1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát TÌNH TRẠNG TRẦM cảm SAU TAI BIẾN MẠCH máu não TẠIKHOA nội THẦN KINH nội TIẾT BỆNH VIÊN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂUNĂM 201

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tình trạng trầm cảm sau tai biến mạch máu não tại khoa nội thần kinh-nội tiết bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu năm 2019
Tác giả Huỳnh Ngọc Lan Vy
Trường học Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Chuyên ngành Y học nội thần kinh
Thể loại Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bến Tre
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 92,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó việc phát hiện sớm có ý nghĩa điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, tại Bến Tre, việc đánh giá gánh nặng bệnh tật do TBMMN chỉ dừng lại ở khuyết tật và tổn thất

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG TRẦM CẢM SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI KHOA NỘI THẦN KINH-NỘI TIẾT BỆNH VIÊN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

NĂM 2019

BS Huỳnh Ngọc Lan Vy Bệnh viện Tâm thần Bến Tre

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: TBMMN đang là vấn nạn cấp bách trong cộng đồng y khoa vì tỉ lệ hiện mắc cao,

là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật trên Thế giới, cũng là nguyên nhân gây sa sút trí tuệ và rối loạn trầm cảm Trầm cảm ở những bệnh nhân TBMMN gây khó khăn trong công tác hồi phục, dự phòng biến chứng và gia tăng tỉ lệ tử vong Do đó việc phát hiện sớm có ý nghĩa điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, tại Bến Tre, việc đánh giá gánh nặng bệnh tật do TBMMN chỉ dừng lại ở khuyết tật và tổn thất kinh tế, do đó chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát tình trạng trầm cảm sau tai biến mạch máu não tại khoa nội thần kinh-nội tiết bệnh viên Nguyễn Đình Chiểu năm 2019” nhằm mục đích xác định tỉ lệ trầm cảm ở những bệnh nhân đã mắc TBMMN và một số yếu tố liên quan

Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 bệnh nhân

TBMMN đang điều trị tại khoa nội thần kinh-nội tiết bệnh viên Nguyễn Đình Chiểu từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2019, áp dụng bệnh án mẫu để mô tả đặc điểm lâm sàng, phỏng vấn xác định các đặc điểm nhân khẩu học, tiền sử, và dùng bảng PHQ9 để đánh giá trầm cảm ở bệnh nhân

Sử dụng phần mềm SPSS22 để phân tích xử lý số liệu để phát hiện các yếu tố liên quan

Kết quả: Trong 109 bệnh nhân tham gia nghiên cứu tuổi trung bình 63,23 ± 13,312 tuổi, nam

nữ chiếm tỉ lệ xấp xỉ nhau (54,1% và 45,9%) Hầu hết sống ở vùng nông thôn, đã mất sức lao động và có sự ủng hộ từ gia đình 67,9% có Tăng huyết áp, 26,6% tiền sử đái tháo đường, 33,9% hút thuốc lá, 39,4% uống rượu bia, khuyết tật sau TBMMN là 75,25%, tỉ lệ trầm cảm từ nghiên cứu này là 35,8% trong đó trầm cảm nhẹ chiếm 23,9% Gặp nhiều nhất là triệu chứng tuyệt vọng (47 trường hợp), có 15 trường hợp có ý định tự sát Xác định được hút thuốc lá, tổn thương bán cầu trái và có khuyết tật sau TBMMN là những yếu tố liên quan tăng tỉ lệ trầm cảm

Kết luận: Tỉ lệ trầm cảm sau TBMMN khá cao, cần quan tâm đến nhóm bệnh nhân có tổn

thương bán cầu não trái, hút thuốc lá và có khuyết tật để có biện pháp can thiệp sớm và phù hợp

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu não đang trở thành vấn nạn cấp bách trong cộng đồng y khoa Trong bốn thập kỉ qua, tỉ lệ tai biến mạch máu não (TBMMN) đã tăng gấp đôi ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình Ở các nước này, TBMMN xảy ra sớm hơn 15 năm với

Trang 2

mức độ trầm trọng hơn so với các nước có thu nhập cao Theo WHO, TBMMN đang là nguyên nhân gây tử vong xếp hạng thứ hai và nguyên nhân gây khuyết tật xếp hạng thứ

ba trên toàn thế giới [1] Tại Việt Nam, hàng năm có khoảng 20.000 ca mới mắc [2] TBMMN cũng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sa sút trí tuệ và rối loạn trầm cảm [1]

Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân sau TBMMN vào khoảng 30-33%, gây khó khăn trong việc điều trị, hồi phục và dự phòng những biến chứng của TBMMN góp phần làm tăng tỉ lệ

tử vong ở những bệnh nhân này [3] Việc phát hiện và điều trị sớm trầm cảm giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, hạn chế thương tật và tăng tỉ lệ hồi phục cho bệnh nhân PHQ9 là bảng kiểm tự đánh giá của người bệnh, thông qua việc trả lời 9 câu hỏi đơn giản, nhà lâm sàng có thể sàng lọc nhanh những nguy cơ trầm cảm ở bệnh nhân, thang điểm này được đánh giá là công cụ sàng lọc hiệu quả và tiết kiệm, được lựa chọn nhiều trong việc sàng lọc nhanh trầm cảm [1, 4, 5] Tại Bến Tre, gánh nặng của TBMMN được báo cáo chủ yếu về vấn đề khuyết tật vận động, suy giảm khả năng lao động và về lĩnh vực kinh tế, chưa có nghiên cứu cũng như sự quan tâm đến vấn đề rối loạn trầm cảm sau TBMMN

Vì những lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát tình trạng trầm cảm sau tai biến mạch máu não tại khoa nội thần kinh-nội tiết bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu năm 2019” với hai mục tiêu:

1 Xác định tỉ lệ trầm cảm sau TBMMN ở bệnh nhân đang điều trị tại khoa NTK-Nội tiết

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm sau TBMMN ở bệnh nhân đang điều trị tại khoa Nội thần kinh – Nội tiết

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân tai biến mạch máu não (Đột quỵ) đang điều trị nội

trú tại khoa nội thần kinh Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu năm 2019

Tiêu chí chọn vào: chọn vào những đối tượng thỏa mãn tất cả các tiêu chí sau đây:

- Bệnh nhân được chẩn đoán tai biến mạch máu não

- Có hình ảnh chụp cắt lớp điện toán (CT scan) hay chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não

Tiêu chí loại ra:

- Bệnh nhân từ chối tham gia.

- Bệnh nhân kích động, không làm chủ suy nghĩ và hành vi của bản thân.

- Không thể nghe, không thể nói, không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ và chữ viết.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu: khoa nội thần kinh bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu,

từ 05/2019 đến 9/2019

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỉ lệ:

= (*)

Với p=0,365 (6), Z2=1,96, c=0,07 tính được

n=92,71~93 người Thực tế tiến hành thu mẫu được 109 mẫu đưa vào nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ: chọn tất cả các đối tượng thỏa mãn tiêu chí chọn vào và loại bỏ các mẫu thuộc tiêu chí loại ra, đưa vào nghiên cứu Thu thập số liệu, công cụ thu thập số liệu: Bệnh án mẫu và bảng điểm PHQ9 Nội dung nghiên cứu: Thông tin chung, đặc điểm lâm sàng, điểm PHQ, một số yếu tố liên quan Xử lí số liệu: bằng phần mềm SPSS 22.

KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi, giới và trình độ học vấn mẫu nghiên cứu (n=109)

Đặc điểm mẫu

Tuổi

Tuổi trung bình 63,23 ± 13,312 tuổi nhỏ nhất 40 lớn nhất 88

Mất sức lao động/ hưu trí 67 61.5

Nghiên cứu thực hiện trên 109 đối tượng mắc TBMMN, nhóm đối tượng có tuổi trung bình 63,23± 13,312 tuổi, thấp nhất 40 tuổi cao nhất 88 tuổi, nam nữ chiếm tỉ lệ tương đương (54,1% và 454,9%) Hầu hết mất sức lao động, hưu trí (61,5%), sống chủ yếu ở nông thôn (64,2%) Trong nhóm đối tượng có đến 35,8% không nhận được sự ủng hộ, thiếu yếu tố nâng đỡ từ gia đình

Bảng 3.2 Đặc điểm tiền sử mẫu nghiên cứu (n=109)

Trang 4

Trong 109 đối tượng có đến 67,9% mắc Tăng huyết áp và 26,6% mắc đái tháo đường kèm theo TBMMN Có đến 33,9% có thói quen hút thuốc lá trên 20 gói/năm và 39,4%

có thói quen thường xuyên sử dụng rượu

Bảng 3.3 Đặc điểm về mức độ thương tật (n=109)

Sử dụng thang điểm đánh giá khuyết tật của Rankin trong nghiên cứu này sau khi bị TBMMN thì có 24,8% không có khuyết tật, khuyết tật chiếm tỉ lệ 75,2% (chủ yếu là khuyết tật nhẹ 36,7%)

Bảng 3.4 Đặc điểm về vị trí tổn thương (n=109)

109 đối tượng mắc TBMMN thì có 44% tổn thương bán cầu não trái, 36,7% tổn tương bán cầu não phải và các vị trí khác 19,3%

3.2 Kết quả test PHQ9:

Điểm PHQ9: trung bình 3,72 ± 4,669 điểm nhỏ nhất 0 điểm, điểm lớn nhất 21 điểm

Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân sau TBMMN

Trầm cảm được xác định khi có tổng điểm PHQ từ 5 điểm trở lên, trong mẫu 109 đối tượng tham gia nghiên cứu có đến 39 trường hợp (35,8%) được xác định trầm cảm từ thang PHQ9

Trang 5

Biểu đồ 3.2: Mô tả tần số triệu chứng trầm cảm

Triệu chứng bệnh nhân gặp nhiều nhất là cảm giác tuyệt vọng, tiếp theo là mất quan tâm hứng thú và khó đi vào giấc ngủ Có đến 15 trường hợp có ý tưởng tự tử

Bảng 3.5 Phân loại trầm cảm theo điểm số PHQ9

Đa số bệnh nhân mắc trầm cảm nhẹ (23,9%), trầm cảm trung bình nặng và trầm cảm nặng chiếm 3,6%

3.3 Một số yếu tố liên quan

Bảng 3.6: Các yếu tố liên quan đến SGNT

(0,545-2,621) 0,692

(0,253-1,373) 0,298 Thành thị 11 (28,2) 28 (71,8)

Không có việc làm 20 (29,9) 47 (70,1) 0,515

(0,231-1,149) 0,150

Có việc làm 19 (45,2) 23 (54,8)

Hút thuốc trên 20 gói/năm 19 (51,4) 18 (48,6) 2,744

(1,202-6,266) 0,020 Không hút thuốc 20 (27,8) 52 (72,2)

(0,965-4,796) 0,068 Không uống rượu 19 (28,8) 47 (71,2)

Có khuyết tật 34 (41,5) 48 (58,5) 3,117

(1,074-9,048) 0,038 Không khuyết tật 5 (18,5) 22 (81,5)

(0,280 -1,464 0,295 Không có bệnh THA 15 (42,9) 20 (57,1)

(0,471-2,735) 0,823 Không có bệnh ĐTĐ 28 (35) 52 (65)

Tổn

thương Bán cầu trái 26 (54,2) 22 (45,8)

5,023 (1,471-17,15) 0,01 Bán cầu phải 9 (22,5) 31 (77,5) 1,234 0,755

Trang 6

Vị trí khác 4 (19) 17 (81) - -Những người hút thuốc trên 20 gói/năm có nguy cơ mắc trầm cảm (51,4%) gấp 2,744 lần những người không hút thuốc lá (27,8%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Những người có khuyết tật sau TBMMN co nguy cơ mắc trầm cảm (41,5%) cao gấp 3,117 lần những người không có khuyết tật (18,5%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Những người tổn thương bán cầu não trái có nguy cơ trầm cảm (54,2%) cao gấp 5 lần những người tổn thương ở vị trí khác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 tuy nhiên những người tổn thương bán cầu não phải có nguy cơ trầm cảm không khác biệt với những người tổn thương ở vị trí khác (p>0,05) Chưa ghi nhận sự khác biệt về tỉ lệ trầm cảm ở các nhóm khác do p>0,05

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu: độ tuổi trung bình mắc TBMMN trong nghiên cứu này là

63,23 ± 13,3 tuổi cao hơn độ tuổi báo cáo trong nghiên cứu của Sarfo FS với độ tuổi trung bình là 55 ± 12,7 tuổi, độ tuổi này cũng phù hợp trong y văn với độ tuổi dịch tễ xảy ra TBMMN là 50—70 tuổi, và nguy cơ nhân đôi mỗi 10 năm [2,7] Cũng theo y văn, các báo cáo ghi nhận nam giới mắc TBMMN nhiều hơn nữ cụ thể trong nghiên cứu này là tỉ lệ 54,1% và 45,9% Nơi cư ngụ cho thấy đa số bệnh nhân TBMMN cư ngụ tại vùng nông thôn (64,2% so với 35,8%) điều này được giải thích do Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu là bệnh viện đa khoa của tỉnh chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh

mà tỉnh Bến Tre về địa giới hành chính được phân ra nhiều huyện với tình hình kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, độ tuổi mẫu nghiên cứu cũng khá cao, đa số mất sức lao động, hưu trí (61,5%) nên có sự đặc thù về nghề nghiệp, độ tuổi và nơi sinh sống

Một số nguy cơ liên quan TBMMN trong nghiên cứu này THA 67,9% và ĐTĐ 26,6%, hút thuốc lá 33,9% và uống rượu là 39,4% Sau TBMMN đa số để lại khuyết tật cho bệnh nhân, có đến 75,2% có khuyết tật đủ các cấp độ, tỉ lệ này trong nghiên cứu của Đỗ

Tư Duy là 70,1%, điều này cho thấy gánh nặng của TBMMN đối với bệnh nhân, gia đình và xã hội rất lớn do một số lí do khách quan, Nghiên cứu cắt ngang này chưa đề cập đến một số yếu tố như thời gian mắc TBMMN, trình độ văn hóa đối tượng và tình trạng hôn nhân cũng như thu nhập cá nhân

Tình trạng trầm cảm: Tỉ lệ trầm cảm trong nghiên cứu này là 35,8% phù hợp với các

báo cáo về tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân sau TBMMN là dao động từ 30-50% [2], cụ thể

Trang 7

khi so sánh thì tỉ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Đỗ Tư Duy là 36,5% (p=0,876>0,05) nhưng cao hơn nghiên cứu của Gyagenda JO (2015) là 31,5% (Triệu chứng trầm cảm theo thứ tự tần số thường gặp từ cao đến thấp trong nghiên cứu này là tuyệt vọng-mất quan tâm hứng thú- khó ngủ-mệt mỏi- chán ăn-khó tập trung-bồn chồn- cảm thấy vô dụng- ý nghĩ tự tử Triệu chứng lâm sàng tương đồng với mô tả trong y văn và tương tự kết quả nghiên cứu của Đỗ Tư Duy với tỉ lệ cao mất hứng thú-cảm xúc trầm- khó ngủ

Tỉ lệ có ý tưởng tự tử trong nghiên cứu này là 13,7% thấp hơn rất nhiều nghiên cứu của

Đỗ Tư Duy là 44% nhưng tương tự y văn là 15% [2,6] Mức độ trầm cảm phân theo thang PHQ9 ghi nhận đa phần là trầm cảm nhẹ 66,7% - một dấu hiệu đáng mừng trong tiên lượng điều trị và phục hồi với bệnh nhân tuy nhiên chúng ta không thể bỏ qua 10,1% bệnh nhân mắc trầm cảm trung bình nặng và nặng với triệu chứng có ý định tự tử

đi kèm Điều này cho thấy mô hình trầm cảm sau TBMMN khá rõ ràng về triệu chứng lâm sàng, đa số bệnh nhân tuyệt vọng, mất niềm vui vào cuộc sống, một số ít bệnh nhân rơi vào trầm cảm nặng có đi kèm nguy cơ tự sát

Yếu tố liên quan: nghiên cứu này xác định người hút thuốc lá trên 20 gói/năm nguy cơ

trầm cảm sau đột quỵ nhiều hơn gấp 2,744 lần người không hút thuốc lá Người có khuyết tật sau TBMMN thì nguy cơ trầm cảm gấp 3,117 lần người không gặp khuyết tật điều này tương tự nghiên cứu của Đỗ Tư Duy, thêm lần nữa khẳng định gánh nặng bệnh tật của TBMMN không chỉ là gánh nặng vê thể chất mà còn là gánh nặng về tâm thần [6] Tổn thương bán cầu não trái thì nguy cơ trầm cảm sau TBMMN gấp 5,023 lần so với tổn thương các vị trí khác Điều này được thống nhất từ rất nhiều báo cáo, bán cầu đại não trái chi phối và ảnh hưởng đến tình trạng trầm cảm của bệnh nhân [6, 7, 8, 9] Chưa ghi nhận sự khác biệt về tỉ lệ trầm cảm giữa hai giới dù tỉ lệ trầm cảm ở nữ cao hơn nam, một số nghiên cứu với cỡ mẫu đủ lớn, thực hiện khoảng thời gian đủ dài với thiết kế phân tích gộp cũng ghi nhận tỉ lệ trầm cảm sau TBMMN ở nữ cao hơn nam

[10] Bệnh lý đi kèm như THA và ĐTĐ có mối liên quan nhân quả với TBMMN trên

lâm sàng nhưng về khác biệt tỉ lệ trầm cảm ở nhóm bệnh nhân có hoặc không có bệnh

kèm theo chưa được xác định Việc chưa xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống

kê ở những yếu tố trên có thể do cỡ mẫu và quy mô của đề tài chưa đủ lớn, chỉ khảo sát một số bệnh nhân có nhu cầu nằm điều trị nội viện, một số bệnh nhân khác đang điều trị ngoại viện với diễn biến đa dang và phong phú vẫn chưa được khai thác Trong nghiên

Trang 8

cứu này chưa ghi nhận sự khác biệt về tỉ lệ trầm cảm sau TBMMN giữa nông thôn và thành thị, và giữa những người có việc làm và những người về hưu, mất sức lao động, điều này cũng tương tự kết quả mà nhóm nghiên cứu của Đỗ Tư Duy thực hiện [6]

KẾT LUẬN

Trong nghiên cứu này, sử dụng bảng điểm PHQ9 để khảo sát trầm cảm thì sau TBMMN

có đến 35,8% mắc trầm cảm trong đó chủ yếu là trầm cảm nhẹ 23,9% , 1,8% trầm cảm nặng, tỉ lệ bệnh nhân có ý tưởng tử tự đến 13,7%

Nghiên cứu xác định hút thuốc lá trên 20 gói/năm, tổn thương bán cầu não trái và có khuyết tật sau đột quỵ là những yếu tố có liên quan đến tình trạng trầm cảm, cần các nghiên cứu chuyên sâu và can thiệp để đánh giá và có biện pháp điều trị dự phòng trầm cảm ở những bệnh nhân TBMMN

Tài liệu tham khảo

1 Walter Johnson, Oyere Onuma, Mayowa Owolabic & Sonal Sachdeva (2016), Stroke: a global response is needed, WHO.

2 Vũ Anh Nhị (2017), Sổ tay thần kinh học sau đại học

3 AHA/ASA Statement Released on Depression After Stroke (2017)

4 Kroenke K, Spitzer RL, Williams JB (2001), The PHQ-9: validity of a brief depression severity measure.

5 Sahni A, Agius M (2017), The Use of the PHQ9 self-rating scale to assess depression within Primary Care, UK

6 Đỗ Tư Duy, Trần Minh Thư (2015), khảo sát tỉ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tai biến mạch máu não, luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp 1, TP HCM.

7 Sarfo FS, Agbenorku M và cs (2019), The dynamics of Poststroke depression among Ghanaians, pubmed.

8 Gyagenda JO, et al (2015), Post-stroke depression among stroke survivors attending two hospitals in Kampala Uganda Afr Health Sci 2015.

9 Levada OA, et al (2006), Post-stroke depression Review article, Correlative study on risk factors of depression among acute stroke patients, The association between lesion location, sex and poststroke depression: Meta-analysis, pubmed.

10 Volz et al (2019), The association between lesion location, sex and poststroke depression: Meta-analysis Review article và Gender differences in post-stroke depression: A longitudinal analysis of prevalence, persistence and predictive value of known risk factors, pubmed.

Ngày đăng: 09/12/2022, 17:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w