1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) tiểu luận nhóm các HIỆP ĐỊNH sẽ tác ĐỘNG NHIỀU đến THƯƠNG mại QUỐC tế của VIỆT NAM (HIỆP ĐỊNH đối tác TOÀN DIỆN và TIẾN bộ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG)

40 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận nhóm Các Hiệp Định Sẽ Tác Động Nhiều Đến Thương Mại Quốc Tế Của Việt Nam (Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện Và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương)
Tác giả Nhóm: 11, Hồ Mai Anh, Nguyễn Viết Vân Anh, Trần Quốc Tuấn, Trương Thái Vượng
Người hướng dẫn GS. Võ Thanh Thu
Trường học Đại học UEH
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại Tiểu luận nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 626,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (6)
    • 1.1 Khái quát chung về Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) 3 (6)
      • 1.1.1 Sự hình thành và phát triển của CPTPP (6)
      • 1.1.2 Sự khác biệt giữa TPP và CPTPP (7)
    • 1.2 Mục tiêu và vai trò của CPTPP (7)
    • 1.3 Tổng quan nội dung chính của CPTPP (8)
      • 1.3.1. Các cam kết về thuế nhập khẩu (10)
      • 1.3.2. Cam kết một số ngành hàng (11)
      • 1.3.3. Cam kết về thương mại dịch vụ (12)
      • 1.3.4. Các cam kết về sở hữu trí tuệ (13)
      • 1.3.5 Phòng vệ thương mại (14)
    • 1.4 Vị trí và vai trò của VN trong CPTPP (15)
    • 1.5 Tình hình chung về hoạt động thương mại quốc tế VN (15)
      • 1.5.1 Trước khi hiệp định CPTPP có hiệu lực (15)
      • 1.5.2 Sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực (15)
  • CHƯƠNG 2: NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN HIỆN TẠI TRONG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN CP-TPP (17)
    • 2.1 Mối quan hệ kinh tế giữa VN và các nước thành viên CP-TPP trước và sau khi hiệp định có hiệu lực (17)
      • 2.1.1. Canada (17)
      • 2.1.2. Chile (21)
      • 2.1.3. Australia (23)
      • 2.1.4. Mexico (29)
    • 2.2 Những thuận lợi và khó khăn hiện tại (30)
      • 2.2.1. Thuận lợi (30)
      • 2.2.2. Khó khăn (32)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI HIỆP ĐỊNH CPTPP CÓ HIỆU LỰC THỰC THI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TMQT CỦA VN (33)
    • 3.1 Cơ hội (33)
    • 3.2 Thách thức (35)
  • KẾT LUẬN (38)

Nội dung

Trong số đó,Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương là một trong những hiệp định đặcbiệt quan trọng được đánh giá là đã mang đến nhiều tác động tích cực trong việc t

TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

Khái quát chung về Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) 3

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của CPTPP

CPTPP là từ viết tắt của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership) Đây là một hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa các nước thành viên khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nhằm mở cửa thị trường, giảm thuế và tăng cường hợp tác kinh tế giữa các quốc gia tham gia.

11 nước, tiếp nối TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) sau khi Hoa Kỳ rút khỏi hiệp định này.

Hiệp định CPTPP đã trải qua một hành trình dài, bắt đầu từ các cuộc đàm phán TPP giữa 12 nước thành viên (Singapore, Chile, New Zealand, Brunei, Hoa Kỳ, Australia, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản) từ tháng 3/2010 Sau hơn 30 vòng đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, ngày 4/2/2016 Hiệp định TPP chính thức được ký kết với kỳ vọng triển khai vào năm 2018 Tuy nhiên, vào tháng 1/2017, Hoa Kỳ tuyên bố rút khỏi TPP, khiến các điều kiện ban đầu không còn phù hợp và TPP lúc bấy giờ đã ở bờ sụp đổ.

Sau khi 11 nước thành viên còn lại quyết định tiếp tục tham gia Hiệp định, các nước đã điều chỉnh một số nội dung cốt lõi và đổi tên thành CPTPP Vào tháng 3/2018, Hiệp định CPTPP chính thức được ký kết tại Chile, đánh dấu sự kết thúc viên mãn cho hành trình đàm phán kéo dài tám năm đầy thử thách.

 Những cột mốc từ TPP đến CPTPP

- 3/6/2005, Singapore, Chile, New Zealand, Brunei là 4 thành viên sáng lập đã kí kết TPP, khi đó được là Hiệp định P4.

- 22/9/2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia P4 cũng như đề nghị đàm phán một Hiệp định mới (TPP).

+ Năm 2009, Việt Nam gia nhập TPP với tư cách thành viên quan sát đặc biệt.

- 10/2010, Malaysia tham gia Hiệp định TPP.

- 13-14/11/2010, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định TPP.

- 10/2012, Mexico, Canada gia nhập TPP.

- 3/2013, Nhật Bản gia nhập TPP, nâng tổng số nước tham dự thành 12 thành viên.

- 4/2/2016, 12 nước tham dự Lễ ký kết để xác định lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, New Zealand.

- 30/1/2017, Hoa Kỳ chính thức rút khỏi Hiệp định TPP giống như điều Donald Trump đã công bố vào ngày 21/11/2016.

Vào tháng 11 năm 2017, trong khuôn khổ Tuần lễ Cấp cao APEC tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất thay đổi nội dung cốt lõi cũng như đổi tên Hiệp định từ TPP thành CPTPP.

- 8/3/2018, các Bộ trưởng của 11 nước thành viên đã chính thức ký kết Hiệp định CPTPP tại thành phố Santiago, Chile.

1.1.2 Sự khác biệt giữa TPP và CPTPP

Hiệp định CPTPP cơ bản kế thừa các cam kết chính của Hiệp định TPP, đặc biệt là cam kết mở cửa thị trường, đồng thời cho phép các nước tạm hoãn thực thi khoảng 20 nghĩa vụ trong các lĩnh vực quan trọng như sở hữu trí tuệ, đầu tư, mua sắm chính phủ và dịch vụ tài chính.

 Về số lượng thành viên và dân số

Hiệp định TPP ban đầu có 12 thành viên là Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản Sau khi Mỹ rút khỏi TPP, 11 nước còn lại đã tiếp tục ký kết CPTPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Mở rộng và Tiến bộ), thiết lập một khuôn khổ thương mại tự do giữa các nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

 Về đóng góp vào thương mại và GDP toàn cầu

Hiệp định TPP đóng góp 40% vào GDP và 30% vào thương mại toàn cầu, trong khi Hiệp định CPTPP đóng góp 15% vào GDP và 15% vào thương mại toàn cầu.

Mục tiêu và vai trò của CPTPP

CPTPP mở ra một khu vực thương mại tự do rộng lớn xuyên suốt khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với quy mô thị trường khoảng 500 triệu người và chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu (khoảng 10.100 tỷ USD) Hiệp định này tối đa hóa thuận lợi thương mại khi chi phí xuất nhập khẩu và thời gian giao dịch được giảm đáng kể, tạo cơ hội tốt để nắm bắt thị trường, chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng Đối với các nước nhỏ, CPTPP mang lại cơ hội thúc đẩy nền kinh tế thị trường, thu hút đầu tư và tăng thu nhập.

Việc gia nhập TPP, tiền thân của CPTPP, cho thấy một số quốc gia Đông Á mong muốn dựa vào Hoa Kỳ – “kẻ mạnh” của khu vực – để thúc đẩy kinh tế và mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ Đồng thời, họ xem Mỹ như một chỗ dựa để đối phó với những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, một vấn đề đang gây căng thẳng và có tác động đáng kể đến an ninh kinh tế khu vực hiện nay.

Việc gia nhập TPP hoặc CPTPP đồng nghĩa với việc mỗi quốc gia xác định mục tiêu riêng và chuẩn bị hành lang pháp lý, kinh tế phù hợp với lợi ích mong muốn Trong khuôn khổ hiệp định, các quốc gia có thể kỳ vọng mở rộng tiếp cận thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ cải cách quy định, tăng cường tính minh bạch và hợp tác giữa các ngành Lợi ích đa dạng sẽ lan tỏa qua nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, sản xuất, công nghệ và dịch vụ, tùy thuộc vào đặc thù nền kinh tế từng nước Việc này đòi hỏi sự điều chỉnh chiến lược trong nước và khai thác tối đa cơ hội hội nhập để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và vị thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Tổng quan nội dung chính của CPTPP

Hiệp định CPTPP gồm Lời mở đầu, 7 điều khoản và 1 phụ lục; nó xác định mối quan hệ giữa các nước thành viên và xử lý các vấn đề liên quan đến hiệu lực thi hành, cũng như quy trình rút khỏi hay gia nhập CPTPP.

Bài mở đầu trình bày khung tổng quan về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và giới thiệu 7 điều khoản chính điều chỉnh phạm vi thực thi Điều 1 nêu rõ nguyên tắc tích hợp CPTPP vào hệ thống pháp luật và quy trình điều chỉnh luật quốc gia cho phù hợp với cam kết của hiệp định Điều 2 cho phép tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoản trong các trường hợp đặc thù nhằm bảo đảm sự linh hoạt khi áp dụng Điều 3 quy định hiệu lực thi hành của CPTPP và các điều kiện kích hoạt các cam kết Điều 4 quy định việc rút khỏi Hiệp định theo trình tự và điều kiện được pháp luật quy định Điều 5 đề cập đến gia nhập CPTPP cho nước thứ ba, với trình tự và tiêu chuẩn liên quan Điều 6 đưa ra cơ chế rà soát Hiệp định nhằm đánh giá tác động, sự phù hợp và hiệu quả thực thi Điều 7 xác nhận các lời văn xác thực của Hiệp định, đảm bảo tính pháp lý và nguồn gốc văn bản Các nội dung trên được sắp xếp nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan dễ hiểu và tối ưu hóa cho công cụ tìm kiếm, đồng thời hỗ trợ người đọc nắm bắt nhanh về CPTPP và các điều khoản liên quan.

Theo Bộ Công Thương, nội dung chính vẫn kế thừa từ Hiệp định TPP cũ với 30 chương và 9 phụ lục Tuy nhiên, các nước thành viên được phép tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ để cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ, trong đó 11 nghĩa vụ thuộc Chương 18 về Sở hữu trí tuệ; 2 nghĩa vụ thuộc Chương 15 về Mua sắm của Chính phủ; và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới các chương Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng.

NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH CPTPP

Chương I Các điều khoản và định nghĩa chung

Chương 2 Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa

Chương 3 Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ

Chương 5 Hải quan và tạo thuận lợi thương mại

Chương 6 Phòng vệ thương mại

Chương 7 Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật Chương 8 Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại

Chương 10 Thương mại dịch vụ xuyên biên giới

Chương 11 Dịch vụ tài chính

Chương 12 Nhập cảnh tạm thời cho khách kinh doanh

Chương 14 Thương mại điện tử

Chương 15: Mua sắm chính phủ

Chương 16 Chính sách cạnh tranh

Chương 17 Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp độc quyền chỉ định Chương 18 Sở hữu trí tuệ

Chương 21 Hợp tác và nâng cao năng lực

Chương 22 Tính cạnh tranh và thuận lợi hóa kinh doanh

Chương 24 Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương 25.Hài hòa các quy định

Chương 26 Minh bạch hóa và chống tham nhũng

Chương 27 Các điều khoản hành chính và thể chế

Chương 28 Giải quyết tranh chấp

Chương 29 Các ngoại lệ và điều khoản chung

Chương 30 Các điều khoản cuối cùng

1.3.1 Các cam kết về thuế nhập khẩu

Các nước thành viên cam kết xóa bỏ gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo Biểu thuế quan nhập khẩu của nước mình Trong khuôn khổ này, Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam đã áp dụng một Biểu thuế quan nhập khẩu chung, trong khi Canada, Chile, Mexico và Nhật Bản vẫn duy trì Biểu thuế quan nhập khẩu riêng cho từng nước thành viên.

Các cam kết về xóa bỏ và cắt giảm thuế nhập khẩu trong CPTPP được chia thành 3 nhóm chính:

- Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay: Thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ ngay khi Hiệp định chính thức có hiệu lực

- Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình: Sau một khoảng thời gian nhất định, thuế nhập khẩu sẽ được đưa về 0%

Nhóm áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) là cơ chế cho phép chỉ xóa bỏ hoặc giảm thuế đối với một số lượng hàng hóa nhất định Đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, các nước trong CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu từ 97% đến 100% số dòng thuế Điều này có nghĩa là khi giao thương với các nước CPTPP, Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan ở phần lớn dòng thuế, thúc đẩy cạnh tranh và giảm chi phí nhập khẩu cho doanh nghiệp.

 Canada cam kết xóa bỏ 95% số dòng thuế

 Nhật Bản cam kết xóa bỏ 86% số dòng thuế ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và gần 90% dòng thuế sau 5 năm.

Peru cam kết xóa bỏ 80,7% số dòng thuế ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực Đến năm thứ 17 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Peru sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,4% số dòng thuế.

Mexico cam kết xóa bỏ 77,2% số dòng thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực Đến năm thứ 10 kể từ ngày hiệp định có hiệu lực, thuế sẽ được xóa bỏ đối với 98% số dòng thuế.

 Chile cam kết xóa bỏ 95,1% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,9% số dòng thuế vào năm thứ 8 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

 New Zealand cam kết xóa bỏ 94,6% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 7 kể từ khi thực hiện Hiệp định.

 Singapore cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các mặt hàng ngay từ lúc Hiệp định có hiệu lực.

Malaysia cam kết xóa bỏ ngay 84,7% số dòng thuế khi hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ dần các dòng thuế còn lại theo lộ trình; vào năm thứ 11, số dòng thuế được Malaysia cam kết cắt giảm lên tới 99,9%.

Brunei cam kết xóa bỏ 92% số dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam ngay khi hiệp định có hiệu lực (tương đương 7.639 dòng), đến năm thứ 7 tỷ lệ này đạt 99,9% và thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 11.

1.3.2 Cam kết một số ngành hàng a Giày dép

Việt Nam sang Canada: khoảng 78% kim ngạch xuất khẩu giày dép sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, hoặc được hưởng mức cắt giảm 75% so với mức thuế suất hiện tại Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh lớn cho ngành giày dép Việt Nam khi thâm nhập thị trường Canada và thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu.

Hiệp định thương mại Việt Nam – Nhật Bản thiết lập lộ trình giảm thuế nhập khẩu: thuế sẽ được giảm dần và đến năm thứ 16 kể từ ngày hiệp định có hiệu lực sẽ được xóa bỏ hoàn toàn.

Mexico và Peru: Thuế sẽ được giảm dần đều và xóa bỏ vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. b Thủy sản

Ngay khi hiệp định có hiệu lực, Canada và Nhật Bản sẽ được hưởng thuế suất 0% Các mặt hàng thủy sản khác có mức thuế quan khác nhau tùy theo loại Đáng chú ý, sau ba năm kể từ ngày hiệp định có hiệu lực, cá tra và cá basa sẽ được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu sang Mexico Trong mục c, gạo được đề cập.

Nhờ Hiệp định CPTPP, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu sang Mexico và tiềm năng tăng trưởng tại Canada cho mặt hàng gạo với mức thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực Tuy nhiên, khi xuất khẩu sang Nhật Bản, hàng hóa của Việt Nam vẫn phải chịu sự điều chỉnh bởi hạn ngạch thuế quan theo cam kết của Nhật Bản trong WTO Các mặt hàng chủ lực được kỳ vọng hưởng lợi từ CPTPP gồm cà phê, chè, hạt tiêu và hạt điều.

Vị trí và vai trò của VN trong CPTPP

Theo nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (2018), việc gia nhập và phê chuẩn sớm Hiệp định CPTPP giúp Việt Nam khẳng định vị thế và vai trò của đất nước ở Đông Nam Á nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nói chung Triển khai CPTPP sẽ củng cố hợp tác với các đối tác quan trọng trong khu vực, tăng cường liên kết lợi ích và làm sâu sắc mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước thành viên CPTPP Điều này đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trong khối ASEAN và trên trường quốc tế, thể hiện cam kết đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng Sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam trong những thập kỷ gần đây đã hỗ trợ đáng kể cho sự phát triển kinh tế của cả khối ASEAN, đồng thời nâng cao vai trò của Việt Nam như một cường quốc kinh tế mới trong khối.

Tình hình chung về hoạt động thương mại quốc tế VN

1.5.1 Trước khi hiệp định CPTPP có hiệu lực

Trước khi CPTPP có hiệu lực, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định kinh tế quan trọng như FTA và EVFTA và tích cực tham gia khu vực ASEAN Tuy nhiên, ở thời điểm đó, tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn ở mức khá khiêm tốn và chưa ghi nhận sự phát triển đáng kể.

1.5.2 Sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực

CPTPP đã mang lại sự thay đổi đáng kể cho các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng Nhờ sự nỗ lực không ngừng của Nhà nước, Hiệp định đã mang lại kết quả tích cực kể từ khi có hiệu lực, và ngay cả trong thời kỳ Covid-19 đầy thử thách với nền kinh tế toàn cầu, CPTPP vẫn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước thành viên.

Trong năm 2019, Việt Nam xuất khẩu sang 6 nước thành viên CPTPP gồm Mexico, Canada, Australia, New Zealand, Singapore và Nhật Bản đạt 34,3 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm trước và ghi nhận sự chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu Đáng chú ý là Nhật Bản, một gương mặt không mấy xa lạ với Việt Nam.

Nam nhờ Hiệp định FTA, đã trở thành thị trường xuất siêu khá lớn của Việt Nam, tăng 8,9% trong

Năm 2020, xuất khẩu sang 6 nước này duy trì ở mức gần bằng năm 2019, đạt 34 tỷ USD; tỷ trọng trong tổng xuất khẩu lần lượt là 12,02% năm 2018, 13% năm 2019 và 12,02% năm 2020 Đến tháng 7/2021, Việt Nam xuất siêu 59,08 triệu USD sang thị trường CPTPP, tăng 60,52% so với tháng 6/2021 nhưng giảm 22,58% so với tháng 7/2020; giá trị hàng hóa xuất khẩu sang thị trường CPTPP đạt 3,98 tỷ USD, tăng 0,79% so với tháng 6/2021 và tăng 21,64% so với tháng 7/2020.

Trong 4 năm đồng hành kể từ năm 2019, nhiều ghi nhận cho thấy VIệt Nam có thế mạnh trong việc xuất khẩu điện thoại, linh kiện, máy móc, thiết bị phụ tùng, hàng thủy sản, Theo thống kê của VASEP, thị trường 10 nước thành viên CPTPP chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản nước ta, đặc biệt Nhật Bản luôn giữ vị trí top 3 trung thành với thị trường xuất khẩu thủy hải sản Vừa qua trong bối cảnh dịch Covid gây khó dễ làm sụt giảm xuất khẩu vào năm 2020, thì việc xuất khẩu sang các thị trường lớn vẫn được ghi nhận với mức tăng trưởng dương như sang Australia tăng 9%, Peru tăng 8%, Canada và Chile tăng 14% và còn tiếp tục tăng vào năm 2021.

Ở một số ngành được kỳ vọng sẽ tăng trưởng khi tham gia CPTPP như dệt may và da giày, thực tế lại không đạt kết quả như mong đợi Xuất nhập khẩu dệt may của Việt Nam sang CPTPP đã có sự thu hẹp đáng kể, với tỷ trọng 7 tháng đầu năm 2021 chỉ đạt 10,92% so với 13,04% của cùng kỳ năm 2020 Nguyên nhân là Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu “từ sợi trở đi”, do đó nước ta chưa thể hưởng được ưu đãi thuế quan cao nhất.

NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN HIỆN TẠI TRONG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN CP-TPP

Mối quan hệ kinh tế giữa VN và các nước thành viên CP-TPP trước và sau khi hiệp định có hiệu lực

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới là bước đi tất yếu cho sự phát triển của Việt Nam, mở ra cơ hội giao lưu và học hỏi về kinh tế – văn hóa – chính trị với các nước, đồng thời thúc đẩy nguồn lực phát triển nền kinh tế, tiếp cận thị trường quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài và xóa bỏ rào cản thuế quan Minh chứng nổi bật cho quá trình hội nhập là Việt Nam tham gia TPP, cho thấy cam kết mở cửa thị trường và tận dụng lợi ích từ thị trường toàn cầu để tăng trưởng và hiện đại hóa nền kinh tế trong nước.

Sau khi tham gia hiệp định CP-TPP, mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước thành viên CP-TPP ngày càng khởi sắc Việt Nam đã thiết lập được quan hệ FTA với nhiều nước thành viên CP-TPP, mở rộng thị trường cho các mặt hàng có thế mạnh và giúp cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam đa dạng hơn, không bị phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc Công nghệ và vốn đầu tư nước ngoài đang được cải thiện không ngừng, thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa nền kinh tế Và sau đây là một trong số những quốc gia là thành viên CP-TPP được đánh giá là có mối quan hệ tốt đẹp đồng thời cũng là những đối tác phát triển tiềm năng của Việt Nam, cụ thể:

Trải qua hơn 49 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao và phát triển song phương, Canada đã trở thành một trong những đối tác phát triển chiến lược hàng đầu của Việt Nam Đặc biệt, khi CPTPP có hiệu lực, hai nước đã được cải thiện khả năng tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ, được củng cố bởi một bộ quy tắc chung, giảm chi phí thương mại và tạo điều kiện đầu tư dễ dự đoán hơn Điều này làm tăng lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm tại hai thị trường Để có cái nhìn tổng quan, đồ thị dưới đây thể hiện giá trị hàng hóa thương mại giữa Việt Nam và Canada giai đoạn 2018-2020 sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực.

Biểu đồ 1: Giá trị hàng hóa song phương giữa Vtệt Nam và Canada giai đoạn 2018 – 2020 Đơn vị tính: Tỷ đô Canada

Giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada

Đồ thị 1 (nguồn: Www.dangcongsan.vn) cho thấy giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada giai đoạn 2018–2020 tăng liên tục theo từng năm Cụ thể, kim ngạch thương mại giữa hai nước đã ghi nhận mức tăng đều đặn từ năm 2018 sang năm 2019 và tiếp tục tăng vào năm 2020, cho thấy xu hướng mở rộng hoạt động giao thương và sự tăng trưởng của quan hệ thương mại Việt Nam – Canada trong giai đoạn này.

Năm 2019, giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada đạt 7,95 tỷ đô tăng 1,46 tỷ đô so với năm 2018, tương đương với tỷ lệ tăng 22,49%

Năm 2020, giá trị hàng hóa song vương giữa Việt Nam và Canada đạt 8,9 tỷ đô tăng 0,95 tỷ đô so với năm 2019 tương đương với tỷ lệ tăng 12,07%

Mặc dù năm 2020 giá trị gia tăng hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada tăng ở mức thấp hơn so với các năm trước, con số này vẫn đạt mức kỷ lục trong lịch sử Điều này cho thấy mối quan hệ thương mại Việt Nam – Canada tiếp tục duy trì đà tăng trưởng bất chấp tác động tiểu cực của đại dịch Covid-19.

Trong giai đoạn gần đây, thương mại song phương giữa Việt Nam và Canada ghi nhận nhiều kết quả tích cực nhờ tác động của hiệp định CPTPP, vốn mở cửa tiếp cận miễn thuế cho hàng hóa giữa hai nước Hiệp định này giúp các sản phẩm chất lượng cao của Canada có mức giá cạnh tranh hơn cho người tiêu dùng Việt Nam, từ đó tăng sức hút và thúc đẩy tiêu thụ tại Việt Nam Ngược lại, hàng hóa của Việt Nam được phân phối rộng rãi và dễ dàng tiếp cận với thị trường Canada, mở rộng mạng lưới thương mại và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Những diễn biến này làm tăng giá trị thương mại song phương và thúc đẩy liên kết kinh tế giữa hai nước.

Hiệu lực của CPTPP không chỉ cải thiện khả năng tiếp cận thị trường cho hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Canada và Việt Nam mà còn giúp Việt Nam thiết lập quan hệ FTA, tận dụng và xóa bỏ hàng rào thuế quan để thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Điều này được thể hiện qua sự tăng trưởng đáng ghi nhận của kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Canada trong giai đoạn 2019-2021, cao hơn rất nhiều so với các giai đoạn trước.

Bảng 1: Kim nghạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada giai đoạn

2019-2021 Đơn vị tính: Tỷ USD

(Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam)

Bảng 1 cho thấy kim ngạch xuất khẩu của các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada trong giai đoạn 2019-2021 có sự gia tăng đáng kể qua các năm Năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu của các ngành thế mạnh đạt 4361 tỷ đồng, tăng 439 tỷ đồng so với năm 2019, tương ứng với mức tăng 11,19% Điều này cho thấy xu hướng tăng trưởng ổn định của kim ngạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada trong giai đoạn 2019-2021.

2021 đạt 5269 tỷ USD tăng 908 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 20.82% Cụ thể:

- Đối với các mặt hàng dệt, may:

+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 793 tỷ USD tăng 61 tỷ USD so với năm 2019 tương đuơng với tỷ lệ tăng 8.33%

+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 934 tỷ USD tăng 141 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 17.78%

- Đôí với ngành linh kiện, điện tử:

+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 365 tỷ USD, tăng 20 tỷ USD so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 5,79%.

+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 408 tỷ USD, tăng 43 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 11,78%

- Đối với các sản phẩm từ hạt điều:

+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 93 tỷ USD, tăng 5 tỷ USD so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 5,68%.

+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 112 tỷ USD, tăng 19 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 20,43%

Như vậy có thể thấy rõ trong giai đoạn 2019-2021, kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của một số mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sang Canada những năm đầu tuy có tăng nhưng chưa ở mức lớn và biến động chưa mạnh Tuy nhiên đến năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng này đã tăng đáng kể cả về giá trị lẫn tỷ lệ tăng trưởng Nguyên nhân chủ yếu là do các năm đầu giai đoạn 2019-2021 CP-TPP bắt đầu có hiệu lực nên tốc độ tăng trưởng chưa thực sự lớn, nhưng từ 2020-2021 nhờ vận dụng được những lợi thế từ hàng rào thuế quan từ FAT mà kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sang Canada đã gia tăng đáng kể.

Dù có sự gia tăng đáng kể nhờ lợi thế thiết lập FATCA của CP-TPP, tỷ lệ tận dụng ưu đãi CPTPP trong xuất khẩu của Việt Nam với các nước khác chỉ đạt 1,67%, trong khi với Canada lên tới 8% Điều này cho thấy Việt Nam–Canada là một trong những mô hình thành công và hiệu quả nhất trong việc triển khai CPTPP Thành quả này đến từ nỗ lực vượt bậc của Chính phủ và doanh nghiệp hai bên trong thiết lập cơ chế, khai phá thị trường, tăng cường kết nối hợp tác kinh doanh và vượt qua mọi thách thức khách quan lẫn chủ quan suốt nhiều năm.

Chile là một trong những nước thành viên nổi bật của TPP, thể hiện vai trò quan trọng trong cộng đồng thương mại tự do khu vực Dù nằm ở Nam Mỹ và cách Việt Nam một nửa vòng trái đất, khoảng cách địa lý không làm mờ đi mối quan hệ ngoại giao toàn diện và mối quan hệ song phương được xây dựng lâu năm giữa Việt Nam và Chile Trên nền tảng đó, Việt Nam và Chile đang tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho doanh nghiệp hai nước và khu vực.

Trước khi CP-TPP có hiệu lực, Chile là quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ đầu tiên xây dựng quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 25/03/1971 Trong gần 51 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Chile luôn đồng hành cùng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và là quốc gia duy nhất thiết lập mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tham gia nghiên cứu mạng lưới y tế để cấp cứu và điều trị cho những nạn nhân chịu thiệt hại và ảnh hưởng của chiến tranh tại Việt Nam Bên cạnh công tác đồng hành thực chiến và hỗ trợ hậu chiến, Chile cũng là quốc gia duy nhất quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chấp thuận để Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đặt cơ quan đại diện tại Chile Chính những sự giúp đỡ và hợp tác này đã mở ra nhiều trang mới trong lịch sử ngoại giao Việt Nam – Chile, và mối quan hệ ngoại giao này lại một lần nữa được khẳng định, gắn bó và phát triển khi hai nước ký kết các hiệp định thương mại song phương trên nhiều lĩnh vực hợp tác toàn diện vào tháng 05/2007, trong đó nổi bật là Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Chile có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.

Sau ba năm triển khai FTA Việt Nam – Chile, đến năm 2017 tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 1,28 tỷ USD, tăng 24,3% so với năm 2016 và gấp 2,5 lần so với thời điểm trước khi FTA có hiệu lực Thành quả này giúp Chile trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh, sau Brazil, Mexico và Argentina.

Trong hai năm 2019 và 2020, Chile là một quốc gia Nam Mỹ chịu nhiều ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Chile vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận, và điều này được thể hiện qua biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 2: Tổng trao đổi thương mại hai chiều 2019 – 2020 giữa Việt Nam và Chile Đơn vị tính: Triệu USD

(Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam, 2021)

Biểu đồ cho thấy tổng trao đổi thương mại hai chiều năm 2020 đạt hơn 1285 triệu USD, tăng 57,5 triệu USD so với năm 2019 và tương đương mức tăng 4,4% Nhìn chung, quy mô giao dịch hai chiều năm 2020 đã tăng so với năm trước, cho thấy sự phục hồi và mở rộng hoạt động thương mại giữa các bên trong năm này.

Những thuận lợi và khó khăn hiện tại

2.2.1.1 Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Khi CPTPP có hiệu lực, Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng kinh tế ở mức đáng kể Theo tính toán của Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), CPTPP sẽ giúp GDP Việt Nam tăng thêm khoảng 1,7 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu tăng trên 4 tỷ USD, tương ứng tăng 1,32% về GDP và 4,04% về xuất khẩu.

Đến năm 2035, bên cạnh đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, CP-TPP có vai trò ngày càng được nhận thấy trong việc dần xóa bỏ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, giảm thiểu các rào cản và thúc đẩy thương mại hóa trên toàn cầu.

2.2.1.2 Mở rộng thị trường xuất khẩu,

Hiệu lực của CP-TPP đã giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu và tiếp cận nhiều thị trường thế giới mới nhờ giảm áp lực từ hàng rào thuế quan Các ngành hàng thế mạnh như nông sản, thực phẩm và dệt may có nhiều cơ hội để chinh phục các thị trường khó tính, từ đó tăng trưởng của từng ngành được cải thiện và giá trị kim ngạch xuất khẩu gia tăng đáng kể Các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng chủ lực này được phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp và sản phẩm quốc tế.

Bên cạnh các lợi ích về xuất khẩu, CP-TPP hiệu lực giúp Việt Nam tăng cường kỹ thuật công nghệ và chất lượng gia công hàng hóa xuất khẩu, thúc đẩy quá trình phát triển và học hỏi, tiếp thu các công nghệ sản xuất cao từ các nước tiên tiến Hiệp định mở rộng cơ hội tiếp cận các chuẩn mực và công nghệ công nghiệp hiện đại, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu Thông qua CP-TPP, Việt Nam có điều kiện tiếp thu và áp dụng tiến bộ công nghệ từ Australia, Mexico, Nhật Bản và Canada vào quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị gia công của hàng hóa xuất khẩu.

2.2.1.3 Góp phần cải cách thể chế tại Việt Nam

CPTPP có hiệu lực sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, thương mại và đầu tư Để tận dụng cơ hội này, Việt Nam phải đổi mới và cải cách thể chế nhằm hòa nhập với thể chế kinh tế toàn cầu và mô hình tăng trưởng khi đất nước tham gia hội nhập, từ đó xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư đa quốc gia.

2.2.1.4 Góp phần giải quyết việc làm, giải quyết an sinh xã hội

CP-TPP mang lại tác động tích cực cho nền kinh tế Việt Nam, nâng cao chất lượng và sản lượng hàng hóa, đồng thời tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Việc các doanh nghiệp nước ngoài tăng đầu tư vào Việt Nam ngày càng phổ biến đòi hỏi một lực lượng lao động lớn cho sản xuất, kinh doanh và thương mại, từ đó góp phần giải quyết việc làm cho một phần lao động ở các địa phương Thặng dư từ hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu giúp tăng thu nhập của người dân, cải thiện đời sống và hỗ trợ quá trình xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội.

2.2.1.5 Tạo ra lợi ích trong mua sắm công

CP-TPP hiệu lực sẽ mở cửa thị trường mua sắm công một cách minh bạch hơn, cải thiện điều kiện mua sắm công tại Việt Nam và thiết lập một chuẩn mực để lựa chọn các nhà cung cấp có cùng cấp sản phẩm và dịch vụ tốt nhất Quy trình đánh giá sẽ trở nên khách quan và hiệu quả hơn, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà thầu và tăng cường chất lượng hàng hóa, dịch vụ cho các cơ quan nhà nước Nhờ đó, thị trường mua sắm công Việt Nam sẽ minh bạch, công bằng và bền vững hơn.

2.2.1.6 Là cơ sở tham chiếu để kí kết các Hiệp định thương mại tự do khác

Việc tham gia CP-TPP giúp Việt Nam thiết lập mối quan hệ thương mại lâu dài với nhiều quốc gia lớn, từ đó nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế Nhờ đó Việt Nam có nhiều cơ hội để ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới trên toàn cầu, tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế.

2.2.1.7 Giảm những thiệt hai khi không phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác Đối với các mặt hàng May mặc, khi tham gia vào CP-TPP Việt Nam sẽ không phải chịu sự phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc Bởi giá trị xuất khẩu từ các mặt hàng may mặc của Việt Nam sẽ được gia tăng và phân bổ đồng đều thêm sang các nước thành viên của CP-TPP, trong khi các nước cạnh tranh khác không tham gia vào CP-TPP sẽ chịu thiệt hại và phụ thuộc vào giao thương chuyển hướng của Trung Quốc. Đối với sản phẩm thế mạnh là gạo: Việt Nam vẫn luôn phải cạnh tranh với hai đối thủ mạnh là ThắiLan và Ấn Độ tron gnhiều năm qua Việc tham gia CP-TPP sẽ giúp Việt Nam không phải cạnh tranh gay gắt với Thái Lan và Ấn Độ khi hai quốc gia này không tham gia TPP Điều này sẽ giúp Việt Nam mở rộng thêm được thị trường xuất khẩu gạo trang các nước thành viên của CP-TPP tạo cơ hội gia tăng kim ngạch xuất khẩu, quảng bá sản phẩm thế mạnh đồng thời tiếp cận thêm với nhiều đối tượng và thị trường tiềm năng mới

TPP mang lại cơ hội mở rộng quan hệ thương mại tự do với các nước thành viên và đặt Việt Nam trước nhiều cơ hội phát triển, nhưng đồng thời tạo thách thức không nhỏ cho nền kinh tế nước ta Thị trường thế giới ngày càng rộng mở đòi hỏi Việt Nam chủ động tìm hiểu, thâm nhập, học hỏi và đổi mới công nghệ để chiếm lĩnh thị trường; nếu không, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trước sự cạnh tranh của các nước thành viên Dù sản phẩm, dịch vụ Việt Nam đã được cải thiện, độ cạnh tranh còn hạn chế so với các đối thủ nước ngoài, dễ bị mất thị phần nội địa và bị đào thải khỏi thị trường quốc tế nếu không nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh Để tận dụng hiệu quả cơ hội từ TPP, Việt Nam cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng nguồn nhân lực để phù hợp với yêu cầu của các hiệp định.

Việt Nam tham gia CPTPP đồng nghĩa với việc phải cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết, làm giảm thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, phần lớn các nước thành viên đều giảm thuế cho Việt Nam nên tác động tiêu cực lên ngân sách không diễn ra ở mức độ lớn Trước thực tế này, Chính phủ Việt Nam đã xem xét và phê duyệt các biện pháp nhằm giữ lại thuế xuất khẩu đối với các nguồn thu lớn như dầu thô và khoáng sản để hạn chế tác động của việc cắt giảm thuế nhập khẩu lên ngân sách nhà nước.

Khi tham gia vào TPP, khó khăn còn đặt nặng lên vai của các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều. Thực tế cho thấy nguồn lực của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, trình độ và kĩ thuật của nhận lực còn chưua cao, công nghệ chưa thực sự tiên tiến, vốn và tư bản không đủ mạnh Do đó khả năng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam còn kém Điều này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam phải có đủ năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời cũng phải thích ứng với môi trường kinh doanh, thể chế chính trị,, điều kiện, thị hiếu, yêu cầu về chất lượng và cả những thể chế khắc nghiệt của thị trường thế giới.

NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI HIỆP ĐỊNH CPTPP CÓ HIỆU LỰC THỰC THI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TMQT CỦA VN

Ngày đăng: 09/12/2022, 17:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vân Thanh. (2018). Tham gia CPTPP khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam. Truy cập ngày 09/02/2021 tại https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/tham-gia-cptpp-khang-dinh-vai-tro-va-vi-the-dia-chinh-tri-quan-trong-cua-viet-nam-1491849201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham gia CPTPP khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam
Tác giả: Vân Thanh
Nhà XB: hcmcpv.org.vn
Năm: 2018
2. Bình Lee. (2019). Việt Nam chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu. Truy cập ngày 10/02/2021 tại https://chatluongvacuocsong.vn/viet-nam-chuyen-tu-nhap-sieu-sang-xuat-sieu-d77410.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu
Tác giả: Bình Lee
Nhà XB: chatluongvacuocsong.vn
Năm: 2019
3. Ngô Văn Vũ, Nguyễn Thùy Dương, Phạm Văn Nghĩa. (2020). Tác động của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đối với Việt Nam . Truy cập ngày 10/02/2021 tại https://www.vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/tac-dong-cua-hiep-dinh-doi-tac-toan-dien-va-tien-bo-xuyen-thai-binh-duong-doi-voi-viet-nam-944. A.N. (2021). Thương mại Việt Nam – Nhật Bản có tính bổ trợ cho nhau. Truy cập ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đối với Việt Nam
Tác giả: Ngô Văn Vũ, Nguyễn Thùy Dương, Phạm Văn Nghĩa
Năm: 2020
5. Thu Hòa. (2021). Việt Nam sau 2 năm thực thi hiệp định CPTPP. Truy cập ngày 10/02/2021 tại http://consosukien.vn/vie-t-nam-sau-2-nam-thu-c-thi-hie-p-dinh-cptpp.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sau 2 năm thực thi hiệp định CPTPP
Tác giả: Thu Hòa
Nhà XB: consosukien.vn
Năm: 2021
6. Cổng thông tin FTA. (2021). Tình hình XNK một số mặt hàng chính sang các nước thành viên CPTPP tháng 7/2021. Truy cập ngày 10/02/2021 tại https://trungtamwto.vn/chuyen- de/18598-tinh-hinh-xnk-mot-so-mat-hang-chinh-sang-cac-nuoc-thanh-vien-cptpp-thang-072021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình XNK một số mặt hàng chính sang các nước thành viên CPTPP tháng 7/2021
Tác giả: Cổng thông tin FTA
Nhà XB: Cổng thông tin FTA
Năm: 2021
7. Báo Công thương. (2021). Việt Nam - Canada: Mẫu hình thành công trong việc thực hiện CPTPP. Truy cập ngày 12/02/2021 tại https://trungtamwto.vn/an-pham/17390-viet-nam--canada-mau-hinh-thanh-cong-trong-viec-thuc-hien-cptpp?fbclid=IwAR1lNNbx2nNHDyN31rQlN4xExzZ1XVE-5tqW8oSeS7AuQuSzQnUctJHy0Zo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Canada: Mẫu hình thành công trong việc thực hiệnCPTPP
Tác giả: Báo Công thương
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w