TÌM HIỂU CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Hiệp định Giơnevơ (7 1954) được ký kết buộc quân Pháp phải rút khỏi nước ta, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với những đặc điểm và thuận lợi, khó khăn mới. Đặc điểm chưa có tiền lệ lịch sử là đất nước bị chia làm hai miền, có chế độ chính trị, xã hội khác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa còn miền Nam do chính quyền đối phương quản lý, trở thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ và tay sai. Từ đó Đảng ta chủ trương thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam. Bước sang năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển quan trọng, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi đã tạo nên thế đứng mới của lực lượng cách mạng miền Nam. Lúc này, yêu cầu về vũ khí đạn dược của cách mạng miền Nam đang trở nên hết sức cấp thiết; đồng thời, để phát huy vai trò, tác dụng và sức mạnh của hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam, rất cần một hệ thống giao thông thông suốt để chi viện sức người, vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men, ... từ miền Bắc vào miền Nam để chuẩn bị cho chiến dịch tổng tiến công và tiến tới thống nhất đất nước. Vì vậy nhóm 5 đã chọn đề tài “Tìm hiểu con đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 1975)” để làm rõ về các con đường chi viện của hậu phương miền Bắc tới miền Nam. CHƯƠNG 1: NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ CHỦ TRƯƠNG HÌNH THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN 1.1. Nguyên nhân của cuộc kháng chiến Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhân lúc các nước đế quốc bại trận Đức, Ý, Nhật bị suy sụp, đồng thời các nước đế quốc Anh, Pháp tuy thắng trận nhưng bị sa sút khá nặng, đế quốc Mỹ cố vươn lên làm bá chủ thế giới, lần lượt hất cẳng và thay thế các nước đế quốc khác đi nô dịch các dân tộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ latinh, đóng vai trò tên sen đầm quốc tế. Trước những đòn công kích quyết liệt của phong trào giải phóng dân tộc và làn sóng đấu tranh dồn dập của phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, từ đầu những năm 60, đế quốc Mỹ buộc phải từ bỏ chiến lược toàn cầu “trả đũa ồ ạt” chuyển sang thực hành chiến lược “phản ứng linh hoạt” chĩa mũi nhọn vào các lực lượng xã hội chủ nghĩa và giải phóng dân tộc, trong đó Viêt Nam là một điểm nóng bỏng. Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, có nguồn tài nguyên phong phú, được Mỹ đánh giá là một trong những vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản. Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa đế quốc Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là bành trướng chủ nghĩa thực dân mới, nhằm chống lại các trào lưu cách mạng, đàn áp và phá hoại phong trào độc lập dân tộc, kìm giữ các nước mới trỗi dậy trong quỹ đạo chủ nghĩa tư bản, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội đồng thời tranh giành vị trí và ảnh hưởng với các đế quốc khác. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Trước sức tiến công mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đế quốc Mỹ đã tích cực can thiệp vào chiến tranh Đông Dương ngay từ những năm 50. Một mặt Mỹ ra sức giúp Pháp, mặt khác âm mưu thay thế Pháp độc chiếm Đông Dương. Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta; biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á, bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mưu đồ trên, Mỹ dựng lên chính quyền, quân đội tay sai, ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Chỉ trong vòng 4 năm (1954 1958), cả miền Nam tổn thất 910 số cán bộ, đảng viên; gần 90 vạn đồng bào yêu nước bị bắt, tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn, giết hại, ... Trước âm mưu, hành động xâm lược của địch, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị xã hội đối lập nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn nằm dưới sự đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và tay sai. Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình trong nước, bối cảnh quốc tế cũng như khu vực có liên quan, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng (khóa II) lần thứ 15 (đầu năm 1959) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 91960) đã vạch ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo, đó là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới. 1.2. Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện Bước sang năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển quan trọng, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi đã tạo nên thế đứng mới của lực lượng cách mạng miền Nam. Lúc này, chiến trường miền Nam rất cần sự chi viện về lực lượng, vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng... với số lượng lớn; đồng thời, để vai trò, tác dụng và sức mạnh của hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam, rất cần một hệ thống giao thông thông suốt, những tuyến đường huyết mạch nối liền hậu phương với tuyền tuyến. Tuyến đường ấy phải đủ sức đảm nhận, hoàn thành nhiệm vụ vận tải chiến lược, đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triển của chiến trường và thậm chí phải vượt trước một bước. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 1951959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559), có nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại, đường Hồ Chí Minh trên bộ chính thức được triển khai. Buổi đầu, tuyến vận tải đường bộ dựa vào đường dây Thống Nhất để thực hiện nhiệm vụ, chủ yếu làm công tác giao liên, vận chuyển một số vật chất bằng phương pháp gùi thồ, chú trọng phòng tránh, giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ lực lượng, bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ. Tuy nhiên, tuyến đường trên bộ của Đoàn 559 mới chỉ vận chuyển, cung cấp được vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự cho Mặt trận Trị Thiên và Khu 5, chưa vươn tới các tỉnh Nam Bộ. Xuất phát từ tình hình, yêu cầu nhiệm vụ, tháng 61961, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam bộ đưa thuyền ra miền Bắc nhận vũ khí, trang bị quân sự để chuyển vào Nam bộ; đồng thời giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu, thử nghiệm tuyến đường vận tải chiến lược trên biển. Sau 5 chuyến đi biển ra miền Bắc nhận và chuyển vũ khí vào miền Nam thành công của các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bà Rịa, ... Ngày 23101961, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 97QP thành lập Đoàn 759 vận tải thuỷ, mở tuyến đường chiến lược quan trọng Đường Hồ Chí Minh trên biển, có nhiệm vụ vận chuyển cán bộ, chiến sĩ và vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự chi viện cho chiến trường miền Nam. Thời điểm quan trọng này đánh dấu sự kiện mở Đường Hồ Chí Minh trên biển và những chiến công vang dội của Hải quân nhân dân Việt Nam, … CHƯƠNG 2: CÁC CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 2.1. Đường bộ 2.1.1. Quá trình hình thành và hoàn thiện Nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đề ra trước mắt đã đặt ra một yêu cầu bức thiết về con đường vận chuyển chi viện cho miền Nam. Trước tình hình đó, giữa năm 1959, Bộ Chính trị ra chỉ thị: “Tổ chức một đường giao thông quân sự đặc biệt mở đường đưa cán bộ, tiếp tế vũ khí và những hàng cần thiết khác vào miền Nam. Đây là một việc làm lớn, có tính chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà”. Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 1951959 thường trực tổng quân ủy Bộ quốc phòng triệu tập ban cán sự, chính thức giao cho Đoàn 559 chính thức mở đường giao thông quân sự vào Nam, dọc theo dãy Trường Sơn, vận chuyển hàng quân sự cho miền Nam, đưa đón cán bộ từ Bắc vào Nam và ngược lại mà trước mắt là liên khu V. Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành lập, đánh dấu sự khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn. Mạng lưới giao thông quân sự này chạy dọc dãy Trường Sơn, từ miền Bắc qua miền Trung, hạ Lào và Campuchia để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam. Con đường huyền thoại này, không chỉ là tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cần chiến lược mà còn là một chiến trường tổng hợp, mặt trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch, trở thành một biểu tượng độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, biểu tượng về quyết tâm và ý chí sắt đá “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. 2.1.2. Hoạt động
Trang 1Hà Nội - 2022
Trang 2CHƯƠNG 1: NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ CHỦ TRƯƠNG
HÌNH THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN 2
1.1 Nguyên nhân của cuộc kháng chiến 2
1.2 Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện 3
CHƯƠNG 2: CÁC CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 5
2.1 Đường bộ 5
2.1.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện 5
2.1.2 Hoạt động 5
2.2 Đường biển 8
2.2.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện 8
2.2.2 Hoạt động 8
2.3 Con đường xăng dầu 10
2.3.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện 10
2.3.2 Hoạt động 11
2.4 Đường hàng không 12
2.4.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện 12
2.4.2 Hoạt động 13
2.5 Đường chuyển ngân 15
2.5.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện 15
2.5.2 Hoạt động 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CON ĐƯỜNG CHI VIỆN ĐỐI VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 18
3.1 Kết quả 18
3.2 Ý nghĩa 19
KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Hiệp định Giơnevơ(7 - 1954) được ký kết buộc quân Pháp phải rút khỏi nước ta, cách mạng Việt Namchuyển sang giai đoạn mới với những đặc điểm và thuận lợi, khó khăn mới Đặc điểmchưa có tiền lệ lịch sử là đất nước bị chia làm hai miền, có chế độ chính trị, xã hộikhác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng phát triển theo con đường xã hội chủnghĩa còn miền Nam do chính quyền đối phương quản lý, trở thành thuộc địa kiểu mớicủa đế quốc Mỹ và tay sai Từ đó Đảng ta chủ trương thực hiện đồng thời hai nhiệm
vụ chiến lược: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dânchủ nhân dân ở miền Nam
Bước sang năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển quantrọng, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi đã tạo nên thế đứng mới của lực lượngcách mạng miền Nam Lúc này, yêu cầu về vũ khí đạn dược của cách mạng miền Namđang trở nên hết sức cấp thiết; đồng thời, để phát huy vai trò, tác dụng và sức mạnhcủa hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam, rất cần một hệ thốnggiao thông thông suốt để chi viện sức người, vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốcmen, từ miền Bắc vào miền Nam để chuẩn bị cho chiến dịch tổng tiến công và tiếntới thống nhất đất nước
Vì vậy nhóm 5 đã chọn đề tài “Tìm hiểu con đường chi viện của miền Bắc
cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” để làm
rõ về các con đường chi viện của hậu phương miền Bắc tới miền Nam
Trang 4CHƯƠNG 1: NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ CHỦ TRƯƠNG
HÌNH THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN 1.1 Nguyên nhân của cuộc kháng chiến
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhân lúc các nước đế quốc bại trận Đức, Ý,Nhật bị suy sụp, đồng thời các nước đế quốc Anh, Pháp tuy thắng trận nhưng bị sa sútkhá nặng, đế quốc Mỹ cố vươn lên làm bá chủ thế giới, lần lượt hất cẳng và thay thếcác nước đế quốc khác đi nô dịch các dân tộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ latinh,đóng vai trò tên sen đầm quốc tế Trước những đòn công kích quyết liệt của phong tràogiải phóng dân tộc và làn sóng đấu tranh dồn dập của phong trào công nhân ở các nước
tư bản chủ nghĩa, từ đầu những năm 60, đế quốc Mỹ buộc phải từ bỏ chiến lược toàncầu “trả đũa ồ ạt” chuyển sang thực hành chiến lược “phản ứng linh hoạt” chĩa mũinhọn vào các lực lượng xã hội chủ nghĩa và giải phóng dân tộc, trong đó Viêt Nam làmột điểm nóng bỏng Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vựcĐông Nam Á, có nguồn tài nguyên phong phú, được Mỹ đánh giá là một trong những
vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản
Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa đế quốc Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai làbành trướng chủ nghĩa thực dân mới, nhằm chống lại các trào lưu cách mạng, đàn áp
và phá hoại phong trào độc lập dân tộc, kìm giữ các nước mới trỗi dậy trong quỹ đạochủ nghĩa tư bản, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội đồng thời tranh giành
vị trí và ảnh hưởng với các đế quốc khác
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì mục tiêuhoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Trước sức tiến công mạnh mẽcủa cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với phong trào giải phóngdân tộc trên thế giới, đế quốc Mỹ đã tích cực can thiệp vào chiến tranh Đông Dươngngay từ những năm 50 Một mặt Mỹ ra sức giúp Pháp, mặt khác âm mưu thay thế Phápđộc chiếm Đông Dương Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằng đượcphong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâudài đất nước ta; biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ,lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á, bao vây, uyhiếp các nước xã hội chủ nghĩa Để thực hiện mưu đồ trên, Mỹ dựng lên chính quyền,quân đội tay sai, ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp phong trào cách mạngmiền Nam
Chỉ trong vòng 4 năm (1954 - 1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ,đảng viên; gần 90 vạn đồng bào yêu nước bị bắt, tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn, giết hại,
Trang 5Trước âm mưu, hành động xâm lược của địch, đất nước Việt Nam tạm thời bị chiacắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau: miền Bắc hoàn toàngiải phóng, miền Nam còn nằm dưới sự đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và tay sai Trên
cơ sở phân tích đặc điểm tình hình trong nước, bối cảnh quốc tế cũng như khu vực cóliên quan, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng (khóa II) lần thứ 15 (đầu năm 1959)
và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã vạch ra đường lối kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo, đó là: Tăng cường đoàn kếttoàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, tiến hành đồng thời cách mạng xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thựchiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ, thiết thực góp phần tăng cườngphe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới
1.2 Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện
Bước sang năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển quantrọng, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi đã tạo nên thế đứng mới của lực lượngcách mạng miền Nam Lúc này, chiến trường miền Nam rất cần sự chi viện về lựclượng, vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng với số lượng lớn; đồngthời, để vai trò, tác dụng và sức mạnh của hậu phương miền Bắc và hậu phương tạichỗ ở miền Nam, rất cần một hệ thống giao thông thông suốt, những tuyến đườnghuyết mạch nối liền hậu phương với tuyền tuyến Tuyến đường ấy phải đủ sức đảmnhận, hoàn thành nhiệm vụ vận tải chiến lược, đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triểncủa chiến trường và thậm chí phải vượt trước một bước
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày19/5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập “Đoàn công tácquân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559), có nhiệm vụ mở đường vận chuyểnhàng hóa, tổ chức đưa đón cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại,đường Hồ Chí Minh trên bộ chính thức được triển khai Buổi đầu, tuyến vận tải đường
bộ dựa vào đường dây Thống Nhất để thực hiện nhiệm vụ, chủ yếu làm công tác giaoliên, vận chuyển một số vật chất bằng phương pháp gùi thồ, chú trọng phòng tránh, giữ
bí mật tuyệt đối để bảo vệ lực lượng, bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ
Tuy nhiên, tuyến đường trên bộ của Đoàn 559 mới chỉ vận chuyển, cung cấpđược vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự cho Mặt trận Trị Thiên và Khu 5, chưa vươn tớicác tỉnh Nam Bộ Xuất phát từ tình hình, yêu cầu nhiệm vụ, tháng 6/1961, Trung ươngĐảng và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam bộ đưa thuyền ramiền Bắc nhận vũ khí, trang bị quân sự để chuyển vào Nam bộ; đồng thời giao nhiệm
vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu, thử nghiệm tuyến đường vận tải chiến lược
Trang 6trên biển Sau 5 chuyến đi biển ra miền Bắc nhận và chuyển vũ khí vào miền Namthành công của các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bà Rịa, Ngày23/10/1961, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tảithuỷ, mở tuyến đường chiến lược quan trọng - Đường Hồ Chí Minh trên biển, cónhiệm vụ vận chuyển cán bộ, chiến sĩ và vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự chi viện chochiến trường miền Nam Thời điểm quan trọng này đánh dấu sự kiện mở Đường HồChí Minh trên biển và những chiến công vang dội của Hải quân nhân dân Việt Nam,
…
Trang 7CHƯƠNG 2: CÁC CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
2.1 Đường bộ
2.1.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện
Nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đề ra trước mắt đã đặt ra một yêu cầu bứcthiết về con đường vận chuyển chi viện cho miền Nam Trước tình hình đó, giữa năm
1959, Bộ Chính trị ra chỉ thị: “Tổ chức một đường giao thông quân sự đặc biệt mởđường đưa cán bộ, tiếp tế vũ khí và những hàng cần thiết khác vào miền Nam Đây làmột việc làm lớn, có tính chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miềnNam, thống nhất nước nhà”
Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 19/5/1959 thường trực tổngquân ủy Bộ quốc phòng triệu tập ban cán sự, chính thức giao cho Đoàn 559 chính thức
mở đường giao thông quân sự vào Nam, dọc theo dãy Trường Sơn, vận chuyển hàngquân sự cho miền Nam, đưa đón cán bộ từ Bắc vào Nam và ngược lại mà trước mắt làliên khu V Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành lập, đánh dấu sự khởi đầu củatuyến đường Trường Sơn Mạng lưới giao thông quân sự này chạy dọc dãy TrườngSơn, từ miền Bắc qua miền Trung, hạ Lào và Campuchia để chi viện cho Quân Giảiphóng miền Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam
Con đường huyền thoại này, không chỉ là tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cầnchiến lược mà còn là một chiến trường tổng hợp, mặt trận chiến đấu quyết liệt giữa ta
và địch, trở thành một biểu tượng độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, biểutượng về quyết tâm và ý chí sắt đá “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánhthắng giặc Mỹ xâm lược” của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta
2.1.2 Hoạt động
Đường mòn Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược vậnchuyển binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miềnNam Nói đến Trường Sơn cũng là nói đến sự hy sinh, gian khổ đồng thời cũng nóiđến khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của con người Việt Nam, bấtchấp sự hủy diệt của kẻ thù và những khó khăn, trở ngại của thời tiết, địa hình trong 16năm (1959 - 1975)
Buổi đầu, tuyến vận tải đường bộ dựa vào đường dây Thống Nhất để thực hiệnnhiệm vụ, chủ yếu làm công tác giao liên, vận chuyển một số vật chất bằng phươngpháp gùi thồ, chú trọng phòng tránh, giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ lực lượng, bảo vệmục tiêu, nhiệm vụ Với thắng lợi của phong trào Đồng khởi và sự phát triển mạnh mẽ
Trang 8của cách mạng miền Nam, ngày 24-1-1961, Hội nghị Bộ Chính trị quyết định "đẩy
mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự” Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách đó, hậu phương
miền Bắc, Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng tăng cường lực lượng cho
Đoàn 559 nhằm mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn theo phương hướng:kiên trì giữ vững hành lang phía Đông, khẩn trương mở đường vận tải phía TâyTrường Sơn; đồng thời, mạnh dạn áp dụng phương thức vận tải cơ giới, kết hợp vớiphương thức vận tải thô sơ (xe đạp thồ), chú trọng khai thác đường sông Được tăngcường lực lượng và bằng những biện pháp tổ chức chặt chẽ, hiệu quả, đến giữa năm
1964, Đoàn 559 đã xây dựng được địa bàn hoạt động từ Tây Quảng Bình vào đến ngã
ba Biên giới, triển khai được một số tuyến, thành lập được các cung trạm, xây dựngđược tuyến hành lang nối liền miền Bắc với chiến trường miền Nam
Từ năm 1965 khắc phục những khó khăn gian khổ do Mỹ sử dụng không quân,hải quân leo thang đánh phá miền Bắc các cán bộ chiến sỹ, thanh niên xung phong vànhân viên kỹ thuật của đoàn 559 đã mở đường, đảm bảo giao thông, thực hiện nhiệm
vụ trung tâm là tiếp nhận các nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc và nguồn thu mua
từ hướng Campuchia Bên cạnh đó thì tổ chức vận chuyển chi viện tới các chiếntrường miền Nam, đảm bảo hành quân cho bộ đội và các đoàn cán bộ qua lại trên đườngTrường Sơn
Từ năm 1969 đến năm 1972 mặc dù bị đánh phá ác liệt nhưng tuyến vận tảichiến lược vẫn không ngừng được xây dựng và mở rộng, vươn sâu, vươn xa vào cácchiến trường Nếu trong thời kỳ "chiến tranh cục bộ", Đoàn 559 mới chỉ mở được trụcđường 20 - cửa khẩu vượt đỉnh Trường Sơn, nối với hệ thống đường chiến lược ởđường phía Tây Trường Sơn, rút ngắn cung độ đến các hướng chiến trường , thì từnăm 1968 đến năm 1972, đã mở thêm 4 trục đường từ Đông Trường Sơn sang TâyTrường Sơn Tháng 11 năm 1973, Hội đồng Chính phủ phê chuẩn kế hoạch thiết kế,
mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn Tiếp ngay sau đó với sự chi viện to lớncủa miền Bắc về cả con người và vật chất Đoàn 559 nhanh chóng mở thêm 3.480 kmđường cơ giới với các trục dọc men theo Đông và Tây Trường Sơn Các tuyến đường
bộ phía Tây được sửa chữa, bảo dưỡng, bảo đảm cho việc vận chuyển cơ giới theo độihình lớn Nhiều tuyến đường đã mở rộng đáng kể, “tương đương với đường cao tốc,
đủ rộng để chứa hai xe tải quân đội đi ngược chiều nhau”
Qua gần 16 năm xây dựng, từ lối mòn giao liên bí mật len lỏi dưới các triềnrừng, với phương thức vận tải thô sơ, gùi thồ là chủ yếu, tuyến vận tải chiến lược pháttriển thành hệ thống trục dọc và trục ngang, ngày càng vươn xa tới các chiến trường,vươn sâu vào các hướng chiến dịch Tính đến năm 1975, tuyến vận tải chiến lược lên
Trang 9tới gần 20.000 km, bao gồm 4 hệ thống trục dọc dài 6.810 km, 13 hệ trục ngang dài4.980 km, 5 hệ thống đường vượt khẩu dài 700 km, 1 hệ thống đường vòng tránh cáctrọng điểm dài 4.700 km.
Xuyên suốt khoảng thời gian từ 1959-1975, từ miền Bắc đã có hàng nghìnnhững cán bộ, chiến sỹ thanh niên di chuyển vào miền Nam chi viện sức người chocuộc kháng chiến Năm 1959, miền Bắc đưa vào miền Nam hơn 500 người Năm
1964, con số đó tăng lên hơn 17.000 người Đặc biệt từ sau năm 1964, đường TrườngSơn như một trận đồ bát quái” vươn ra các chiến trường bằng mọi ngả Các đơn vị bộđội và thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh đã vượtqua muôn ngàn gian lao, thử thách, dũng cảm, kiên cường chống trả cuộc chiến tranhxâm lược tàn khốc của Mỹ - ngụy Thời gian này chúng đã ném xuống đây hơn 3,5triệu tấn bom đạn, nhiều hơn số lượng bom đạn Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh thếgiới thứ 2 Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972,1975), chỉ tính riêng số quân đi vào miền Nam trong các năm kể trên như sau: năm
1968 là 141.000 người, năm 1972 xấp xỉ 153.000 người, năm 1975 117.000 người.Bên cạnh việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường, miền Bắc còn tiếp nhậnhàng chục vạn cán bộ, chiến sỹ, con em miền Nam tập kết; đón tiếp gần 310.000thương bệnh binh và hơn 350.000 lượt người từ tiền tuyến ra hậu phương chữa bệnh,học tập…, miền Bắc thực sự là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho những người ratrận, cho đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu ở miền Nam, đặc biệttrong những lúc cách mạng miền Nam bị tổn thất, gặp nhiều thử thách và khó khăn
Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, đảm bảo giao thông,
mở đường và các lực lượng bảo đảm khác gần hàng chục vạn người cũng được độngviên từ miền Bắc Về vật chất, miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất,
vũ khí, phương tiện kĩ thuật do nước ngoài viện trợ; tổ chức nghiên cứu, thiết kế, cảibiên, cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài; tổ chức vận chuyển vượt hàng nghìn ki lô métdưới bom đạn đánh phá của địch tới các chiến trường, các vùng giải phóng Trongnhững năm từ 1965 đến 1968, miền Bắc đưa vào miền Nam khối lượng vật chất gấp
10 lần so với những năm từ 1961 đến 1964 Con số đó trong những năm chống chiếnlược “Việt Nam hóa chiến tranh” còn tăng gấp nhiều lần
Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ trong bối cảnh không cònnguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa, để thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trịTrung ương Đảng Lao động Việt Nam, miền Bắc đã phải dốc toàn bộ sức lực của mìnhchi viện cho các chiến trường miền Nam Chỉ trong 4 tháng đầu năm 1975, từ hậuphương lớn miền Bắc đã có hơn 110.000 quân và 230.000 tấn vật chất các loại đượcđưa vào các chiến trường ở miền Nam Để kịp thời đưa nguồn nhân lực và vật chất
Trang 10được động viên từ miền Bắc vào các chiến trường phục vụ tổng tiến công, ngoài 6.770chiếc ô tô vận tải chuyên trách của quân đội, các địa phương, cơ quan, ban, ngành ởmiền Bắc còn huy động tới 60% các phương tiện vận tải dân sự.
2.2 Đường biển
2.2.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện
Tháng 7/1959, Tiểu đoàn 603 trực thuộc Đoàn 559 được thành lập, có nhiệm vụnghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằng đường biển chi viện vũ khí cho chiếntrường miền Nam Để giữ bí mật, Tiểu đoàn lấy tên là “Tập đoàn đánh cá SôngGianh” Cuối năm 1959, Tiểu đoàn 603 tổ chức chuyến thuyền vượt biển đầu tiên vàochiến trường Khu V nhưng không thành công, do vậy Tổng Quân ủy quyết định choTiểu đoàn 603 ngừng hoạt động để tìm phương án mới
Đầu năm 1960, cùng với phong trào Đồng Khởi Bến Tre, cách mạng của cáctỉnh đồng bằng Nam bộ chuyển mạnh lên thế tiến công và trở thành cao trào ĐồngKhởi rộng khắp Trước tình hình đó, yêu cầu về vũ khí trang bị, đạn và thuốc chữabệnh trở thành vấn đề sống còn, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và phát triểnlực lượng của các tỉnh Nam bộ và Nam Trung bộ Yêu cầu cấp bách là phải nhanhchóng vận chuyển vũ khí, hàng hóa để chi viện cho chiến trường Nam bộ Lúc này,tuyến đường bộ trên dãy Trường Sơn đã mở và hoạt động có hiệu quả nhưng chưavươn tới các địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng Tổng Quân ủy tiếp tục chỉ đạo BộTổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượngvận tải biển chi viện cho chiến trường Nam bộ và khu V
Ngày 23/10/1961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lậpĐoàn vận tải quân sự 759, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra bước phát triển mớicủa tuyến vận tải chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Từ đây, đường Hồ ChíMinh trên biển - con đường nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miềnNam, chính thức đi vào hoạt động Đây là một quyết định lịch sử mang tầm chiếnlược, thể hiện bản lĩnh kiên cường, ý chí và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toànquân ta: Tất cả cho tiền tuyến miền Nam, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Ngày 24/01/1964, Đoàn 759 được điều chỉnh tổ chức, phát triển thành Lữ đoàn
Trang 1119/10/1962, tàu cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) Ngày 19/10 đến 14/12/1962, lần lượt bachiếc tàu vỏ gỗ mang tên “Phương Đông 2, 3, 4” rời bến Đồ Sơn, chở vũ khí vượt quacác khu vực kiểm soát của địch, cập bến Vàm Lũng (Cà Mau).
Tháng 8/1963, Đoàn 759 được giao cho Quân chủng Hải quân phụ trách và trựctiếp đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, chi viện đường biển cho chiến trường miềnNam
Thời kỳ (1965-1968): Từ sau sự kiện Vũng Rô bị mất đi yếu tố bí mật, đội tàuvận tải phải đi xa bờ và chuyển sang hình thức “lừa miếng” - đi bằng phương pháphàng hải thiên văn
Thời kỳ (1968-1969): Chuyển sang phương án vận chuyển gián tiếp
Thời kỳ (1969-1972): Tiếp tục phương án vận chuyển trực tiếp
Từ tháng 2-1965 đến tháng 1-1973 là giai đoạn khó khăn nhất nhưng hết sứchào hùng của tuyến chi viện chiến lược trên biển Sau sự kiện xảy ra với tàu C143 ởVũng Rô (Phú Yên), yếu tố bí mật của tuyến chi viện chiến lược trên biển của ViệtNam không còn nữa Nhưng công việc tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển vẫnphải tiếp tục, buộc quân Giải phóng phải chuyển hướng vận chuyển từ phương thứctrực tiếp sang phương thức gián tiếp Bằng phương pháp vận chuyển này, trong mộtnăm (từ 1-11-1968 đến 31-10-1969), lực lượng vận tải biển đã đưa vào cảng sôngGianh 21.737 tấn vũ khí Từ đây, số vũ khí này được chuyển vào Nam theo đường bộ.Ngoài ra, trong giai đoạn này, cán bộ chiến sĩ Đoàn 125 còn tham gia chiến dịch vậntải VT5 - Vận tải tranh thủ tụt thang (từ tháng 11-1968 đến năm 1969), cùng các lựclượng trong và ngoài quân đội vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăngdầu… từ Hải Phòng vào các tỉnh Nam Khu 4, tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiếnlược trên bộ (Đoàn 559)
Tính chung, trong 4 năm (1965-1968), tuyến đường trên biển tổ chức được 27chuyến tàu, song chỉ có 7 chuyến đến đích, giao được 410,4 tấn hàng (chủ yếu choNam Bộ), 11 chuyến phải quay trở lại miền Bắc do nhiều nguyên nhân, 6 chuyến phải
tự phá hủy tàu để tránh bị địch thu giữ, 3 chuyến bị địch chiếm tàu Trước tình hình
đó, Việt Nam đã tranh thủ sự giúp đỡ của Vương quốc Campuchia, chuyển hướng tổchức vận chuyển bằng tàu biển quốc tế đưa hàng viện trợ quân sự vào cảngXihanúcvin, sau đó thuê tàu của quân đội Hoàng gia Campuchia tiếp tế cho chiếntrường Nam Bộ và một phần cho chiến trường Tây Nguyên Bằng cách này, từ 1966-
1969, đã có 10 chuyến tàu, chuyển 90.870 tấn hàng cập cảng Xihanúcvin, trong đó có21.473 tấn vũ khí, đạn dược; chuyển về chiến trường miền Nam được 18.703 tấn
Trang 12Từ năm 1971 đến 4/1972, hải quân Mỹ phong tỏa, kiểm soát rất gắt gao trêntuyến biển, khiến hầu hết các chuyến tàu chở vũ khí vào Nam của Đoàn 125 phải quaylại Ngày 27/7/1971, Quân khu 9 thành lập Đoàn 371 dưới dạng tàu đánh cá hợp pháp.Được tàu của Đoàn 125 hộ tống, dẫn dắt từng chuyến đi qua các vùng biển nguy hiểm,hai năm 1971- 1972, Đoàn 371 đã vận chuyển được 31 chuyến với 520 tấn vũ khí vàoQuân khu 9.
Đồng thời với việc đẩy mạnh đưa hàng vào cảng sông Gianh, Quân chủng Hảiquân chọn một số tàu và thủy thủ có kinh nghiệm tiếp tục vận chuyển vào Nam theođường Hồ Chí Minh trên biển
Giai đoạn 1973 - 1975:
Sau Hiệp định Paris, hải quân Mỹ rút đi, tàu vận tải chuyển sang phương thứchoạt động công khai Từ 1973 đến 1975, tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đãdốc toàn bộ lực lượng và phương tiện, sử dụng hàng ngàn lượt chuyến tàu chuyển vũkhí và vật chất các loại vào các chiến trường
Đoàn 125 được trang bị thêm nhiều tàu mới có trọng tải 100 tấn trở lên Đoàn
125 đã tham gia cùng ngành Hậu cần vận chuyển từ miền Bắc vào Quảng Bình và CửaViệt, tạo chân hàng chi viện cho miền Nam qua đường Hồ Chí Minh trên bộ Trong 2năm 1973-1974, Đoàn đã huy động 380 lượt tàu, vận chuyển hàng chục ngàn tấn hàng,đưa 2.042 lượt người từ hậu phương vào tiền tuyến và các đảo Đặc biệt, trong Tổngtiến công và nổi dậy Xuân 1975, đã sử dụng 140 lượt chuyến tàu, vận chuyển 6.282tấn vũ khí và vật chất khác, cùng cán bộ chiến sĩ vào tăng cường cho chiến trườngNam Bộ và Khu 5, cơ động bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng các đảo thuộc quầnđảo Trường Sa, Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc Trong đó,Đoàn 125 đã vận chuyển vào chiến trường 17.473 cán bộ chiến sĩ, 40 xe tăng, 7.786tấn vũ khí, nhiên liệu, góp phần giải phóng miền Nam, giải phóng Quần đảo Trường
Sa và các đảo trên vùng biển Tây Nam
2.3 Con đường xăng dầu
2.3.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện
Chiến trường ngày càng phát triển thì việc vận chuyển hàng hóa, vũ khí, trong
đó có xăng dầu chi viện bằng phương tiện thô sơ ngày càng trở nên bất cập Tình hìnhbức bách dẫn đến ý tưởng phải tìm một con đường khác để vận chuyển xăng dầu liêntục, thường xuyên và an toàn, hiệu quả hơn Ngày 12-4-1968, Tổng cục Hậu cần thànhlập một đơn vị đặc biệt mang tên “Công trường thủy lợi 01” với 34 cán bộ, chiến sĩđược huấn luyện cấp tốc về kỹ thuật lắp đặt đường ống Đến ngày 29-4, đơn vị này
Trang 13được điều vào Nghệ An với mật danh “Công trường 18”, có nhiệm vụ xây dựng hệthống ống dẫn xăng dầu đầu tiên tại tuyến lửa khu 4 Đường ống dẫn xăng dầu ban đầudài gần 1,400km, được xây dựng tháng 6/1968 từ Khe Hó đến Lộc Ninh, gồm 46 khovới sức chừa 17.050 tấn, 113 trạm bơm đầy và cấp phát Bộ đội công binh thi côngđường ống xăng dầu.
Sau này con đường này được xây dựng thêm lên tới 5.000km, để vận chuyểnnhiên liệu suốt từ biên giới Việt - Trung và các cảng biển miền Bắc vào đến tận Nam
Bộ Con đường này người Mỹ dường như cũng biết rằng có và cũng đã đánh phá đượcmột số điểm Nhưng nó có bằng cách nào và nó đã đóng vai trò ra sao trong việc cungcấp nhiên liệu cho các đoàn xe vận tải vũ khi, cung cấp nhiên liệu cho xe tăng trongcác trận đánh lớn ở miền Nam, thì hình như trong những tài liệu đã giải mật gần dâynhất cũng không có thông tin cụ thể
Bắt đầu từ hai ngả thuộc biên giới Việt - Trung là Lạng Sơn và Quảng Ninh, haituyến đường ống cùng dẫn về trạm Nhân Vực, Thường Tín, Hà Nội Từ đây, có mộtđường ống chạy thẳng vào miền Trung qua Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh Đến đây lại chia làm hai ngả: Một vượt đèo Mụ Giạ, sang Lào vươn tới
Hạ Lào, rồi vượt qua biên giới Lào và Campuchia để vào tới Nam Bộ Ngả còn lạitheo đường Đông Trường Sơn đi tiếp qua Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,Quảng Ngãi, qua Tây Nguyên, Vượt Kon Tum, xuống Bình Phước
Hai hệ thống Đông và Tây Trường Sơn hội tụ tại trạm cuối cùng ở Bù Gia Mập,thuộc tỉnh Phước Long, Đông Nam Bộ
Từ đây xăng dầu được cấp trực tiếp cho các xe vận tải chở tiếp trên nhữngtuyến ngắn từ miền Đông đến miền Tây Xăng dầu được chuyển từ Bắc vào Nam đãcung cấp cho hoạt động trên các chiến trường trong những năm đánh Mỹ, góp phầnquan trọng vào những trận chiến thắng lớn
2.3.2 Hoạt động
Trên toàn bộ hệ thống chi viện xăng dầu dài 5.000km, đã có tới 316 trạm bơmđầy, 101 kho với sức chứa trên 300 nghìn m3 Bộ đội xăng dầu đã phát triển thành 9trung đoàn đường ống, 2 trung đoàn công trình, 1 trung đoàn thông tin, 2 nhà máy cơkhí, 3 tiểu đoàn xe vận tải Trong vòng 7 năm, tuyến ống này đã vận chuyển 5,5 triệutấn xăng dầu cho các chiến trường
Mạng lưới đường ống dẫn dầu dài hơn 5.000 km nêu trên là tính từ biên giớiphía Bắc nước ta, bắt đầu từ hai điểm đầu mối tiếp nhận thuộc tỉnh Quảng Ninh và tỉnhLạng Sơn; còn điểm khởi đầu là từ cảng Phòng Thành, Trung Quốc Những con tàu
Trang 14lớn chở xăng, dầu từ Liên Xô cập cảng Phòng Thành và nguồn nhiên liệu từ đó sẽ theo
hệ thống đường ống như những mạch máu chảy vào phía Nam, cung ứng một nguồnvật chất hết sức thiết yếu cho những chiến dịch, cho từng trận đánh Trong thời chiến,
hệ thống đường ống này vừa tăng nhanh khối lượng xăng, dầu vận chuyển ra tiềntuyến, vừa giảm được rất nhiều hy sinh, tổn thất cho những chiến sĩ lái xe và xe tải chởnhiên liệu
Hệ thống đường ống tùy theo địa hình có đoạn nổi, đoạn chìm, có đoạn vắt quasuối, luồn dưới dòng sông … nhưng phần lớn nằm trên địa bàn rừng núi hoang vắnghoặc dân cư thưa thớt, khí hậu khắc nghiệt Với hệ thống đường ống đó, theo Trungtướng Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn “Đã thực sự thỏa mãn kịp thờicho vận tải, đảm bảo yêu cầu cơ động cao của các quân và binh chủng với mọi quy
mô, mọi thời gian, mọi địa điểm, phục vụ đắc lực cho các chiến dịch”
Đại tá Phan Tử Quang, nguyên Cục trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần
-Bộ Quốc phòng) kể rằng, trong một lần tôi được làm việc với Chu Ân Lai, Thủ tướngnước CHND Trung Hoa nói: “Tôi không ngờ là Việt Nam lại làm được đường ốngxăng dầu dài đến 5.000 km” và ông đã cử một phái đoàn gần 20 kỹ sư và tiến sĩ vềđường ống xăng dầu đi tham quan từ Hà Nội theo đường ống đến Mụ Giạ (QuảngBình)
2.4 Đường hàng không
2.4.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện
Đầu những năm 1960, phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển, yêu cầu về
sự chi viện nhân tài vật lực ngày một lớn Thời gian này, việc vận chuyển trên tuyếnđường mòn Trường Sơn mới chỉ bằng các phương tiện thủ công; đường mòn trên biểnĐông đang trong giai đoạn thăm dò Trong khi đó, hàng viện trợ, nhất là vũ khí, hàngvật tư quân sự, thuốc men … do Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu viện trợ đã khádồi dào; nhưng Liên Xô và Trung Quốc đang xảy ra sự bất đồng nghiêm trọng về quanđiểm chính trị, việc chuyển tải hàng viện trợ bằng đường quá cảnh qua Trung Quốcgặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, ngoài các con đường Trường Sơn, đường TrườngSơn trên biển, con đường chi viện quá cảnh cho miền Nam còn một phương tiện đặcbiệt nữa là hàng không quân sự và dân sự
Cuối tháng 2 năm 1960, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vào QuảngBình - Vĩnh Linh xem xét địa thế, tình hình và gợi ý mở tuyến đường hàng khôngnhằm rút ngắn đường vận tải từ Bắc vào Nam Nhiệm vụ này do Trung Đoàn 919 đảmđương Hàng hóa được máy bay quân sự thả dù xuống Làng Ho, về sau, mở được sân