Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm kỹ năng Theo từ điển Giáo dục học, kỹ năng là: “Khả năng thực hiện đúng hành động,hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ ĐÔ THỊ
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu
Khái quát về kĩ năng
Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm kĩ năng
Khái niệm kĩ năng mềm
Khái niệm kĩ năng cứng
Kỹ năng sống
Khái niệm kĩ năng sống
Những kĩ năng sống cần thiết cho sinh viên đại học
Kỹ năng phân tích vấn đề
Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng thích ứng trong học tập và cuộc sống
Kỹ năng thuyết trình
Kỹ năng làm việc nhóm (Teamwork skills)…
Mối quan hệ kỹ năng sống, kỹ năng cứng và …
kỹ năng mềm trong phát triển nghề nghiệp Tầm quan trọng của kỹ năng đối với …
sinh viên đại học Con đường hình thành và phát triển kỹ năng …
mềm trong trường đại học Ứng dựng thực tế và đánh giá
1 1 1 1 2 5 6 6 8 8 13 17 20 23 24 25 26 30
Trang 3I Khái quát về kỹ năng
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm kỹ năng
Theo từ điển Giáo dục học, kỹ năng là: “Khả năng thực hiện đúng hành động,hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động
ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”.Trên bình diện củaTâm lý học, có hai quan điểm khác nhau về kỹ năng: Thứ nhất, xem kỹ năng làmặt kỹ thuật của thao tác, hành động, coi kỹ năng như một phương tiện thựchiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đãnắm vững, không cần quan tâm đến kết quả: “Kỹ nănglà cách thức cơ bản đểchủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượmđược, những thói quen và kinh nghiệm” Thứ hai, xem kỹ năng là biểu hiện củanăng lực con người, coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc kết quả vớichất lượng cần thiết, trong một khoảng thời gian cụ thể: Các tác giả NguyễnQuang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành, Trần Thị Quốc Minh cho rằng:
“Kỹ năngmột mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả”.Trên cơ sở phân tích trên, chúng ta có thể hiếu khái niệm kỹ năng như sau:“Kỹnăng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vậndụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với nhữngđiều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hànhđộng, mà còn là biểu hiện năng lực của con người” Kỹ năng là giai đoạn trunggian giữa việc nắm vững cách thức mới thực hiện hành động, dựa trên cơ sở củatri thức và sự vận dụng đúng những tri thức tương xứng trong quá trình hoànthành các bài tập, nhưng chưa đạt tới mức độ kỹ xảo
Trang 41.2 Khái niệm kỹ năng mềm
a Khái niệm:
Bên cạnh thuật ngữ “kỹ năng sống” được phổ biến một cách rộng rãi trong lĩnhvực giáo dục và xã hội thì thuật ngữ “kỹ năng mềm” (Soft Skills) cũng là mộttrong những vấn đề được quan tâm nhất là các đối tượng đang chuẩn bị cho quátrình lập thân - lập nghiệp Ngày nay, trình độ học vấn và bằng cấp chưa đủ đểquyết định trong việc tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp và người sửdụng lao động Họ còn căn cứ vào yếu tố cá nhân như sự nhạy bén khi xử lýcông việc và giao tiếp của mỗi người lao động, các yếu tố này được người ta gọi
là “kỹ năng mềm” Có khá nhiều quan niệm khác nhau hay định nghĩa khácnhau về kỹ năng mềm tuỳ theo lĩnh vực nghề nghiệp, góc nhìn chuyên môn, ngữcảnh phát biểu và thậm chí là việc đặt thuật ngữ này bên cạnh những thuật ngữnào.Hiểu một cách đơn giản kỹ năng mềm là những kỹ năng con người tích luỹđược để làm cho mình dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt đượchiệu quả Theo tác giả D.M Kaplan thì kỹ năng mềm là những kỹ năng mà conngười có được ngoài yếu tố chuyên môn và sự chuyên nghiệp xét trên lĩnh vựccông việc Đó còn được xem là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của con người, thểhiện khả năng tinh thần của cá nhân Nói cách khác, kỹ năng mềm thể hiện sựtồn tại và vận dụng một cách hiệu quả những đặc điểm của cá nhân như: thânthiện, vị tha, biết chấp nhận người khác Một vài tác giả khác như E.A.Leutenberg, J.J Liptak lại cho rằng kỹ năng mềm là những kỹ năng không liênquan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn của nghề nghiệp đang sở hữu mà nóthể hiện cái riêng về mặt cá tính của cá nhân trong công việc và trong mối quan
hệ với người khác Tác giả Forland, Jeremy cho rằng kỹ năng mềm là một thuậtngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụngngôn ngữ giao tiếp, khả năng hoà nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử hiệuquả trong giao tiếp giữa người với người Nói khác đi, đó là kỹ năng liên quanđến việc con người hoà mình, chung sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm,tập thể, tổ chức và cộng đồng Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằngkỹ năngmềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc (EQ) củacon người như: một số nét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn, vượt quakhủng hoảng, sáng tạo và đổi mới), sự tế nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạcquan, chân thành, kỹ năng làm việc theo nhóm… Đây là những yếu tố ảnhhưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người khác Những kỹ năng này là nhữngthứ thường không được học trong đơn vị, không liên quan đến kiến thức chuyênmôn, không thể sờ nắm, nhưng không phải là kỹ năng đặc biệt mà phụ thuộcchủ yếu vào cá tính của từng người Kỹ năng mềm quyết định bạn là ai, làmviệc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc Như vậy, có thể nói cókhá nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng mềm, trong đề tài này tác giả sử
Trang 5dụng định nghĩa kỹ năng mềm như sau: Kỹ năng mềm là những kỹ năng khôngliên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn mà thiên về mặt tinh thần của mỗi
cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằmduy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc mộtcách hiệu quả
b Đặc điểm:
Việc xác lập định nghĩa về kỹ năng mềm là một việc làm hết sức khó khăn, vìvậy phân tích các đặc điểm của kỹ năng mềm càng không phải là vấn đề đơngiản Tuy vậy, có thể nhấn mạnh đến những đặc điểm cơ bản sau:
- Kỹ năng mềm không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh của con người Kỹnăng mềm không phải là sự “chín muồi” của những tố chất, hay cũngkhông hẳn là sự “phát sáng” theo kiểu bẩm sinh đã có kỹ năng mềm ấy ởchủ thể mà tất cả đều phải trải qua sự nỗ lực, tập luyện và phát triển mộtcách đích thực, có biện pháp và phương pháp của chủ thể
- Kỹ năng mềm không phải chỉ là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc Ở một vàiđịnh nghĩa đã đề cập cũng như quan điểm của một số tác giả, kỹ năngmềm
liên quan chặt đến khả năng tương tác với người khác, vì vậy họ mặcnhiên xem rằng đây là biểu hiện của chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ –Emotional Quotient) Theo tôi, nếu pg 110 kỹ năng mềm là biểu hiện củatrí tuệ cảm xúc thì việc sử dụng khái niệm trí tuệ cảm xúc lại rất bao quát
và đầy đủ thì không nhất thiết phải sử dụng thêm thuật ngữ kỹ năngmềm.Mỗi cá nhân đều có trí tuệ cảm xúc, nhưng trí tuệ cảm xúc đó phảiđạt đến một mức độ cụ thể nào đó mới có thể được gọi là kỹ năng Vì vậykhông thể đồng nhất hai khái niệm kỹ năng mềm và trí tuệ cảm xúc
- Kỹ năng mềm được hình thành bằng con đường trải nghiệm đích thựcchứ không phải là sự “nạp” kiến thức đơn thuần Có thể nhận ra rằng việccon người được rèn luyện ở một nghề nghiệp thì ngoài những yêu cầu vềđạo đức nghề nghiệp thì các kỹ năng nghề theo mô hình thao tác nghềnghiệp nhằm đạt được sản phẩm luôn được ưu tiên Cũng chính vì vậy,những kỹ năng cơ bản và đặc trưng của nghề nghiệp thường được ưu tiênđào tạo và phát triển Thực tế cho thấy, những kỹ năng hỗ trợ cho nghềhoặc tạo điều kiện để vận dụng những kỹ năng mang tính thao tác ấy lại
có thể bị bỏ rơi hoặc bỏ quên Vì vậy, sự thiếu hụt kỹ năng mềm ở SV vàngười lao động đã diễn ra Thông thường, kỹ năng mềm thường khó khănhơn để có được vì tính chất đặc thù của nó trong mối quan hệ với conngười và hoàn cảnh
Trang 6- Kỹ năng mềm không thể “cố định” với những ngành nghề khác nhau.Mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có một mô hình kỹ năng nghề khác nhau.Chính trong việc xác định kỹ năng nghề thì những kỹ năng cơ bản và đặctrưng mang tính chuyên môn - nghiệp vụ và những kỹ năng mềm cũngchưa được phân định rạch ròi Nhưng một thực tế không thể phủ nhận là
ở mỗi một nghề nghiệp sẽ có những kỹ năng nghề nghiệp cơ bản vànhững kỹ năng hỗ trợ nghề nghiệp theo hướng giúp chủ thể nghề nghiệpthích ứng - thích nghi, dễ hoà nhập với môi trường mang tính “xã hội”,chủ động và linh hoạt để vận dụng - triển khai kỹ năng nghề nghiệp đóchính là kỹ năng mềm Vì thế,mỗi nghề nghiệp khác nhau không thể cónhững kỹ năng mềm giống nhau
c Phân loại:
Khi có nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng mềm thì sẽ có những cách phânloại kỹ năng mềm khác nhau Điểm qua sự phân loại từ nhiều tài liệu nghiêncứu, có thể nhận thấy hướng phân loại cơ bản về kỹ năng mềm hướng liệt kêcác kỹ năng mềm gắn chặt với các kỹ năng lao động chuyên nghiệp, kỹ nănglàm việc để thành công Theo Bộ lao động Mỹ (The US Department of Labour)cùng với Hiệp hội Đào tạo và phát triển Mỹ (The American society of Trainingand Development) đã nghiên cứu và đưa ra 13 kỹ năng để thành công trongcông việc và những kỹ năng mềm là trung tâm: kỹ năng học và tự học; kỹ nănglắng nghe; kỹ năng thuyết trình; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng tư duy sángtạo; kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn; kỹ năng xác lập mục tiêu/ tạođộng lực làm việc; kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp; kỹ năng giao tiếp
và tạo lập quan hệ; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng thương lượng; kỹ năng tổchức công việc hiệu quả; kỹ năng lãnh đạo Tài liệu “kỹ năng hành nghề chotương lai” xuất bản năm 2002 tại Úc với sự tham gia của nhiều tổ chức chuyênmôn thì cho rằng, có 8kỹ năng mềm sau: kỹ năng giao tiếp; kỹ năng làm việcnhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm; kỹ năng lập kếhoạch và tổ chức công việc; kỹ năng quản lý bản thân; kỹ năng học tập ; kỹnăng về công nghệ Nhìn chung, đây là hướng phân tích kỹ năng mềm theo một
số lượng nhất định có thể gia giảm theo từng nghề nghiệp và công việc khácnhau Rõ ràng, trong những kỹ năng đã nêu như phần đặc điểm tác giả đã đềcập, có những kỹ năng trở thành kỹ năng nghề nghiệp của một số nghề nghiệpnào đó Ở Việt Nam, việc phân loại kỹ năng mềm cũng được quan tâm nhưngcũng chỉ dừng ở mức liệt kê thành những kỹ năng đơn lẻ tuỳ theo hướng nghiêncứu, lĩnh vực nghề nghiệp và cả kinh nghiệm của cá nhân Tuy vậy, những kỹnăng mềm được quan tâm nhất vẫn là những kỹ năng làm việc với con người và
Trang 7kỹ năng làm hạn chế những thói quen làm việc cảm tính và thiếu sự chuyênnghiệp Những kỹ năng mềm thường được quan tâm như: kỹ năng quản lý cảmxúc, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng
tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội
1.3 Khái niệm kỹ năng cứng
Kỹ năng cứng (KNC) thường được hiểu là những kiến thức, đúc kết và thựchành có tính chất kỹ thuật nghề nghiệp KNC được cung cấp thông qua các mônhọc đào tạo chính khóa, có liên kết logic chặt chẽ, và xây dựng tuần tự Thờigian để có được KNC thường rất dài, hàng chục năm, bắt đầu từ những kiếnthức kỹ năng cơ bản ở nhà trường phổ thông qua các cấp như: Tư duy hình học,
tư duy ngôn ngữ - văn phạm, các hệ thống khái niệm lý thuyết cơ bản vật lý hóahọc sinh học toán học và những kiến thức kỹ năng này được phát triển dần lêncác mức độ cao hơn, thông qua giảng dạy, thực hành và tự học một cách hệthống Như vậy, thời gian để có được KNC thường rất dài và bắt buộc mỗingười phải trải qua những giai đoạn có tính hệ thống của tư duy logic Mặtkhác, mỗi người phải trải qua qua trình rèn luyện dài, vất vả và đi kèm vớinhững kì thi chuyên môn, tay nghề để khẳng định sự thành thạo về chuyên môncủa mình KN cứng thường xuất hiện trên bản lý lịch về khả năng học vấn, kinhnghiệm và sự thành thạo về chuyên môn của mỗi con người Tóm lại, KNC là
KN nghề nghiệp thể hiện qua trình độ học vấn hay bằng cấp và chứng chỉ, kinhnghiệm và sự thành thạo về chuyên môn của mỗi người
II Kỹ năng sống
1 Khái niệm Kỹ năng sống
Theo Từ điển Bách khoa Tâm lý học – giáo dục học Việt Nam, kỹ năng sống là:Tổng hợp các kỹ năng bộ phận giúp cá nhân thích nghi và giải quyết hiệu quảcác yêu cầu, thách thức của cuộc sống Theo tổ chức y tế thế giới WHO, kỹnăng sống được hiểu là: “Những hành vi tích cực giúp cá nhân ứng phó hiệuquả với yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày Đây là một nhóm nănglực tâm lý – xã hội trực tiếp hướng vào hoạt động của cá nhân hoặc tác độngđến người khác, hoặc hướng vào những hoạt động làm thay đổi môi trườngxung quanh để nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần của xã hội” Theo
Trang 8UNESSCO, kỹ năng sống là “Những năng lực tâm lý – xã hội liên quan đếnkiến thức, thái độ được thể hiện bằng hành vi giúp cá nhân thích nghi và giảiquyết hiệu quả các yêu cầu, thách thức của cuộc sống” Như vậy chúng ta coathể hiểu, Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cánhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này còn được xemnhư một biểu hiện quan trọng của khả năng tâm lý - xã hội giúp cho cá nhân thểhiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để giải quyếtnhững vấn đề trong cuộc sống và phát triển
Nhóm 2: Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc: Ở nhóm này bao gồm một số
kỹ năng sau: nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, kềm chế vàkiểm soát được cảm xúc, tự giám sát - tự điều chỉnh cảm xúc của cá nhân Nhóm 3: Nhóm kỹ năng xã hội: Ở nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹ năng
cụ thể như: giao tiếp - truyền thông, cảm thông, chia sẻ, hợp tác, gây thiện cảm,thích ứng với cảm xúc của người khác
- Theo tổ chức UNESCO thì kỹ năng sống phải được phân chia dựa trên những
kỹ năng nền tảng cơ bản cũng như những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cánhân của con người ở những mối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vựckhác nhau Xuất phát từ đó, có thể có những nhóm kỹ năng như sau:
Nhóm 1: Nhóm kỹ năng chung: Ở nhóm kỹ năng chung này bao gồm những kỹnăng cơ bản mà mỗi cá nhân đều có thể có để thích ứng với cuộc sống chungbao gồm các kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng
cơ bản về xã hội
Nhóm 2: Nhóm kỹ năng chuyên biệt: Nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹnăng sống được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như:các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, các kỹ năng liên quan đến giới và giớitính, các kỹ năng về vấn đề xã hội như rượu, ma túy, thuốc lá, HIV - AIDS, các
kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các kỹ năng liên quan đế vấn đềbạo lực - rủi ro, các kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, các kỹ năng liênquan đến môi trường cộng đồng
Trang 9- Theo UNICEF (Tổ chức Quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc) Tổ chức này cũng
có những nghiên cứu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cánhân Phân loại ở đây cũng đề cập đến ba nhóm kỹ năng cơ bản:
Nhóm 1: Nhóm những kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình Nhóm nàybao gồm một số kỹ năng như: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xâydựng mục tiêu cuộc sống, kỹ năng bảo vệ bản thân
Nhóm 2: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác Nhóm này baogồm một số kỹ năng như: thiết lập quan hệ, hợp tác, làm việc nhóm,…
Nhóm 3: Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả Nhóm kỹ năng nàybao gồm một số kỹ năng như: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định,ứng xử, giải quyết vấn đề Sự phân chia ở trên cũng chỉ là tương đối Ở mỗimột góc độ khác nhau, cách phân loại kỹ năng sống có thể khác nhau Tuynhiên, dù phân loại trên góc nhìn nào thì kỹ năng sống phải là những kỹ năngthuộc về năng lực cá nhân giúp bản thân tồn tại và làm chủ cuộc sống mìnhcũng như đạt được những mục tiêu sống hiệu quả Như vậy, một cách đơn giảnthì kỹ năng sống bao gồm: kỹ năng mềm và kỹ năng “cứng” Kỹ năng “cứng”thực chất là cách gọi dễ nhớ của những kỹ năng cơ bản trong nghề nghiệp (thậmchí là hiểu biết), những kỹ năng thuộc về chuyên môn - nghiệp vụ
2 Những kĩ năng sống cần thiết cho sinh viên đại học
2.1 Kỹ năng phân tích vấn đề
a Khái niệm
Theo như ông Richards J Heuer Jr là một cựu thành viên xuất sắc của CIA
Mỹ, ông cho hay: Đối với kỹ năng phân tích thì đây là một kỹ năng bắt buộc đòihỏi trong nghề mộc hoặc lái xe Có được kỹ năng này là nhờ quá trình dạy vàhọc, nhưng nếu như muốn cải thiện tốt hơn về kỹ năng phân tích vấn đề thì bắtbuộc phải thông qua quá trình thực hành Tuy vậy, kỹ năng phân tích vấn đề sẽkhông giống như các kỹ năng khác là được đào tạo tại trường lớp thông quanhững tiết học lý thuyết Ở đây, cùng với toàn bộ các kĩ năng phân tích đượccác vấn đề và lĩnh vực trong cuộc sống thì cần phải được lĩnh hội và thông quarất là nhiều quá trình thực hành thì mới có thể làm được Cùng với khái niệm kĩnăng phân tích vấn đề này thì, đây chắc hẳn sẽ được coi là một trong những KNquan trọng nhất của con người mà chúng ít khi được được dạy ở trường lớp, bắtbuộc phải học qua trường đời Kỹ năng phân tích vấn đề bao gồm: Tư duy vềtrực quan, tư duy phản biện và khả năng thu thập cũng như xử lý thông tin - Tưduy trực quan: Tư duy trực quan sẽ là một tư duy mà gắn với trí tuệ và sáng tạocủa con người, với sáng tạo và tư duy là một khả năng có thể dự đoán được cáckết quả có thể xảy ra đối với từng chiến lược và hành động của mình Đối với
Trang 10một lĩnh vực chuyên nghiệp nào đó thì tư duy trực quan sẽ có liên quan đếnphân tích hầu hết các dữ liệu thông qua các kiểu minh họa như: Đồ thị, biểu đồ
và các danh sách chi tiết khác… - Tư duy phản biện: Đối với tư duy phản biệncủa mỗi người thì có thể được đánh giá và thông qua tính nhất quán của họtrong việc đưa ra các quyết định hợp lý Chắc chắn là thật sự có liên kết và mốiliên kết nào đó đến khả năng đánh giá phần thông tin của bản thân và đưa ramột kết luận mà không bị bất cứ cảm xúc nào chi phối
b Tầm quan trọng của kỹ năng phân tích vấn đề
Kỹ năng phân tích là rất quan trọng vì nó giúp bạn tìm giải pháp cho các vấn đề
và đưa ra quyết định về hướng triển khai tiếp theo Nhưng việc hiểu được cácvấn đề và phân tích tình huống để tìm ra cách giải quyết chung cho mọi người
mà ai cũng đồng ý thì cần phải có cả khả năng thuyết phục Giống như kỹ năngphân tích thì kỹ năng thuyết phục cũng là một kỹ năng quan trọng mà bất kỳcông việc nào cũng cần đến Phát triển kỹ năng phân tích sẽ giúp bạn cải thiệnđược hiệu quả công việc để hoàn thành mục tiêu của công ty cũng như các mụctiêu trong sự nghiệp của bản thân Học hỏi kỹ năng phân tích có thể xem xétngay các công việc của nhân viên phân tích đầu tư dự án, chuyên viên phân tíchrủi ro, nhân viên phân tích dữ liệu, Tuy tư duy phân tích thì chỉ là một kỹ năngmềm nhưng công việc phân tích lại yêu cầu bạn phải có các kỹ năng chuyênmôn liên quan, đặc biệt là khi bạn làm việc cho các công việc yêu cầu kiến thức
kỹ thuật cần thiết như điều dưỡng, kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học Kỹ năngphân tích vấn đề là một kỹ năng sống đem đến một thế mạnh lớn và có thể nó sẽ
hỗ trợ bạn rất nhiều trong tất cả các công việc làm cũng như trong cuộc sống đờithường Nếu như áp dụng vào trong công việc thì đây sẽ là một kỹ năng mềm(soft skills) để giúp chúng ta quản lý cũng như thực hiện dự án đã đề ra từ trước,lên ý tưởng cho chính mình, cho bài báo cáo hoặc là sẽ giải quyết một vấn đềnào đó một cách thật hiệu quả nhất, cùng với các kỹ năng khác như kỹ nănggiám sát và quản lý sản xuất, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quan sát, kỹ nănggiao tiếp, Kỹ năng phân tích vấn đề vô cùng quan trọng trong:
- Thu thấp tất cả các dữ liệu thông tin và báo cáo
- Giải quyết triệt để các vấn đề phức tạp
- Chốt và đưa ra những quyết định quan trọng
- Tóm tắt các dữ liệu để thống kê
- Xác định xu hướng mà mình muốn theo
- Hợp lý các quy trình có trong công việc
- Thực hiện dự án đề ra một cách có hiệu quả
Trang 11c Phương pháp nâng cao kỹ năng phân tích vấn đề
- Luôn bắt đầu phương pháp đọc chủ động, và đọc càng nhiều sách càng tốt:Mặc dù việc này không đơn giản, nhưng chúng ta thự hiện được sẽ thấy rất hữuích trong phương pháp này Bằng cách đặt câu hỏi về những gì chúng ta tìmhiểu khi đọc, đó chính là đang tiến hành thúc đẩy não bộ của mình suy nghĩ tưduy hơn Một kỹ thuật hữu ích khác là đặt ra câu hỏi và so sánh quan điểm củangười viết với những suy nghĩ của riêng mình Ghi chú lại những ý tưởng, suynghĩ mới, những kết quả, thành tích mà bạn đạt được sau khi đọc Phương phápđọc chủ động này sẽ khuyến khích trí não được mở mang, cũng như cho phépbạn tư duy theo những cách hoàn toàn mới
- Hãy bước ra ngoài và đi dạo một vòng: Đây cũng là một hoạt động đơn giảngiúp cải thiện kỹ năng phân tích Chúng ta cũng phải đặt trí óc của mình vào thếchủ động bằng cách quan sát những gì bạn nhìn thấy xung quanh một cách thậtcẩn thận, đi vào chi tiết Cố gắng sử dụng càng nhiều giác quan càng tốt và đặtcâu hỏi với những gì đang diễn ra Chúng ta nghĩ mình có thể nhớ được baonhiêu thông tin? Cố gắng ghi nhớ những gì quan sát và viết lại chúng vào ngaysau đó, càng sớm càng tốt
- Thực hành kỹ năng toán học: Sudoku và những trò chơi mang tính phân tíchlogic là những cách thức đơn giản, thú vị để thực hành kỹ năng mềm này
- Thêm những trò chơi đòi hỏi tư duy cao vào danh sách sở thích: Cờ vua, Cờthỏ cáo, bài Bridge và những loại game mang tính chất cải thiện trí óc vớinhững bước di chuyển đầy chiến lược là cách thú vị để nâng cao kỹ năng phântích Ngoài ra, truy tìm kho báu và đố vui cũng là những trò chơi rất hữu ích màbạn có thể đưa vào danh sách sở thích của mình Điều thú vị là tất cả loại tròchơi này đều mang tính tiêu khiển, giải trí, không đòi hỏi bạn phải mất quánhiều công sức để thực hiện, và giúp mang lại niềm vui cho cả gia đình bởi tínhgắn kết tuyệt vời của nó
- Xây dựng những cuộc trò chuyện: Khi trò chuyện với ai đó, hãy đặt cho ngườiđối diện những câu hỏi và cố gắng học những điều mới mẻ từ họ như làm thếnào để đối mặt với căng thẳng, hoặc làm thế nào để họ phát triển sự nghiệpthành công hay triết lý làm cha mẹ của họ là gì Việc đặt câu hỏi là rất cần thiết
để giữ cho bạn luôn tham gia vào câu chuyện Có thể phát triển song song các
kỹ năng mềm là kỹ năng phân tích và kỹ năng giao tiếp Phát triển các kĩ năngphân tích vấn đề bằng phương phương pháp SWOT (SWOT viết tắt từ các chữcái đầu tiên của các từ sau: Strengths: Các điểm mạnh, Weaknesses: Các điểmyếu, Opportunities: Các cơ hội, Threats: Các đe dọa, mối nguy) Khi sử dụng kỹthuật SWOT này, chúng ta sẽ vẽ ra trên một tờ giấy hoặc trên một chiếc bảng 4
Trang 12khu vực được phân chia thành các mục S, W, O, T Sau đó dùng kỹ thuật độngnão (brainstorming) để ghi các ý kiến hoặc nhận xét chủ quan của cá nhân haynhóm vào các khu vực tương ứng Nói về kỹ thuật phân tích SWOT sẽ đượcphép sử dụng một cách rộng rãi hơn trong lĩnh vực kinh doanh để phân tíchđược tình hình trong công ty, nghiên cứu được pg 141 về các đối thủ cạnhtranh… Tuy là vậy, nhưng hiện nay thì kỹ thuật này vẫn sẽ được sử dụng nhiềutrong các lĩnh vực khác nhau ngoài kinh doanh như: Giáo dục, phát triển cánhân… SWOT cũng có thể sẽ được dùng cho cá nhân, một tổ chức hay bất kìmột nhóm hoạt động nào đó Và chúng ta có thể dùng giấy viết hoặc bảng…Một cách dùng nữa đó chính là chúng ta có thể dùng các tờ giấy nhớ để phânphát cho từng thành viên trong nhóm Mỗi một thành viên trong nhóm sẽ viếtcác thông tin của mình vào giấy sau đó dính lại lên bảng Trong công việc biênsoạn và hình thành ra các dự thảo chiến lược để phát triển giáo dục vào khoảngnăm 2010 – 2022 của bộ GD và ĐT của chúng ta cũng đã từng sử dụng đến kỹthuật và phương pháp này Tư duy linh hoạt với SWOT Sau khi đã nắm vữngđược các kỹ năng phân tích vấn đề này, chúng ta vẫn cần phải quay lại để nhìn
ra thêm một tầm nhìn mới trong kỹ thuật SWOT Với việc phân chia ra các yếu
tố thành điểm mạnh và điểm yếu, có cơ hội và cùng với đó là các mối nguykhông cần thiết là một sự phân chia được cho là rất cứng nhắc Chúng ta khôngnên để cho một cái nhìn cứng nhắc về Cơ Hội và mối nguy Vì một phần đó là
“cơ hội có thể thành mối nguy” và nếu vậy thì cũng có thể ngược lại “mối nguy
sẽ trở thành cơ hội” đúng như với cụm từ là “nguy cơ” (trong cái rủi sẽ có cáimay) Ta có thể lấy một ví dụ như sau:
- Đứng trước một nguy cơ đó là học sinh trong trường có kết quả thi kém, nhưvậy thì chúng ta sẽ có cơ hội nhìn lại những lý do nào tồn tại các phương hướnggiải quyết ở trong tương lai
- Đứng trước nguy cơ nhà trường sẽ mở rộng thêm về mặt nhân sự, tổ chức và
cơ sở vật chất… như vậy thì chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ về tài chính,
bộ máy nhân sự sẽ lại thêm cồng kềnh, và công việc cũng thêm rắc rối, không rõràng, chồng chéo… Nhìn lại như vậy thì có thể thấy giữa nguy cơ và cơ hộiluôn là một quá trình, một sự chuyển biến qua lại và có liên quan đến nhau, cánhân trong chúng ta hoặc một tổ chức của chúng ta phải được nhìn thấy điềunhư vậy để có thể tìm thấy một sự cân bằng hoặc phải chấp nhận các thách thứckhi đưa ra quyết định Và trong cuộc sống của chính cá nhân chúng ta, nó chứađựng một sự vận động không ngừng kéo theo đó con người phải vận động khéoléo theo dòng chảy ấy với một tư duy linh hoạt và tầm nhìn sắc sảo để không rơivào bất cứ thái cực nào Một ví dụ cụ thể Với một công ty tư vấn mới đượcthành lập thì có thể hãy lập một kế hoạch ma trận theo SWOT như sau: Điểmmạnh:
Trang 13- Có thể là ta sẽ phản ứng được lại nhanh mà không cần phải đào tạo chuyênsâu hơn
- Có thể ta sẽ chăm sóc chu đáo với khách hàng, với một mức công việc sơkhơi do công ty mới bắt đầu như mới thành lập hiện nay thì ta sẽ có nhiều thờigian để quan tâm hơn đến khách hàng
- Chúng ta cũng sẽ có thể thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt nếu thấycác chương trình quảng cáo và PR của ta không có hiệu quả Điểm yếu:
- Tất nhiên trong thời kì đầu mới hình thành thì công ty sẽ chưa có thị trường vàdanh tiếng
- Ta có ít đội ngũ nhân viên với những kiến thức thật hạn hẹp trong nhiều lĩnhvực - Và tất nhiên là ta sẽ không thể tránh khỏi việc những người chủ chốt gặpcác điều phiền toái như bệnh tật hoặc rất có thể sẽ là bỏ việc Cơ hội:
- Đất nước ta với ngành kinh doanh đang cực kì mở rộng với nhiều khả năng sẽđược dẫn tới thành công
- Có thể hi vọng đối thủ cạnh tranh của chúng ta sẽ chậm chạp hơn trong côngviệc và tiếp thu những cái mới Tóm lại, việc kết hợp nhóm kỹ năng quan sát,phân tích, đúc kết hết sức quan trọng, giúp cho chúng ta nhìn nhận vấn đề, conngười và thế giới xung quanh được đa chiều hơn thông qua việc chúng ta quansát, việc chúng ta phân tích, từ đó kết luận và đúc kết theo suy nghĩ và hiểu biếtcủa chúng ta Con người sẽ trở nên hời hợt và không sâu sắc nếu chỉ một mọithứ một cách qua loa, đại khái và thiếu chính kiến, điều này sẽ dẫn đến nhữngkết quả công việc cũng như cuộc sống không được như ý Việc tạo thói quencũng như xây dựng văn hóa làm việc đòi hỏi sinh viên và thành viên của các tổchức, đoàn thể, doanh nghiệp càng phải được quan tâm và chú trọng Chúng takhông thể đưa ra một quan điểm, một quyết định nếu chúng ta chưa có cái nhìn
đa chiều một cách sâu sắc, và điều đó sẽ dẫn đến kết quả khôn lường, ảnhhưởng nhiều đến công việc cũng như trong cuộc sống của mỗi người Với nhóm
kỹ này, mỗi chúng ta sẽ biết rõ hơn về bản thân mình, về xã hội, về thế giớiquan từ đó hoàn thiện mình mỗi ngày để trưởng thành hơn, sống có ỹ nghĩa hơn
Từ đó chúng ta biết rõ các kỹ năng nào phù hợp với bản thân, phù hợp với côngviệc để tự học hoàn thiện hơn, đáp ứng mục tiêu cuộc sống mà mĩnh đã lựachọn Trong 4 năm học đại học, là cơ hội tốt nhất cho sinh viên tạo lập thóiquen này Cấp học đại học gồm rất nhiều mối quan hệ liên đới với nhau nhưthầy, cô, bạn bè, học tập và nghiên cứu khoa học, hoạt động ngoại khóa vàchính khóa, lý thuyết và thực hàng, đoàn thể, môi trường học tập cũng như cuộcsống mới mẻ, tâm lý lứa tuổi sang một giai đoạn mới như sự tự lập, sự khẳng
Trang 14đình…, tất cả những điều đó sẽ tạo cơ hội rất sinh viên thực hành kỹ năng quansát, phân tíc và đúc kết ra những bài học cho riêng mình
2.2 Kỹ năng giao tiếp
Giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển sự tiếp xúc giữa người với ngườiđược phát sinh từ nhu cầu hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xâydựng chiến lược tương tác thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác
* Bản chất của giao tiếp Bản chất của giao tiếp là sự tương tác tâm lí, là quátrình trao đổi thông tin giữa người nhận và người gửi
* Chức năng của giao tiếp - Chức năng thông tin - Chức năng tiếp xúc - Chứcnăng kích thích - Chức năng định vị - Chức năng hiểu biết - Tạo động cơ - Hìnhthành các mối quan hệ - Chức năng gây ảnh hưởng
* Mục tiêu trong giao tiếp Giao tiếp có 4 mục tiêu sau :
- Chuyển tải được những thông điệp
- Giúp người nhận hiểu những dự định của người phát tin
- Nhận được sự phản hồi từ người nhận
- Duy trì mối quan hệ tốt đẹp với người nhận
* Yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả cuộc giao tiếp chính là phi ngôn ngữ
Trang 15nhìn vào ánh mắt là có thể hiểu thông điệp mà người khác truyền tải Tình bạn,tình yêu, hy vọng, vui , buồn,… chúng ta có thể thấy được tất cả qua “cửa sổtâm hồn” ấy Một số điều nên tránh khi sử dụng tay trong giao tiếp:
- Khoanh tay: tạo sự xa cách, phòng thủ Tâm lý học phân tích rằng con ngườiluôn có xu hướng tự bảo vệ mình với các tác động xấu bên ngoài Một ngườikhoanh tay nghĩa là họ chưa cởi mở, đang dò xét
- Cho tay vào túi quần: Mang lại cảm giác kênh kiệu, thiếu hoà nhập (đàn ônghay mắc phải)
- Trỏ tay: Không ai thích bị trỏ tay vào mặt vì vậy khi thuyết trình chúng tacũng không nên chỉ tay vào thính giả
- Cầm bút hay que chỉ: Tránh vì khi cầm bút trên tay, bàn tay của ta sẽ khôngthể vung linh hoạt tự nhiên được Hơn nữa, cầm đồ vật trên tay ta cũng sẽ rất dễvung nó theo đà tay vung
- Tay là bộ phận linh hoạt nhất, thể hiện nhiều thông điệp vô hình nhất, do đó,các động tác về tay phải được tập rất kỹ Trong nền văn hoá Á đông chúng ta,khi nói ít vung tay Nếu vung tay nhiều thường bị coi là không khiếm tốn,không lễ phép Tuy nhiên, ngày nay khi hội nhập quốc tế, chúng ta cũng phảithay đổi cho phù hợp
* Dưới đây là 20 lời khuyên rút ra từ cuộc khảo sát trên Wall Street Jounal củahơn 2000 nhà tuyển dụng
- Đừng phàn nàn: 80% những người phải nghe bạn phàn nàn sẽ không quan tâmbạn nói gì Như vậy, phàn nàn chẳng đem lại lợi lộc gì Đừng phản ứng tiêu cựctrước mỗi khó khăn, tốt nhất hãy tìm cách giải quyết vấn đề
- Cười thật nhiều: Luôn tươi cười trong giao tiếp sẽ tạo được niềm tin với đốitác và bạn cũng sẽ nhận được thái độ tươi cười đáp lại của đối tác
- Hãy lắng nghe thật sự và chân tình: Trong giao tiếp, nếu đối tác phát hiện bạnđang giả vờ lắng nghe họ, mọi nỗ lực của bạn trong trao đổi với người đó sẽ thấtbại
- Hãy khiến họ nghĩ họ quan trọng: Nếu bạn tỏ ra quý họ, cho họ thấy họ đángquý biết chừng nào thì họ sẽ rất thích hợp tác với bạn
- Thể hiện lòng biết ơn của bạn: Hãy cho họ thấy rằng, nếu không có họ, bạnkhó có được thành công này
- Hãy nói về sở thích của họ: Cái TÔI khiến mọi người thích nói về bản thânmình Vì vậy, để tạo sự thân thiện với đối tác trong giao tiếp, hãy hiểu và nói