1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) THẢO LUẬN học PHẦN LỊCH sử ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM đề tài phân tích thành tựu về kinh tế trong 30 năm đổi mới của việt nam

29 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành tựu về kinh tế trong 30 năm đổi mới của Việt Nam
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Ngọc Diệp
Trường học Trường đại học Thương Mại
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 283,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, Đảng ta đã xác địnhđường lối kinh tế dựa trên đường lối phát triển chung của đất nước, chủ trương kinh tế được xác định: “Đẩy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đề tài: Phân tích thành tựu về kinh tế trong 30 năm đổi mới của Việt Nam.

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Diệp

Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Mã lớp học phần: 2177HCMI0131

Hà Nội, 2021

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM 2

Môn học: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Giáo viên phụ trách: Cô Nguyễn Ngọc Diệp

Đề tài : “Phân tích thành tựu về kinh tế trong 30 năm đổi mới của Việt Nam”

17 Lê Nguyễn Hương Giang

18 Lê Thị Hương Giang

19 Tiêu Thị Giang

20 Nguyễn Thị Hà

Cụ thể:

-Ngày 20/09/2021: Cả nhóm tìm hiểu đề tài và đưa ra ý kiến về đề tài thảo luận

-Ngày 26/09/2021: Phân công công việc cho cả nhóm Cả nhóm làm đề tài và khai thác

đề tài thảo luận

Làm Word: Phạm Trần Phương Duyên

Làm Powerpoint: Lê Nguyễn Hương Giang

Thuyết trình: Nguyễn Trần Mai Chi

Nhóm phản biện: Cả nhóm

Trang 3

-Ngày 29/10/2021: Chỉnh sửa và đưa ra bản Word và Powerpoint cuối cùng cho đề tài thảo luận.

Nhận xét: Kết thúc thảo luận, các thành viên trong nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ được

giao và nộp đúng hạn Các thành viên đoàn kết, tích cực cho ý kiến giúp bài thảo luậnhoàn thiện hơn Mọi người đều có trách nhiệm làm việc với thái độ nghiêm túc và đạthiệu quả công việc tốt nhất

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2021

Nhóm trưởng

Chi Nguyễn Trần Mai Chi

Trang 4

BẢNG ĐIỂM THẢO LUẬN NHÓM 2

Lớp HP: 2177HCMI0131

Điểm TB nhóm: Điểm tổng nhóm:

STT Họ và tên Lớp HC Chức vụ Điểm thảo luận

Trang 5

MỤC LỤC

Lời mở đầu

I Tình hình kinh tế Việt Nam trước thời kì đổi mới giai đoạn 1975-1986……….7

II Thành tựu về kinh tế Việt Nam trong 30 năm đổi mới 8

1 Nội dung cơ bản của chủ trương đổi mới nền kinh tế của Đảng (từ tháng 12 năm 1986) 8

2 Tư duy kinh tế của Đảng qua các kỳ đại hội 12

3 Thành tựu kinh tế trong 30 năm đổi mới 16

III Những vấn đề tồn tại trong quá trình đổi mới nền kinh tế của Đảng ta 17

và phương hướng giải quyết 17

1 Những vấn đề tồn tại trong quá trình đổi mới nền kinh tế của Đảng ta 18

2 Phương hướng giải quyết 20

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 6

Lời mở đầu

Cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới có nhiều biến đổisâu sắc Cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 đã làm cho nền kinh tế thế giới lâmvào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng Đến đầu thập kỉ 90, khi các nướcTBCN kịp thời điều chỉnh, thực hiện các chính sách cải cách kinh tế xã hội kết hợp sửdụng thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ nên đã vượt qua được nhữngkhó khăn, kinh tế dần hồi phục và có bước tăng trưởng đáng kể Trong khi đó, nhiềunước XHCN cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, kinh tế bị trì trệ trầm trọng.Nhờ học hỏi từ thành công của các nước TBCN, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tiếnhành cải tổ, cải cách và đổi mới để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng

Ở Việt Nam, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh nhữngthành tựu đã đạt được trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước, chúng ta cũng gặp không ítkhó khăn, thách thức Chịu ảnh hưởng của khủng hoảng 1973 và hậu quả của chiến tranh;

bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận; chiến tranh biên giới … đã làm cho tình hìnhkinh tế - xã hội nước ta ngày càng đi xuống Bên cạnh đó, kế hoạch 5 năm (1976 – 1980)

do Đảng đề ra đã vấp phải một số sai lầm, khuyết điểm chủ yếu do tư tưởng chủ quan,nóng vội muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn, việc bố trí sai

cơ cấu kinh tế, cộng với những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quanliêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ, làm cho tình hình kinh tế-xã hội rơi vào trì trệ, khủnghoảng và mất cân đối lớn

Cuối những năm 70, ở một số địa phương bước đầu có những tìm tòi, thử nghiệmcách làm ăn mới, đưa ra những lời giải đáp cho những vấn đề do thực tiễn đặt ra Quanhững thành công bước đầu đạt được trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm đó, Đảng vànhân dân ta càng nhận thấy sự cần thiết đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, đổi mớicách làm nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách có hiệu quả hơn Vì vậy, trong Đạihội VI năm 1986, Đảng khẳng định đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sựnghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn Việc đề ra đường lối đổi mới toàn diệnđất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo và phongcách của Đảng; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị và các lĩnh vực khác của đờisống xã hội có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trang 7

I Tình hình kinh tế Việt Nam trước thời kì đổi mới giai đoạn 1975-1986

Đại thắng mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta kếtthúc thắng lợi đã mở ra một thời kỳ phát triển mới, một kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên củađộc lập, tự do, hòa bình, phát triển và thống nhất để cả nước cùng đi lên XHCN

Trong giai đoạn này, cũng giống như các nước XHCN khác, Việt Nam thực hiệncông cuộc xây dựng đất nước theo mô hình XHCN được quan niệm lúc bấy giờ Cơ cấuquản lý kinh tế của nước ta là tập trung bao cấp Theo đó, nền kinh tế tồn tại là nền kinh

tế mệnh lệnh, chỉ huy Đảng và Nhà nước chỉ chấp nhận hai thành phần kinh tế: thànhphần kinh tế Nhà nước và thành phần kinh tế tập thể Các thành phần kinh tế tư nhânkhông được phép tồn tại và hoạt động

Nền kinh tế của một nước phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượngsản xuất Sự phát triển của nền kinh tế cũng phản ánh sự phù hợp của hai yếu tố trên Ởnước ta giai đoạn này, trong khi lực lượng sản xuất còn mang tính chất phát triển khôngđồng đều, sản xuất nhỏ thủ công là phổ biến, trình độ phân công lao động và xã hội hoárất thấp thì chúng ta lại xây dựng nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy làm triệt tiêu động lựcphát triển kinh tế, không khai thác được năng lực sản xuất xã hội Nhà nước chỉ ưu tiên,chú trọng bảo hộ cho kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, coi hai thành phần kinh tếtrên là kinh tế XHCN, còn các thành phần kinh tế khác bị coi là mầm mống của CNTBnên bị xoá bỏ hoàn toàn

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, Đảng ta đã xác địnhđường lối kinh tế dựa trên đường lối phát triển chung của đất nước, chủ trương kinh tế

được xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn

xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công-nông nghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng” Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ của

Đảng là chưa rõ ràng, hơn nữa, Đảng đã phạm sai lầm trong việc xác định bước đi về xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo XHCN, về việc áp dụng cơ cấu quản lý kinh tế.Trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, công nghệ lạc hậu, nước ta còn dựa vàosản xuất nông nghiệp là chính, Đảng lại chủ trương phát triển công nghiệp nặng Điềunày không phù hợp với tình hình thực tiễn Chúng ta đã quá nóng vội trong những bước

Trang 8

quá độ Nước ta có xuất phát điểm là một nước tiền TBCN tiến lên CNXH, vì thế trình độphát triển của lực lượng sản xuất rất thấp, cần phải trải qua nhiều bước quá độ nhỏ.Nhưng chúng ta lại thực hiện ngay những đường lối phát triển như một nước có nền kinh

tế phát triển cao Điều này là không đúng với quy luật phát triển của lịch sử

Nhìn chung trong thời kỳ này, do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, mước ta đã saochép rập khuôn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ cấu quản lý kinh tế của các nướcXHCN Có thể nói, nền kinh tế mệnh lệnh – chỉ huy mang tính chất tập trung, quan liêu,bao cấp là phù hợp với hoàn cảnh có chiến tranh Tuy nhiên, khi đất nước thống nhất,thời kỳ quá độ được thực hiện trong phạm vi cả nước, nền kinh tế tập trung bao cấp nàykhông còn phù hợp với hoàn cảnh Nó làm nảy sinh tình trạng quan liêu hoá và điều này

đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ sự phát triển kinh tế, xã hội Nền kinh tế đất nướcrơi vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, khủng hoảng: Công nghiệp yếu kém, manh mún thiếurất nhiều ngành công nghiệp tiêu dùng… Nền nông nghiệp không đủ chi dùng trongnước, phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thường xuyên khiến chocán cân xuất nhập khẩu luôn thâm hụt mất cân đối, thu không đủ chi, dẫn đến phải đi vay

từ nước ngoài Hậu quả nghiêm trọng phải kể đến là hai cuộc đổi tiền năm 1975 do Cộnghòa Miền Nam Việt Nam thực hiện và năm 1978 trên toàn quốc để thực thi “đánh tư sảnmại bản” đã tiêu diệt vốn liếng của người dân và làm xáo trộn kinh tế trầm trọng

Nhận thấy được tình hình trên, tại Đại hội V (1982), Đảng ta chỉ ra những khuyếtđiểm, hạn chế của giai đoạn 1976-1980, từ đó Đại hội đề ra đường lối phát triển kinh tếtrong chặng đường trước mắt giai đoạn 1981-1985 Giai đoạn này cần tập trung phát triểnnông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xãhội chủ nghĩa, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành côngnghiệp nặng quan trọng trong cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý… Tuy nhiên, thời kỳ1981-1985, kinh tế Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là cơ bản ổnđịnh tình hình kinh tế-xã hội, ổn định đời sống nhân dân Tổng điều chỉnh giá – lương –tiền cuối năm 1985 đã làm nền kinh tế – xã hội nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng: tìnhtrạng lạm phát trầm trọng (cao nhất là năm 1985 với tỉ lệ lạm phát là 600%), sản xuất trìtrệ, hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống của người lao động rất khó khăn…Quần chúng giảm lòng tin với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước Điềunày đã tạo áp lực lớn đối với sự phát triển của đất nước Do đó, sự nghiệp đổi mới đượcbắt đầu ngay từ áp lực này

Các bước đột phá tháng 8/1979, tháng 6/1985 và tháng 8/1986 phản ánh sự pháttriển nhận thức từ quá trình khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn, từ sáng kiến và nguyện vọnglợi ích của nhân dân để hình thành đường lối đổi mới

Trang 9

Tổng kết 10 năm 1975-1986, Đảng ta đã khẳng định 3 thánh tựu nổi bật: Một, thựchiện thắng lợi chủ trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước; Hai, đạt được nhữngthành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; Ba giành thắng lợi to lớn trong sựnghiệp bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Những thành tựu trên đã tạo cho cáchmạng nước ta những nhân tố để tiếp tục tiến lên Bên cạnh những thành tựu đã đạt được,vẫn còn tồn tại những sai lầm hạn chế, đó là không hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xãhội do Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đề ra Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế -

xã hội kéo dài; sản xuất tang chậm và không ổn định; lạm phát tang cao và kéo dài Đấtnước bị bao vây, cô lập, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, lòng tin đối với Đảng, Nhànước, chế độ giảm sút nghiêm trọng Để xảy ra những khuyết điểm trên là do nước ta xâydựng từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, bị bao vây, cấm vậnnhiều năm, nguồn viện trợ từ nước ngoài giảm mạnh; hậu quả nặng nề của 30 năm chiếntranh chưa kịp hàn gắn thì chiến tranh ở hai đầu biên giới đất nước làm nảy sinh nhữngkhó khăn mới Ngoài ra, nó còn do những sai lầm của Đảng trong đánh giá tình hình, xácđịnh mục tiêu, bước đi, sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế; sai lầm trong cải tạo xã hộichủ nghĩa, trong lĩnh vực phân phối, lưu thông; duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan lieubao cấp; buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội và trongđấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại nhiều mặt của địch

II Thành tựu về kinh tế Việt Nam trong 30 năm đổi mới

1 Nội dung cơ bản của chủ trương đổi mới nền kinh tế của Đảng (từ tháng 12 năm 1986)

Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Nam đượchoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước đang cùng nhau đi lên chủ nghĩa xãhội Thực trạng kinh tế của miền Nam là một nền kinh tế hỗn hợp giữa sản xuất hàng hóanhỏ đa sở hữu do thời kỳ thực dân Pháp đô hộ để lại kết hợp với kinh tế thực dân kiểumới do Mỹ du nhập Kinh tế miền Bắc sau 20 năm giải phóng (1954-1974), tuy đã có mộtbước phát triển nhưng vẫn là một nền sản xuất nhỏ lạc hậu được xây dựng theo mô hìnhkinh tế của Liên Xô cũ và một số nước XHCN Đông Âu Từ những thực trạng kinh tế đó,dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh,khôi phục và phát triển kinh tế, từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủnghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Các chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng trong 30năm đổi mới được bắt đầu từ tháng 12/1986, được Đảng đề ra chính sách, chủ trương quatừng các Đại hội Đại biểu toàn quốc

Tháng 12/1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành tại

Hà Nội, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ, đa cả nước tiến lên xã hội

Trang 10

chủ nghĩa Đặc biệt Đảng đã xác định đúng trọng tâm, trọng điểm và bước đi trong quátrình đổi mới kinh tế Thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, Đảng lấy đổi mới kinh tế làmtrọng tâm Trên cơ sở phân tích, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tưduy lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn Tại Đại hội Đảng lần thứ VI(tháng 12/1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới về quan điểm chính sách kinh tế:

Một là, chuyển đổi từ chính sách đơn thành phần sở hữu sang nền kinh tế nhiều

thành phần với sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu nhằm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế

Hai là, chuyển từ cơ chế Nhà nước trực tiếp điều khiển các hoạt động của nền kinh

tế thị trường với sự quản lý của Nhà nước mang tầm vĩ mô, bảo đảm quyền tự chủ kinhdoanh của từng doanh nghiệp

Ba là, chuyển từ kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp sang kinh tế mở cửa với thế

giới bên ngoài

Kết quả là cuối năm 1988, chế độ phân phối theo tem phiếu đã được xóa bỏ Lươngthực từ chỗ thiếu triền miên Từ một nước phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo (1988) thì đếnnăm 1989, không chỉ đã đáp ứng được nhu cầu mà nước ta còn dự trữ và xuất khẩu Hàngtiêu dung đa dạng, lưu thông tương đối thuận lợi Đến năm 1991, lạm phát từ 774,7%năm 1986 giảm xuống còn 67,1% Từ Đại hội VI trở đi, nền kinh tế nước ra từ một nềnkinh tế thuần nhất trở thành một nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần Các thành phầnkinh tế đó bao gồm: Kinh tế xã hội chủ nghĩa với khu vực quốc doanh và khu vực tập thể,cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó và các thành phần kinh tếkhác bao gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể, nhữngngười buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhànước dưới nhiều hình thức mà hình thức cao là công tư hợp danh; kinh tế tự nhiên, tựcấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng khác

Tiếp đó, để phù hợp với đổi mới kinh tế, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIIcủa Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991 Xuất phát từ đặc điểmtình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội Đại hội VII của Đảng đã đề ra chủ trương đổi mới kinh tế:

Một là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại

gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từngbước xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năngsuất lao động và cải thiện đời sống nhân dân

Trang 11

Hai là, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996),Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược- xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc xã hội chủ nghĩa đã nhấn mạnh: “Nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới,

thời kỳ phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Đại hội Đảng đề ra nhiệm vụ, mục tiêu

của kế hoạch 5 năm 1996-2000 về chủ trương đổi mới kinh tế:

Một là, thực hiện đồng thời ba mục tiêu về kinh tế: tăng trưởng cao, bền vững và có

hiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị các tiền đề cho bước phát triển caohơn sau năm 2000

Hai là, tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều

thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo Định hướng

Xã hội chủ nghĩa; phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợptác từ thấp đến cao, triển khai thực hiện Luật hợp tác xã Mở rộng các hình thức liêndoanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước Phát huykhả năng của kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân

Ba là, kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội- văn hoá, tập trung

giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo được chuyển biến rõ nét về thực hiện côngbằng và tiến bộ xã hội

Bốn là, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu quả sử

dụng các nguồn lực vừa phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, vừa phục vụ quốc phòng,

an ninh

Trang 12

Năm là, kết hợp phát triển các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác, tạo điều

kiện cho các vùng đều phát triển, phát huy được lợi thế của các vùng, tránh chênh lệchquá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng

Như vậy, Đại hội VIII của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu cột mốc pháttriển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta Đảng đã đưa ra những chủtrương mới giúp đất nước vượt qua khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực từ tháng7-1997 Cho đến năm 2000, kinh tế đất nước tang trưởng khá với tổng sản phẩm trongnước (GDP) tang bình quân hang năm 7% Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt làsản xuất lượng thực Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hang năm tang 13,5% Cácngành dịch vụ, xuất và nhập khẩu đều phát triển

Trong bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XXI, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổimới đất nước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 năm 2001) đã đề

ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2001-2005) vàchiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010) nhằm đưa nước ta thoát khỏitình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạonền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại

Đường lối kinh tế của Đảng được Đại hội thông qua là: “Đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ

và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh” Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, thực hiện

nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu

tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước và giải quyết tốtcác vấn đề xã hội

Chủ trương đổi mới nền kinh tế của Đảng lần thứ IX đó là định hướng phát triển cácngành kinh tế và các vùng kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là cốt lõi của chiến lược kinh tế,

là nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế quốc dân Chủ trương đổi mới nền kinh

tế phát huy lợi thế để phát triển tạo nên thế mạnh của từng khu vực, từng vùng theo cơcấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước Tại Hội nghị

Trang 13

trung ương V khoá IX ra nghị quyết: tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảkinh tế tập thể; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện pháttriển kinh tế tư nhân, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; khẳng định kinh tếtập thể với nhiều hình thức đa dạng Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài trongphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những năm 2001-

2006, mặc dù tình hình thế giới diễn biến phức tạp, một số nước có những bất ổn vềchính trị, kinh tế giảm sút nhưng Việt Nam vẫm có nền kinh tế ổn định

Vào thời điểm sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta đã trải qua 20 năm Đại hội X củaĐảng tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm, định ra những phươnghướng, mục tiêu và nhiệm vụ để phát triển nền kinh tế đất nước trong 5 năm tới (2006-2010) Đảng chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, chủđộng tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Đây là thể hiện bước tiến về nhận thức của Đảng

ta, bắt kịp xu thế phát triển mới của thế giới

Về các thành phần kinh tế, Đại hội X chỉ rõ có 5 thành phần, đó là: kinh tế nhànước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo- là lực lượng vật chất quantrọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế Đại hội thông qua nhiều quyếtsách quan trọng và khẳng định chủ trương:” Mọi công dân có quyền tham gia các hoạtđộng đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được phápluật bảo hộ” Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệ Đảng và quy định của BanChấp hành Trung Ương Ngoài ra Đại hội Đảng còn đưa ra quyết định “Xóa bỏ mọi ràocản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệpcủa tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả cáclĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”

Về Chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020, Đại hội Đảng lần thứ XI đã quyết địnhmục tiêu tổng quát của Chiến lược là: Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá; chính trị xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương,đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, độc lập chủquyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của việt Nam trên trườngquốc tế được nâng lên Nhằm thực hiện tốt mục tiêu, Đại hội đã đưa ra những chủ trươngnhằm phát triển nền kinh tế như sau:

Trang 14

Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Hoàn

thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triểnmạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ; huy động và sửdụng có hiệu quả cho mọi nguồn lực cho phát triển

Hai là, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là

các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh trên thị trường Đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suấthiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đồng, chú trọng phát triển theo chiều sâu, pháttriển kinh tế tri thức Phát triển bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kếhoạch và chính sách phát triển kinh tế- xã hội

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề cập đến rất nhiều vấn

đề, mới trên các lĩnh vực, mở ra một thời kỳ mới trong tiến trình phát triển đất nước.Trong thời kỳ này, Đảng ta đã nêu ra các chủ trương đổi mới nền kinh tế:

Đối mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế: đây là một chủ trương lớn,quan trọng xuyên suốt từ Đại hội IX của Đảng Về mục tiêu tăng trưởng, Đại hội XII chỉ

rõ: “Kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển theo

chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh” Về mô hình tăng trưởng đã

xác định: “Đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và

vốn đầu tư sang phát triển, đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư xuất khẩu thị trường trong nước Đổi mới mô hình tăng trưởng của Đảng đó là lấy năng suất, hiệu quả sử dụng các nguồn lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế vừa để phát triển kinh tế bền vững, vừa gắn với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường” Đối với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế,

Đại hội XII khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đồng bộ hiệu quả đề án tổng thể

cơ cấu lại nền kinh tế và cơ cấu tại các ngành lĩnh vực” Đó là việc xác lập cơ cấu lại

nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh lại cơ cấu công nghiệp tạo nềntảng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá…

Đối với nền kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Đại hội XIItiếp tục khẳng định: Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chếkinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh, sử dụng cácnguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế,thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường Phát huy vai trò làm chủ của nhândân trong phát triển kinh tế

Ngày đăng: 09/12/2022, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w