1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch lớp CCLLCT môn bđg bình đẳng giới trong lãnh đạo quản lý ở việt nam hiện nay

10 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình đẳng giới trong lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Bài thu hoạch
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 35,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được xem là một trong những nội dung quan trọng, then chốt, tạo cơ hội cho phụ nữ được nói tiếng nói đại diện cho giới mình, được phát huy trình đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quyền bình đẳng trong đời sống chính trị là quyền quan trọng để xây dựng một xã hội công dân, thể hiện quyền làm chủ của công dân với nhà nước Bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ không còn là vấn đề riêng của nữ giới, của một quốc gia, mà là mục tiêu phấn đấu thúc đẩy thực hiện của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới Liên hợp quốc xác định: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ là một trong 8 mục tiêu của thiên niên kỷ

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được xem là một trong những nội dung quan trọng, then chốt, tạo cơ hội cho phụ nữ được nói tiếng nói đại diện cho giới mình, được phát huy trình độ năng lực, kinh nghiệm, thể hiện quan điểm trong quyết định các chính sách về các lĩnh vực khác nhau của quốc gia Thông qua đó, góp phần tạo nên nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành công đáng kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng giới trên hành trình đến với các vị trí lãnh đạo, quản lý Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung mô tả thực trạng bình đẳng giới trong tham chính và góp phần gợi ý một vài hàm ý chính sách nhằm từng bước tăng cường hơn nữa vị thế chính trị cho phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG

1 Một số nét cơ bản về lãnh đạo nữ

- Khái niệm lãnh đạo

+ Quản lý được hiểu là sự điều hành, lập kế hoạch, tổ chức, nhằm đạt

được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả

+ Lãnh đạo là sự định hướng, dẫn dắt đường lối; là thúc đẩy, khích lệ và

thuyết phục người khác theo đường lối, mục tiêu nhất định

Trên bình diện quốc tế, không có một định nghĩa thống nhất, lãnh đạo được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, hiện nay người ta thường nói đến lãnh đạo chuyển đổi

Người lãnh đạo là người có vị trí hay có thẩm quyền trong tổ chức, có thể là người được xác lập dựa vào uy tín/đạo đức hay bằng sự đóng góp trí tuệ

mà không có thẩm quyền chính thức Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy lãnh đạo

nữ gắn với vị trí trong tổ chức, trong hệ thống chính trị

Trong “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” của Đảng, Bác Hồ đã khẳng định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là “đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn được độc lập, nam nữ bình quyền” Chúng ta cần thúc đẩy nữ giới tham gia lãnh đạo, quản lý vì: trước hết đó

là thực hiện quyền con người; xuất phát từ văn hóa truyền thống của người Việt (thờ Mẫu); lực lượng lao động nữ chiếm số đông, nên cần nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ; xóa bỏ định kiến thâm căn cố đế: phụ nữ không thể làm lãnh đạo; kinh nghiệm, kiến thức, nhu cầu, lợi ích của phụ nữ được phản ánh trong quá trình chính sách; mang lại hiệu quả kinh tế, đóng góp cho sự

phát triển bền vững; Việt Nam chưa đạt được các chỉ tiêu về lãnh đạo nữ do

đó cần hướng tới mục tiêu bình đẳng giới thực chất; ngoài ra với đặc điểm của phụ nữ sẽ hạn chế tính mạo hiểm, cứng nhắc của nam giới, nâng cao hiệu quả phối hợp

Trang 3

2 Thực trạng về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam

2.1 Cam kết chính trị của Việt Nam về bình đẳng giới trong chính trị

Ngoài việc tham gia các Công ước quốc tế như: Công ước CEDAW, Cương lĩnh HĐ Bắc Kinh, mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc; mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc , Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản thể hiện cam kết chính trị về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp ”

Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW

về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nghị quyết đã nêu lên những quan điểm cơ bản của Đảng ta trong công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước: “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ

nữ trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới… Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ

nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng Công tác phụ nữ

là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình…”

Đến Đại hội XI của Đảng (01/2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm này: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ

nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ

Trang 4

nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”

Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XII (tháng 1/2016) của Đảng đã nêu: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh, bình đẳng giới…”;

“Tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển con người, chính sách chăm sóc, bảo

vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em.”

Thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ, Hiến pháp năm

2013 khẳng định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”

Về thực hiện quyền chính trị quan trọng nhất - quyền bầu cử, ứng cử, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: “Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do UBTV Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch BCH Trung ương Hội LHPN Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ” Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị Theo quy định này, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng

nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.”

Trang 5

Ngày 24/12/2010, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là: "Đến năm 2020, về

cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với 7 mục tiêu, 22 chỉ tiêu nhằm thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị Trong đó, mục tiêu 1 về Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị quy định 3 chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2016- 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ

2016 - 2020 trên 35% Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Ngày 16/3/2015, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch triển khai Thông báo kết luận số 196-TB/TW ngày 16/3/2015 của Ban Bí thư về Đề án

“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến

bộ của phụ nữ trong tình hình mới” Mục tiêu là thông qua việc triển khai một số giải pháp bảo đảm thực hiện bình đẳng giới, góp phần nâng cao vị thế của phụ

nữ và giảm khoảng cách giới trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao

2.2 Thực trạng bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Những quy định pháp lý đã góp phần thực hiện tốt chương trình bình đẳng giới trên các lĩnh vực Trong đó, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Trang 6

là một trong những lĩnh vực nỗi bật và được cộng đồng quốc tế ghi nhận Trong bốn nhiệm kỳ gần đây, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn đạt trên 25% Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao trong khu vực và trên thế giới khi xếp hạng 43/143 trên thế giới và đứng thứ 2 trong

số 8 nước ASEAN Tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa IX là 8,6%, khóa XI là 9%, khóa XII là 10% Không chỉ tăng về số lượng, tỷ lệ nữ cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt cũng tăng, như Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng,

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh…

Tuy đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, tuy nhiên bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập: Tỷ lệ nữ giới trong các cấp uỷ Đảng chưa đạt chỉ tiêu; tỷ lệ nữ trong Quốc hội và HĐND các cấp chưa đạt chỉ tiêu Quốc tế và Quốc gia đặt ra; có sự tăng nhẹ nhưng ổn định đại diện nữ giới trong các cơ quan dân cử địa phương; trong lĩnh vực hành chính công, dường như có bức trần vô hình ở cấp Vụ trưởng; có nhiều nữ giới nắm các vị trí lãnh đạo cấp thấp hơn và càng ở cấp cao, càng ít sự đại diện của

nữ giới

Cụ thể: Số lượng nữ giới trong BCH Trung ương Đảng khóa XII: Ủy viên chính trị: 17/180; ủy viên dự khuyết: 3/20; Tổng số: 20/200 = 10%

Tỉ lệ nữ trong HĐND các cấp bình quân trong các nhiệm kỳ gần đây xấp

xỉ 24%

Tỉ lệ nữ trong Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: Bộ trưởng: 01/22 (4,5%); Thứ trưởng: 09/99 (9,1%); Vụ trưởng: 169/2641 (5,1%); Vụ phó: 498/2641 (15,1%)

Đối với huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ cũng đã được quan tâm, tuy nhiên do công tác quy hoạch, xây dựng đội ngũ kế cận còn hạn chế nên tỉ lệ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị của

Trang 7

huyện chưa cao Nhiệm kỳ 2015-2020, cấp huyện có 6/41 Huyện ủy viên là nữ; 100% xã, thị trấn có cấp uỷ nữ, với 51/367 người đạt 13,9% (tăng 2,2% so với nhiệm kỳ trước) Tỉ lệ nữ tham gia HĐND: cấp huyện: 5/37, chiếm tỷ lệ 13,5% đại biểu (giảm 7,5% so với nhiệm kỳ trước); cấp xã có 150/631 đạt 23,7%, (giảm 0,3% so với nhiệm kỳ trước) Tỉ lệ nữ tham gia UBND các cấp: cấp huyện có 6/38 đồng chí; cấp xã, thị trấn có 1/76 đồng chí

3 Những thách thức đối với phụ nữ trong quá trình vươn lên lãnh đạo, quản lý

Thứ nhất, khó khăn liên quan đến thể chế gồm có khó khăn liên quan đến quy trình cán bộ như: tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đi thực tế, luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm và công tác thực thi, giám sát quy trình cán bộ

Thứ hai, khó khăn liên quan đến văn hóa, nhận thức như: định kiến xã hội về phụ nữ, văn hóa gia trưởng từ xã hội cũ; lao động chăm sóc không được trả công (công việc gia đình) và cơ hội thăng tiến hạn chế; thiếu hệ thống mạng lưới nghề nghiệp hỗ trợ lao động nữ

Thứ ba, khó khăn từ chính bản thân người phụ nữ giới như: Định kiến giới từ chính phụ nữ (thiếu tin tưởng, ganh tỵ, kìm hãm lẫn nhau); sự tự ti, thụ động, an phận, tự trói buộc mình; đặc điểm giới tính của phụ nữ dẫn đến ngại vươn lên

4 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm của

người đứng đầu trong hệ thống chính trị, cơ quan, đơn vị, địa phương về công tác bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý

Cần cụ thể hóa trách nhiệm đảng viên, tổ chức Đảng và Bí thư Đảng ủy các cấp trong việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác cán

bộ nữ

Trang 8

Các cấp ủy Đảng cần xây dựng chương trình hành động cụ thể về công tác cán bộ nữ và kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị,

Kế hoạch hành động của cấp ủy về công tác cán bộ nữ

Thứ hai, các khuyến nghị liên quan đến luật pháp, chính sách

Cần cải cách tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ cho bình đẳng với nam giới vì tuổi nghỉ hưu sẽ liên quan đến tuổi bổ nhiệm cán bộ nữ

Đổi mới hệ thống quản lý về công tác cán bộ, nâng cao trách nhiệm giải trình về công tác cán bộ nữ

Cần xây dựng chiến lược tổng thể, chương trình, đề án quốc gia về lãnh đạo nữ cấp Bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương

Thứ ba, các khuyến nghị liên quan đến văn hóa, nhận thức gồm:

Tăng cường giáo dục, tuyên truyền về bình đẳng giới và sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới (Lồng ghép giới vào giáo dục và đào tạo)

Nhà nước, công đoàn cần chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ trong các công việc chăm sóc người già, trẻ em, người bệnh qua việc mở rộng và nâng cao các dịch vụ xã hội

Cuối cùng, nam giới cần chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ trong các công việc lao động không được trả công

Trang 9

KẾT LUẬN

Có thể nói, Việt Nam không thiếu các cam kết chính trị về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo ra một bước chuyển biến mới cả về lượng và chất trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ nước ta, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền bình đẳng nam nữ trên thực tế Để thực sự tăng cường nữ giới trong lĩnh vực chính trị, đòi hỏi chúng ta cần đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền hơn nữa nhằm nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong việc nhìn nhận vai trò, vị trí của phụ nữ; sự cam kết và đầu tư mạnh mẽ của Chính phủ, sự tham gia của các cấp, ngành, đoàn thể và mỗi cá nhân trong việc nâng cao vị thế, vai trò người phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong lĩnh vực quyền con người và bình đẳng giới

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11/NQ-TW về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5 Huyện ủy Thanh Hà (2015), Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đại biểu

Đảng bộ huyện Thanh Hà lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Thanh Hà.

6 Huyện ủy Thanh Hà (2013), Báo cáo sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, Thanh Hà.

7 Quốc hội (2012), Bộ Luật Lao động 2012, Nxb Lao động, Hà Nội.

8 Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.

9 Quốc hội (2007), Luật Bình đẳng giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội

Ngày đăng: 09/12/2022, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11/NQ-TW về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11/NQ-TW về "“Công tác phụ nữthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2016
5. Huyện ủy Thanh Hà (2015), Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Thanh Hà lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Thanh Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đại biểuĐảng bộ huyện Thanh Hà lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Tác giả: Huyện ủy Thanh Hà
Năm: 2015
6. Huyện ủy Thanh Hà (2013), Báo cáo sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, Thanh Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 5 năm triển khai thựchiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”
Tác giả: Huyện ủy Thanh Hà
Năm: 2013
7. Quốc hội (2012), Bộ Luật Lao động 2012, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Lao động 2012
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
8. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2013
9. Quốc hội (2007), Luật Bình đẳng giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bình đẳng giới
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w