1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT đại CƯƠNG các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành

19 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành
Tác giả Nguyễn Xuân Quỳnh
Người hướng dẫn GV Nguyễn Ngọc Hoa
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 202,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quy định tuổi kết hôn như trên là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người và sự phù hợp với các quy định trong Bộ Luật Dân sự BLDS và Bộ luật Tố tụng Dân sự BLTTDS Việt N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia

đình hiện hành

Họ và tên: Nguyễn Xuân Quỳnh

Mã số sinh viên: 47.01.901.232

Lớp: 2111POLI190302

GVHD: GV Nguyễn Ngọc Hoa Đăng

Trang 2

MỤC LỤC



Trang

MỤC LỤC 1

I LỜI MỞ ĐẦU 2

II NỘI DUNG 3

1.Khái niệm chung về kết hôn 3

2 Điều kiện kết hôn 5

3 Xử lý việc kết hôn trong trường hợp bị pháp luật cấm 11

4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kết hôn 14

III KẾT LUẬN 15

Trang 3

I LỜI MỞ ĐẦU:

Gia đình là tế bào của xã hội, có đóng góp quan trọng trong sự đi lên của đất nước, và cũng từ đó cuộc sống con người càng thêm ấm no, sung túc, đủ đầy và hạnh phúc Và yếu tố cơ bản đầu tiên cần phải có để hình thành một gia đình có nền tảng bền vững đó chính là kết hôn Đây chính là sự kiện pháp

lý quan trọng đánh dấu sự ra đời của một gia đình

Xác định rõ vai trò của sự kiện này với đời sống xã hội nên trong các văn kiện của Đảng và trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, kết hôn là vấn

đề luôn được quan tâm sâu sắc Đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các quy định về kết hôn đã được đề cập khá cụ thể và ngày càng có xu hướng hoàn thiện hơn Điều đó thể hiện khá rõ tại Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 được Quốc hội ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015 Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ pháp luật và hiểu hết các điều kiện để có thể kết hôn hợp pháp, bằng chứng cho thấy trên thực tế vẫn tồn tại rất nhiều hạn chế và bất cập như các vấn nạn tảo hôn, kết hôn không tuân thủ theo pháp luật quy định… gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội

Xuất phát từ những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Các trường hợp cấm kết

hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành” cho

bài tiểu luận cuối môn của mình Qua đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, đồng thời đề xuất phương hướng để hoàn thiện quy định của pháp luật, giải pháp nhằm hạn chế và xử lý kịp thời các trường hợp kết hôn trái pháp luật hiện nay

II NỘI DUNG:

1 Khái niệm chung về kết hôn:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”

Trang 4

2 Điều kiện kết hôn:

Kết hôn là hiện tượng xã hội có tính tự nhiên nhằm mục đích xác lập quan hệ vợ chồng, cùng nhau xây dựng gia đình, nuôi dạy con và phát triển kinh tế Kết hôn là quyền công dân, kết hôn hay không, kết hôn với

ai và kết hôn khi nào là do nam nữ quyết định Tuy nhiên, khi kết hôn, công dân phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn

2.1 Độ tuổi kết hôn:

Theo khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tuổi kết hôn

là: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ l8 tuổi trở lên” Việc quy định

tuổi kết hôn như trên là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người và sự phù hợp với các quy định trong Bộ Luật Dân sự (BLDS) và

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) Việt Nam về năng lực hành vi dân sự của cá nhân Tùy theo hoàn cảnh công tác, điều kiện sinh hoạt và sở thích của mỗi người thì hai bên nam nữ có quyền đăng ký kết hôn miễn là đủ

độ tuổi luật định Quy định này được ban hành dựa trên các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học, y học lẫn truyền thống đạo đức trong việc xác định độ tuổi nam, nữ phát triển hoàn thiện về mặt tâm sinh lý Họ có khả năng sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh về thể chất, trí tuệ cũng như đủ chín chắn để gánh vác gia đình, thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong mối quan hệ hôn nhân gia đình nhằm đảm bảo cho quan hệ hôn nhân có thể tồn tại bền vững

2.2 Ý chí tự nguyện:

Theo điểm b khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ 2014: “Việc kết hôn do

nam và nữ tự nguyện quyết định” Sự tự nguyện ở đây được hiểu là

mong muốn gắn bó, cùng chung sống với nhau để thỏa mãn nhu cầu tình cảm của hai người Nam, nữ tự quyết đối với việc kết hôn một cách chủ quan theo ý muốn của họ và không bị tác động bởi bất kỳ ai, bất kỳ yếu

tố nào Tính tự nguyện sẽ được thể hiện thông qua việc nam, nữ cùng

Trang 5

trực tiếp ký chứng nhận kết hôn và số đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ngoài ra, Luật HN&GĐ không quy định cơ chế đại diện trong kết hôn đồng thời cấm hành vi cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn làm cho việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện

Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi người, do đó việc kết hôn phải do người kết hôn tự nguyện quyết định Yếu tố tự nguyện là yếu tố quan trọng khởi nguồn cho cuộc hôn nhân hợp pháp, là

cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của hai bên và đặc biệt là đảm bảo quyền bình đẳng, quyền tự do lựa chọn trong hôn nhân

2.3 Không bị mất năng lực hành vi dân sự:

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 luật HN&GÐ 2014 thì người kết hôn phải là người “không bị mất năng lực hành vi dân sự” và điều kiện để bị coi là một người mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS 2015 Quy định này nhằm đàm bảo tính logic với quy định về sự tự nguyện kết hôn, bởi một người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không thể nào tự nguyện bày tỏ ý chí trong việc kết hôn được

Về mặt kỹ thuật lập pháp, theo các Luật HN&GĐ trước đây, quy định

về điều kiện kết hôn: Không bị mất năng lực hành vi dân sự được đặt chung trong một điều bao gồm các trường hợp cấm kết hôn Có nghĩa, quy định này thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn Tuy nhiên, xét thấy việc kết hôn phải dựa trên sự tự nguyện hoàn toàn của hai bên nam,

nữ nhằm đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm của mình

mà với những người bị mất năng lực hành vi dân sự, họ không thể hiện được sự tự nguyện của họ trong việc kết hôn thì chắc chắn họ không thỏa mãn điều kiện kết hôn Chính vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã tách quy định này ra khỏi các trường hợp cấm kết hôn và đưa vào một điểm riêng trong phần điều kiện kết hôn nhằm nhấn mạnh sự cần thiết, quan

Trang 6

trọng của nó Đó là một trong những điều kiện tiên quyết buộc các bên nam nữ phải thỏa mãn khi kết hôn cũng như là yếu tố cơ bản để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định việc đăng ký kết hôn cho các bên

Về phương diện pháp lý, khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung và quan hệ HN&GÐ nói riêng, chủ thể phải có đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật Nếu một người bị xác định là mất năng lực hành vi dân sự thì người đó sẽ bị giới hạn rất nhiều quyền lợi trong đó có quyền kết hôn Theo Điều 22 BLDS năm 2005 định nghĩa mất năng lực

hành vi dân sự là: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh

khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên

bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định” Trên cơ sở đó, điểm c khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ quy định:

“Nam, nữ kết hôn với nhau phải thỏa mãn điều kiện không bị mất năng

lực hành vi dân sự” Có thể thấy, quy định này là hoàn toàn đúng đắn và

cần thiết bởi lẽ, đối với những người bị mất năng lực hành vi dân sự, việc

họ thể hiện ý chí tự nguyện - một nguyên tắc quan trọng của Luật HN&GÐ năm 2014 là không thể xác định được

2.4 Kết hôn giữa những người cùng giới tính:

Luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Nhà nước không thừa

nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”, có nghĩa về mặt pháp

lý, Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân của hai người cùng giới nhưng trên thực tế những người này vẫn có thể tổ chức đám cưới và sống chung với nhau Quy định này phần nào thể hiện sự cảm thông, sự tôn trọng quyền con người và cái nhìn rộng mở hơn của Nhà nước đối với nhu cầu tự nhiên của một bộ phận những người lưỡng giới biến thể Vì vậy, thực trạng chung sống giữa hai người cùng giới tính và xu hướng công

Trang 7

khai hóa các mối quan hệ đồng giới diễn ra khá phổ biến trong thời gian gần đây Tuy nhiên, cũng từ thực tế chung sống của họ thì việc phát sinh các vấn đề về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản hoặc về con (ví dụ nhận con nuôi) là điều tất yếu xảy ra nhưng Luật HN&GÐ hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc cho phép họ sống chung mà chưa có quy định cụ thể nào

đề cập đến hậu quả của vấn đề này Do đó, trong thời gian qua khi một số

vụ việc tranh chấp về tài sản giữa những người đồng tính có quan hệ sống chung xảy ra thì Tòa án lúng túng trong việc giải quyết vụ việc và thiếu sót trong việc ra quyết định của mình nên không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

2.5 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết

hôn:

Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật HN&GÐ 2014:

Thứ nhất, cấm kết hôn giả tạo

Khái niệm “kết hôn giả tạo" được định nghĩa tại khoản 11 Điều 3 Luật HN&GÐ 2014 Theo đó, việc kết hôn giả tạo không vì mục đích xây dựng gia đình mà nhằm muốn đạt được những lợi ích riêng thông qua quan hệ hôn nhân gia đình Pháp luật HN&GĐ Việt Nam cấm việc kết hôn giả tạo nhằm loại bỏ những trường hợp đáng tiếc không nên có, như một người phụ nữ có thể kết hôn với một người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư tại nước ngoài để nhập quốc tịch nước ngoài nhằm hưởng một số

ưu đãi của Nhà nước Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ hôn nhân, làm gia tăng số lượng người nhập cảnh “trái phép" một cách hợp pháp, gây hao hụt ngân sách hay quyền lợi từ các chế độ ưu đãi của Nhà nước, nghiễm nhiên trở thành công dân của một nước mà không thông qua bất cứ một bài kiểm tra cũng như chưa đủ tiêu chuẩn để đáp ứng cho một

xã hội hoàn toàn mới Bên cạnh đó, kết hôn giả tạo có thể làm gia tăng tình trạng ly hôn sau khi người kết hôn đạt được mục đích của mình

Trang 8

Thứ hai, cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

- Tảo hôn:

Hiện nay, mặc dù nhận thức người dân đã tăng cao, đa số nam nữa kết hôn ở tuổi luật định, nhưng vẫn còn trường hợp nam nữa lấy vợ, lấy chồng rất sớm, hay còn gọi là nạn tảo hôn Nhà nước CHXHCN Việt Nam cấm việc tảo hôn bởi lẽ nó sẽ đánh mất đi tương lai của những đứa trẻ - nạn nhân của tình trạng này, làm mất đi cơ hội học tập, cơ hội làm việc tốt, cơ hội cải thiện điều kiện sông và chăm sóc sức khỏe của mẹ và trẻ Không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến bản thân và gia đình mà việc tảo hôn còn ảnh hưởng lớn đến xã hội khi chất lượng dân số bị tác động mạnh bởi tình trạng này Các cặp bố mẹ trẻ chưa phát triển đầy đủ tâm sinh lý khiến cho

tỉ lệ những đứa trẻ mang khiếm khuyết về mặt cơ thể tăng cao hơn bình thường, tạo thêm gánh nặng cho bao vợ chồng, cho xã hội Vì thế Nhà nước ta xem đây là một vấn nạn cần phải bài trừ

- Cưỡng ép kết hôn:

Kết hôn là một quyền nhân thân của cá nhân mà lần đầu tiên trong lịch

sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 36 Hiến

pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn

nhân theo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” Do vậy, nam, nữ có quyền kết hôn khi đến tuổi

luật định song phải thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện mới được phép kết hôn Nếu việc kết hôn mà thiếu đi sự tự nguyện của hai bên nam, nữ như kết hôn do bị cưỡng ép hoặc lừa dối thì cuộc hôn nhân đó sẽ không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ

Luật HN&GĐ khoản 9 Điều 3 năm 2014 quy định: “Cưỡng ép kết

hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.” Như vậy, nếu một bên đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, đối xử

Trang 9

tàn tệ; hoặc yêu sách của cải hoặc sử dụng hành vi khác để cưỡng ép kết hôn Hiện nay, mặc dù tình trạng này không còn thường xuyên diễn ra nhưng vẫn có thể dễ dàng bắt gặp thông qua việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" của những cặp phụ huynh vì hoàn cảnh gia đình hay vì “môn đăng hộ đối" mà ép buộc hoặc ngăn cản con mình kết hôn Tất cả việc này đều trái với tinh thần tự nguyện của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện nay Tuy nhiên trong một số trường hợp như cha mẹ ép buộc hoặc ngăn cản con mình kết hôn mà con không hợp ý nhưng sau một thời gian nghe cha mẹ mình khuyên nhủ, thuyết phục, người con đã thuận theo mà tiến đến hôn nhân thì đây không thể coi là kết hôn không tự nguyện vì người con có thời gian cũng như sự tự quyết để có thể từ chối việc kết hôn đó

Do vậy, để xem xét một cuộc hôn nhân có sự cưỡng ép hay không, hoàn toàn dựa vào ý chí chủ thể tham gia mong muốn hay không mong muốn việc kết hôn đó

- Lừa dối kết hôn:

Lừa dối kết hôn là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn Tuy nhiên, đề xác định lừa dối thì phải xem đây là lừa dối hoàn toàn, bởi lẽ người bị lừa dối ở đây cũng có thể đang vì mục đích riêng của mình, nhằm đạt những lợi ích cụ thể mà đồng ý kết hôn, hoàn toàn không phải vì tình yêu Và việc xác định như vậy không phải là dễ

Đề xử lý những trường hợp này, pháp luật Việt Nam cũng khá linh hoạt và mềm dèo Cơ bản tất cả mọi sự việc đều phải được giải quyết một cách thấu tình đạt lý, không thể cứ cứng nhắc theo pháp luật mà còn phải

vì quyền lợi của đôi bên và cả con cái của họ Tòa án phải xem xét hôn nhân từ lúc kết hôn cho tới lúc đưa ra xem xét, giải quyết, lựa chọn phương án tốt nhất và tối ưu nhất để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người vợ, người chồng và con của họ

Trang 10

- Cản trở kết hôn:

Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có

đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này Các hành vi được sử dụng để “cản trở kết hôn” cũng giống như các hành vi được sử dụng để

“cưỡng ép kết hôn” như: Đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác song về mục đích cuối cùng lại khác nhau bởi, “cưỡng ép” là bắt ép người khác phải kết hôn còn “cản trở” là không cho người khác kết hôn khi họ có đủ điều kiện kết hôn theo luật định Tất cả các hành vi này đều khiến cho người kết hôn bị rơi vào tình trạng thiếu sự tự nguyện, không thể quyết định được hôn nhân của mình

và phải đồng ý kết hôn hoặc từ bỏ ý định kết hôn ban đầu Vs dụ như họ thường xuyên bị đối xử áp bức về thể xác cũng như tinh thần; họ bị đe dọa bằng vũ lực gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản của bản thân hoặc thân nhân của họ Do vậy, cản trở kết hôn là hành vi vi phạm pháp luật, đáng lên án mà Luật HN&GĐ Việt Nam nghiêm cấm nhằm đảm bảo cho việc kết hôn cũng như xây dựng gia đình hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân cũng như quyền kết hôn, quyền được sống trong hạnh phúc và bền vững của mỗi cá nhân trong xã hội Đây cũng là sự kế thừa quy định cấm cản trở hôn nhân tự nguyện của Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung thêm phần định nghĩa thế nào là cản trở kết hôn để việc hiểu luật và áp dụng luật được rõ ràng, minh bạch và thống nhất trong thực tiễn

 Thứ ba, kết hôn với người đang có vợ hoặc chồng

Khoản 1 Điều 36 Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định hôn nhân phải theo nguyên tắc một vợ một chồng Cụ thể hóa

nguyên tắc này, khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ hiện hành quy định: “Cấm

người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng

Ngày đăng: 09/12/2022, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w