ra từ những lập luận dựa trên yếu tố tâm sinh lý
và quyền con người được quy định tại Điều 3 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 Xét dưới góc độ con người thì người đồng tính
cũng có quyền được kết hôn, quyền được mưu cầu hạnh phúc như tất cả mọi người.Bởi pháp luật được xây dựng nhằm bảo vệ các giá trị con người nên không thể vì
sự khác biệt về xu hướng tình dục mà chối bỏ quyền con người của họ Bên cạnh
đó, đồng tính không phải là một căn bệnh nên người đồng tính hoàn toàn có quyền lựa chọn việc xác lập quan hệ hôn nhân theo ý chí của mình
Thứ hai, quan điểm không công nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có
cùng giới tính Quan điểm này chủ yếu dựa trên nguyên tắc bảo vệ các giá trị về văn hóa, tôn giáo và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam Giá trị hôn nhân truyền thống bị phá vỡ, mất đi bản sắc dân tộc truyền thống vốn có
Nếu trước đây, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc kết hôn giữa những người đồng giới bị cấm Từ 1/1/2015, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 có hiệu lực Quốc hội đã bỏ điều cấm này và thay bằng Điều 8, khoản 2 là: “ Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới
tính” Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cấm kết hôn đồng giới, Luật
Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những
người cùng giới tính” từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy
định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều
Trang 98) Theo báo Tuổi Trẻ, những người đồng tính vẫn có thể chung sống, nhưng pháp
luật sẽ không xử lý khi giữa họ có tranh chấp xảy ra
“Không thừa nhận” có nghĩa rằng pháp luật không cho phép người đồng giới đăng ký kết hôn tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay được coi như vợ - chồng với các quyền và nghĩa vụ tương ứng
Như vậy, theo quy định trên thì hôn nhân đồng tính không còn bị cấm Người đồng tính có thể tổ chức hôn lễ, chung sống với nhau nhưng dưới con mắt pháp luậtthì không được coi như vợ chồng và không thể đăng ký kết hôn với cơ quan nhà nước
2.2 Hôn nhân đồng tính trong quan điểm của pháp luật các nước khác
Những nước hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới:
Liên Hiệp Quốc coi “Quyền LGBTQ+” ( các quyền đối với cộng đồng
LGBTQ+ như: công nhận hôn nhân đồng giới đối với người đồng tính, cho phép chuyển đổi giới tính với người chuyển giới, công nhận hay cho phép các cặp đôi thuộc cộng đồng này sinh con, nhận con nuôi… trong luật pháp ) là vấn đề nhân quyền (quyền con người) và cần thực hiện tại các quốc gia, vùng lãnh thổ
Năm 2021, trong số 204 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, hôn nhân đồnggiới được thực hiện hợp pháp và được công nhận ở 29 quốc gia (trên toàn quốchoặc ở một số khu vực pháp lý)
Một số quốc gia tiêu biểu:
Hà Lan là một trong những quốc gia hàng đầu trong việc ghi nhận các xu hướng
mới về quyền con người Đây cũng là quốc gia đầu tiên công nhận hôn nhân giữanhững người cùng giới tính vào ngày 01 tháng 4 năm 2001 Theo đó Bộ Luật Dân
sự Hà Lan cũng được sửa đổi để phù hợp Tại điều 30 của Bộ Luật Dân sự Hà Lan
Trang 10được đổi thành: “Một hôn nhân có thể được xây dựng bởi hai người cùng giới hoặckhác giới” đồng thời cho phép các cặp đông đồng tính nhận nuôi con nuôi Ngaysau đó, vào ngày 1/4/ 2001, bốn cuộc hôn nhân đồng giới hợp pháp đầu tiên trênthế giới đã được diễn ra ngay trong đêm dưới sự chứng kiến của thị trưởngAmsterdam Sáu tháng sau khi luật được thông qua, đã có 2.414 cặp đồng tính kếthôn trong đó 1.339 cặp đồng tính nam và 1.075 cặp đồng tính nữ Một kỷ nguyênmới về quyền của người đồng tính được mở ra, đồng thời được xem là “phát súng”đầu tiên cho phong trào đòi quyền bình đẳng cho những người đồng tính trên toànthế giới.
Một trong những sự kiện đáng quan tâm nhất của cộng đồng LGBTQ+ ở Châu
Á trong năm 2019 vừa qua là sự kiện Đài Loan đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng
giới vào ngày 24 tháng 5 năm 2019 với tỷ lệ phiếu là 66 - 27 phiếu
Trước đó vào ngày 24 tháng 5 năm 2017, Tòa án Hiến pháp đã ra phán quyếtcho các cặp đôi đồng giới có thể kết hôn theo Hiến pháp Và yêu cầu sửa đổi Luậthôn nhân gia đình trong thời gian 2 năm để phù hợp với hiến pháp nước này Tuynhiên việc sửa đổi luật bị đình trệ do sự phản đối từ nhiều phe khác nhau Sau quá
trình đấu tranh trong suốt 2 năm, lúc 13h chiều ngày 24 tháng 5 năm 2019, Nghị viện Đài Loan chính thức thông qua luật cho phép kết hôn đồng giới Hàng nghìn
người ủng hộ đạo luật hôn nhân đồng giới đã bất chấp trời mưa tập trung trước Lậppháp viện Đài Loan để chờ đợi giây phút đạo luật được thông qua Đánh dấu cột
mốc mới cho những người đồng tính ở Đài Loan Đài Loan trở thành quốc gia châu Á đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân giữa những người cùng giới tính.