Lễ hội từ trước đến nay là sản phẩm tinh thần không thể thiếu được của nhândân ta, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả viết về lễ hội truyền thống như “Lễ hội cổ truyền” của Việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ THỊ PHƯƠNG THÚY
PHỤC DỰNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
(Nghiên cứu trường hợp lễ hội Tịch điền Đọi Sơn,
lễ hội đền Trần Thương, tỉnh Hà Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Trang 2Hà Nội, 2014
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ THỊ PHƯƠNG THÚY
PHỤC DỰNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
(Nghiên cứu trường hợp lễ hội Tịch điền Đọi Sơn,
lễ hội đền Trần Thương, tỉnh Hà Nam)
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục của đề tài 7
7 Đóng góp của đề tài 7
Chương 1 VAI TRÒ CỦA DI SẢN LỄ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 8
1.1 Tổng quan về hệ thống di sản văn hóa 8
1.1.1 Định nghĩa về di sản văn hóa 8
1.1.2 Phân loại di sản văn hóa 11
1.2 Tài nguyên Du lịch nhân văn 13
1.2.1 Các quan điểm về tài nguyên Du lịch nhân văn 13
1.2.2 Lễ hội truyền thống 17
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 PHỤC DỰNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH 27
2.1 Trường hợp lễ hội Tịch điền Đọi Sơn 27
2.1.1 Giới thiệu về điểm nghiên cứu 27
2.1.2 Quá trình phục dựng 31
2.1.3 Đánh giá 35
2.2 Trường hợp Lễ hội đền Trần Thương 37
2.2.1 Giới thiệu về điểm nghiên cứu 37
2.2.2 Quá trình phục dựng 40
2.2.3 Đánh giá 43
Trang 52.3 Đánh giá chung 46
2.3.1 Điều kiện chung phát triển du lịch tỉnh Hà Nam 46
2.3.2 Những thành tựu đạt được 50
2.3.3 Những hạn chế và nguyên nhân 52
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO TIỀM NĂNG LỄ HỘI 61
3.1 Định hướng phát triển du lịch 61
3.1.1 Định hướng chung 61
3.1.2 Định hướng về điểm, tuyến du lịch 64
3.1.3 Liên kết vùng 66
3.2 Hệ thống giải pháp 67
3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách, tổ chức quản lý quy hoạch 67
3.2.2 Liên kết, phối hợp giữa các thành phần kinh tế 69
3.2.3 Nâng cao năng lực 71
3.2.4 Quảng bá, xúc tiến 75
3.2.5 Nâng cao chất lượng môi trường lễ hội 79
3.2.6 Đối với cộng đồng 81
3.3 Kiến nghị 82
3.3.1 Kiến nghị với sở VH, TT & DL Hà Nam và UBND tỉnh 82
3.3.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 84
3.3.3 Kiến nghị với các công ty lữ hành, các tổ chức Du lịch 85
3.3.4 Đối với cộng đồng 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 99
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dânUBND : Ủy ban nhân dân
UNESSCO : United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc VH,TT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang Bảng:
Bảng 2.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người (2008 - 2012)
47
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn phân theo khu vực kinh tế (2008 -2012) 48
Bảng 2.3 Thực trạng khách du lịch đến Hà Nam thời kỳ 2000 - 2010 48
Bảng 2.4 Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của lễ hội 51
Bảng 2.5 Bảng đánh giá tổng hợp các yếu tố tiềm năng, hiện trạng của du lịch Hà Nam (SWOT) 58
Bảng 3.1 Dự báo số lượng khách đến Hà Nam năm 2015 - 2020 63
Bảng 3.2 Dự báo doanh thu Du lịch Hà Nam đến năm 2020 63
Bảng 3.3 Phân bố khách sạn trên địa bàn tỉnh Hà Nam 63
Bảng 3.4 Các điểm Du lịch chính của Hà Nam 66
Bảng 3.5 Tổng hợp các ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch Hà Nam phát hành trong giai đoạn 2010 - 2013 77
Biểu đồ: Biểu đồ 2.1 Thực trạng tăng trưởng khách giai đoạn 2000 - 2010 so với chỉ tiêu kế hoạch 1998 48
Trang 8lễ hội và đình, đền, chùa, miếu chiếm một tỷ lệ rất lớn, đặc biệt là khách du lịchtrong nước Nắm bắt được nhu cầu này, nhiều địa phương đã tổ chức phục dựng các
lễ hội truyền thống, khai thác lễ hội thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút du kháchtrong nước và quốc tế đến với địa phương
Với bề dày truyền thống văn hóa lịch sử trải dài hàng nghìn năm, trên đấtnước Việt Nam đã hình thành rất nhiều lễ hội truyền thống giá trị Tuy nhiên, dochiến tranh liên miên và những biến cố lịch sử, nhiều lễ hội truyền thống đã dần bịmai một, thậm chí có những lễ hội bị hoàn toàn biến mất trong đời sống của nhândân Trước thực trạng này, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tưphục dựng nhiều lễ hội Bên cạnh đó, nhiều địa phương cũng đã chủ động, nỗ lực
“làm sống lại” những lễ hội truyền thống từng là niềm tự hào của họ
Theo đó, nhiều lễ hội truyền thống đã được tái hiện với quy mô lớn, gópphần làm cho bức tranh lễ hội ở Việt Nam trở nên đa dạng Tuy nhiên, không phải lễhội nào cũng được phục dựng thành công, mang tính tích cực Do thiếu hiểu biết về
di sản văn hóa, do xu hướng thương mại hóa và chính trị hóa của những người thựchiện, một số lễ hội được phục dựng với nội dung và hình thức bị sai lệch, mang đếnnhững hệ lụy đáng tiếc, nhận lại những phản hồi tiêu cực từ cộng đồng và du khách
Rút kinh nghiệm từ một số địa phương đi trước, tỉnh Hà Nam đã phục dựng kháthành công một số lễ hội truyền thống đưa vào phục vụ phát triển du lịch, trong đótiêu biểu là Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn và lễ phát lương đền Trần Thương
Trang 9Hà Nam là tỉnh có bề dày truyền thống văn hiến, có lịch sử hình thành vàphát triển lâu đời, có vị trí địa lý - văn hoá khá đặc biệt trong khu vực đồng bằngchâu thổ sông Hồng Hiện ở Hà Nam còn lưu giữ được nhiều di sản quý trải suốtchiều dài lịch sử hàng mấy ngàn năm dựng nước, giữ nước như trống đồng Ngọc
Lũ, chùa Đọi Sơn, từ đường Nguyễn Khuyến, đình Vị Hạ, đình Đồng Du Trung, đềnTrần Thương, đền Trúc, chùa Bà Đanh… Hàng năm, trên 100 lễ hội được tổ chức ởcác làng xã trong tỉnh Thời gian qua, tại Hà Nam nhiều di tích đã được bảo quản,trùng tu, tôn tạo và khai thác có hiệu quả, nhiều lễ hội truyền thống được bảo tồn vàkhôi phục Đặc biệt, năm 2009 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nam đã khôiphục Lễ hội Tịch Điền - Đọi Sơn, năm 2010 tỉnh khôi phục Lễ phát lương đền TrầnThương Việc tái hiện hai lễ hội này đã giúp đa dạng hóa và nâng cao chất lượngsản phẩm du lịch của tỉnh, đáp ứng phần nào nhu cầu hưởng thụ văn hóa tâm linhcủa du khách cũng như mong mỏi của nhân dân, góp phần bảo tồn và phát huy giátrị lễ hội truyền thống, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nhân văn, tăng sức hútcho điểm đến du lịch Hà Nam
Mặc dù vậy, việc phục dựng lễ hội truyền thống đưa vào phục vụ phát triển
du lịch của Hà Nam vẫn chưa tránh khỏi một số ý kiến trái chiều Điều này có nghĩa
là công tác phục dựng lễ hội của tỉnh Hà Nam cần tiếp tục được nghiên cứu, điềuchỉnh, bổ sung nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của du khách và nhân dân
Tác giả lựa chọn đề tài này với mong muốn việc phục dựng lễ hội truyềnthống sẽ góp phần vào phát triển Du lịch của địa phương đồng thời góp phần bảotồn, phục dựng di sản văn hóa của Hà Nam Với nghiên cứu này, tác giả hi vọngthông qua đây đưa ra giải pháp về cơ chế chính sách, liên kết vùng, điểm Du lịch,liên kết, phối hợp giữa cá thành phần kinh tế, nâng cao chất lượng môi trường Dulịch và cộng đồng địa phương, giải pháp về quảng bá, xúc tiến, nâng cao năng lựccạnh tranh… có thể góp phần bổ sung hoàn thiện, nâng cao hơn nữa chất lượng lễhội truyền thống phục vụ phát triển Du lịch góp phần phát triển Du lịch văn hóa tỉnh
Hà Nam
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việt Nam trải qua bốn nghìn năm chiều dài của lịch sử với bao biến cố thăngtrầm nhưng vẫn xây dựng riêng cho mình nền tảng văn hóa riêng với những đặctrưng riêng biệt tạo nên tài nguyên Du lịch nhân văn vô cùng quý giá cho thế hệ
tương lai Năm 1992, Đào Duy Anh xuất bản cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” do
nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh phát hành Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc
Thêm có cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” với 2 góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng
cùng có một mục đích là giúp cho độc giả hiểu thêm về Cơ sở văn hóa Việt Nam
Ngoài ra, Trần Ngọc Thêm năm 1997 còn có cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam”, năm 1998 Phan Ngọc có cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Từ năm 1915
Phan kế Bình đã cho xuất bản cuốn “Việt Nam phong tục”… Những tác phẩm trên
đã cung cấp nhiều quan điểm, lý luận để tác giả có thể học hỏi, nghiên cứu giúp cho
đề tài được thực hiện tốt hơn
Lễ hội từ trước đến nay là sản phẩm tinh thần không thể thiếu được của nhândân ta, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả viết về lễ hội truyền thống như
“Lễ hội cổ truyền” của Viện Văn hóa dân gian xuất bản năm 1992, năm 1997 Lê Trung Vũ, Nguyễn Hồng Dương với “Lịch lễ hội”, năm 1993 Bùi Thiết với “Từ
điển lễ hội Việt Nam” và “Hội hè Việt Nam” của Trương Thìn (chủ biên) năm 1990,
năm 1993 Tô Ngọc Thanh có “Niềm tin và lễ hội”, trích trong: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (chủ biên) với “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại”, luận
án tiến sỹ tại viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam năm 2006 Bùi Hoài Sơn nghiên
cứu về “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945
đến nay”, năm 2009 ông có “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt”… Những
năm gần đây cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế xã hội ngày càng pháttriển, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện nâng cao, nhu cầu vui chơi, dulịch ngày càng lớn Nhiều lễ hội cổ truyền được phục dựng, các tour tuyến du lịchđược hình thành Các công trình nghiên cứu lễ hội gắn với du lịch cũng được nhiềuhọc giả quan tâm, đặc biệt là các lễ hội lớn ở các địa phương trên khắp địa bàn cảnước, tiêu biểu có các công trình phục dựng lễ hội truyền thống của Bùi Quang
Trang 11Thắng, năm 2005 “Phục dựng lễ hội Xuân Phả, Thọ Xuân, Thanh Hóa”, “Phục
dựng lễ hội Lam Kinh, Thanh Hóa”, năm 2006 “Phục dựng lễ hội Kiếp Bạc, Hải Dương”, năm 2009 là “Phục dựng lễ hội đền Lảnh Giang, Duy Tiên, Hà Nam”.
Ngoài ra còn nhiều bài viết nghiên cứu về du lịch học, du lịch văn hóa, về lễ
hội và du lịch như Nhập môn khoa học du lịch của Trần Đức Thanh năm 2000, năm
2004 Dương Văn Sáu với “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển Du lịch”; Trần Nhoãn năm 2002 với “Đa dạng hoá các hoạt động di tích - lễ hội qua con đường du
lịch"; Trần Nhạn với “Du lịch và kinh doanh du lịch” năm 2005, năm 2008 Nguyễn
Phạm Hùng chủ biên đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng đồng bằng
sông Hồng”, năm 2009 Lương Hồng Quang viết “Festival Huế: Câu chuyện hội nhập và phát triển văn hóa (Các đánh giá chính sách và định hình mô hình tổ chức gắn với hội nhập và phát triển”, năm 2010 ông viết “Báo cáo Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam” và năm 2011 ông viết“Có phải lễ hội truyền thống như một hiện tượng tâm linh và có tính truyền thống, năm 2012 với “Các kinh nghiệm và bài học rút ra từ việc xây dựng mô hình tổ chức lễ hội đền Trần”và
“Quản trị lễ hội và hình ảnh điểm đến (Quản trị giúp gì cho việc xây dựng hình ảnh điểm đến”, năm 2013 có kỉ yếu Hội thảo quốc tế “Du lịch lễ hội và sự kiện” của Đại
học Kinh tế Huế & Trường Quản lí Công nghiệp Du lịch, ĐH Hawaii, năm 2013 Bùi
Quang Thắng có bài viết về “Tổ chức lễ hội truyền thống như là tổ chức sự kiện”.
Những năm gần đây ngành Du lịch nhận được sự quan tâm đặc biệt củaĐảng và Nhà nước, tạo cơ chế, chính sách để ngành Du lịch có điều kiện phát triển,bắt kịp với xu hướng phát triển kinh tế thế giới, nâng cao vị thế quốc gia Trongnhững năm qua, Đảng và Nhà nước đã phê duyệt nhiều chính sách tạo hành langpháp lý cho ngành Du lịch phát triển nói chung và phát triển sản phẩm Du lịch nhân
văn nói riêng Năm 2003 có “Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành”;
năm 2005 có “Luật Du lịch” Năm 2013 Thủ tướng Chính phủ thông qua Quyết định số 201/QĐ-TTg về “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030”, trước đó năm 2012 UBND tỉnh Hà Nam phê duyệt
Trang 12Quyết định số 1393/QĐ-UBND về “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nam
đến năm 2020, tầm nhìn 2030”.
Năm 2000, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Duy Tiên đã cho xuất bản cuốn
“Lịch sử Đảng bộ huyện Duy Tiên” và năm 2005 Ban chấp hành Đảng bộ huyện Lý Nhân có cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Lý Nhân”, trong cuốn “Địa chí Hà Nam”
xuất bản năm 2005… đã nêu lên quá trình hình thành và phát triển của Duy Tiên và
Lý Nhân với đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân nơi đây là tiền đề cho nềntảng văn hóa tạo nên bề dày văn hóa - sức hấp dẫn của điểm đến Du lịch văn hóa
tỉnh Hà Nam “Hà Nam thế và lực trong thế kỷ XXI” năm 2005 do Công ty cổ phần
thông tin kinh tế đối ngoại, nhà xuất bản chính trị quốc gia đã đánh giá tiềm năng
phát triển Du lịch lễ hội của Hà Nam Năm 2004 có “Hà Nam di tích và danh
thắng” và “lễ hội Hà Nam” do Sở VH,TT&DL Hà Nam xuất bản đã nêu lên khả
năng phát triển Du lịch lễ hội của Hà Nam
Sau khi nghiên cứu lịch sự nghiên cứu vấn đề, tác giả nhận thấy lễ hội truyềnthống rất có khả năng trở thành sản phầm Du lịch nhân văn đặc biệt là tại một tỉnh
có nhiều tiềm năng như Hà Nam
Nhưng qua đây tác giả cũng nhận thấy việc sử dụng lễ hội truyền thống trongphát triển Du lịch là bước đi đầu tiên, vẫn trong quá trình vừa thực hiện vừa học hỏiđang gặp phải nhiều quan điểm, nhiều tranh luận khác nhau Nhưng điều đó cũngchứng tỏ đây là vấn đề mới thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia và nhữngnhà hoạt động Du lịch
Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễ hội đền Trần Thương vẫn đang trong quátrình thử nghiệm, vừa phục dựng vừa điều chỉnh để phù hợp nhằm đạt được kết quảtốt hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình phục dựng lễ hội truyền thống phục vụ phát triển Dulịch tại lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễ hội đền Trần Thương, thông qua đó xác địnhcác điều kiện nhằm khai thác và sử dụng các lễ hội truyền thống cho mục tiêu phát
Trang 13triển Du lịch trong phạm vi tỉnh Hà Nam, góp phần tăng tỉ trọng của Du lịch tại mộttỉnh có nhiều tiềm năng về tài nguyên Du lịch nhân văn như Hà Nam.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan và tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về di sảnvăn hóa, lễ hội truyền thống
- Đánh giá, phân tích điều kiện, thực trạng của quá trình phục dựng lễ hộitruyền thống phục vụ cho phát triển Du lịch ở Hà Nam
- Đề xuất mô ôt số giải pháp góp phần phát triển lịch lễ hội truyền thống cũngnhư bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch của Tỉnh, đặc biệt là tại lễ hội Tịch điềnĐọi Sơn và lễ hội đền Trần Thương
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình phục dựng lễ hội truyền thống tại lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễhội đền Trần Thương, tỉnh Hà Nam nhằm phát triển Du lịch
- Quá trình các lễ hội được sử dụng trở thành sản phẩm Du lịch thu hút khách
Du lịch Đánh giá tài nguyên Du lịch nhân văn tỉnh Hà Nam thông qua tiềm năng disản văn hóa, cơ chế chính sách, quy hoạch Du lịch; khả năng liên kết, phối hợp giữacác thành phần kinh tế; khả năng liên kết vùng, tuyến, điểm Du lịch; nâng cao nănglực cạnh tranh về mặt con người lẫn tài chính; nâng cao chất lượng môi trường lễhội cả về môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội; quảng bá, xúc tiến; sự tham dựcộng đồng
- Đề xuất các các giải pháp để khai thác lễ hội truyền thống trở thành sảnphẩm Du lịch đặc trưng của Du lịch tỉnh Hà Nam thông qua lễ hội Tịch điền ĐọiSơn và lễ hội đền Trần Thương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tế hoạt đô ông phục dựng lễ hội truyềnthống phục vụ phát triển Du lịch đối với lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễ hội đền TrầnThương, tỉnh Hà Nam
Trang 14- Phạm vi thời gian: Quá trình phục dựng lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễ hộiđền Trần Thương từ năm 2009 đến nay.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiê ôn đề tài này tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
để thu thập, xử lý, phân tích các thông tin để hoàn thành đề tài
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp khảo sát thực địa
- Phương pháp quan sát tham dự
- Phương pháp tổng hợp và phân tích
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dungchính của đề tài này gồm 3 chương:
Chương 1: Vai trò của di sản lễ hội đối với phát triển Du lịch
Chương 2: Quá trình phục dựng lễ hội truyền thống nhằm phát triển Du lịch
Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển Du lịch dựa vào tiềm năng lễ hội
Du lịch và bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- Đề xuất mô ôt số giải pháp, kiến nghị với hi vọng có thể nâng cao chất lượngdịch vụ của sản phẩm Du lịch lễ hội tại điểm nghiên cứu
Trang 15Chương 1 VAI TRÒ CỦA DI SẢN LỄ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 Tổng quan về hệ thống di sản văn hóa
1.1.1 Định nghĩa về di sản văn hóa
Di sản văn hoá được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông truyền lạicho con cháu, hoặc nói rộng hơn là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Tuynhiên, điều này trên thực tế chưa hoàn toàn thoả mãn những suy luận logic muốntìm hiểu kỹ hơn về khái niệm này Chúng ta biết rằng, không phải bất cứ tài sản gì
do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau cũng được xem như di sản Lấy ví dụ trongtrường hợp các phong tục, tín ngưỡng, bên cạnh những phong tục, tín ngưỡng đượcxem là di sản quý báu do tiền nhân để lại cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay, nhiềuphong tục, tín ngưỡng bị xem là hủ tục lạc hậu Như vậy, chúng ta cần có một cách
lý giải sâu sắc hơn về thuật ngữ này
Giờ đây khái niệm di sản không còn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quákhứ nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn lọc quá khứ, nhất là đối với các di sảncủa cộng đồng (như đối với trường hợp lễ hội) Rõ ràng là, không phải bất kỳ quá
khứ nào cũng có thể trở thành di sản Chính vì lẽ đó, chúng tôi quan niệm: Di sản là
sự lựa chọn ký ức, báu vật của cộng đồng từ những quá khứ lịch sử để thể hiện cho nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện tại.
Luật Di sản văn hoá của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xác
định di sản là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học,được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [28, tr.12]
Trong diễn trình văn hoá của mỗi dân tộc, di sản văn hoá đóng vai trò vôcùng quan trọng vì nó là nguồn lực nội sinh cho quá trình tiếp biến văn hoá Di sảnvăn hoá hàm chứa những giá trị văn hoá xưa để lại cho đời sau
Văn hoá biểu hiện trình độ phát triển của xã hội và con người Văn hoá là tất
cả giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra, liên quan trực tiếp đến conngười, nhằm mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Trang 16Ông Federico Mayor - Tổng thư ký tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóacủa Liên Hợp Quốc (UNESCO) nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ thế giới pháttriển văn hoá (1988 - 1997): “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo(của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ,hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thịhiếu, những yếu tố xác định riêng của mỗi dân tộc” [68, tr 144] Phần mở đầu
của Luật Di sản văn hóa nêu rõ: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, cóvai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta"[28]
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều hoạtđộng nhằm bảo vệ và phát huy kho tàng di sản văn hóa của cha ông, góp phần to lớnvào việc bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam là một trongnhững quốc gia rất có ý thức bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hoá Vì vậyngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, “xét rằng việc bảo tồn cổ tích làviệc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kýsắc lệnh số 65 ấn định nhiệm vụ cho Đông Dương Bác cổ Học viện nhiệm vụ bảotồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam
Kết thúc sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp, Chính phủ ban hànhNghị định số 519 - TTg ngày 29/10/1957 về việc bảo tồn di tích, di vật lịch sử vàdanh lam thắng cảnh Điều 1 của Nghị định nói trên xác định: Tất cả những bấtđộng sản và động sản có một giá trị lịch sử hay nghệ thuật (kể cả bất động sản vàđộng sản còn nằm ở dưới đất hay dưới nước) và những danh lam thắng cảnh ở trênlãnh thổ nước Việt Nam, bất cứ là thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, một đơn vịhành chính, một cơ quan, một đoàn thể, hoặc một tư nhân, từ nay đều đặt dưới chế
độ bảo vệ của Nhà nước quy định trong Nghị định này
Khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký
Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
(04-04-1984) Mười tám năm sau (2001), Nhà nước Việt Nam đã chính thức ban
Trang 17hành Luật Di sản văn hóa, đây được coi là một bước tiến trên quá trình hoàn thiện
chính sách văn hóa vì sự phát triển của đất nước
Trong Luật Di sản văn hóa, cả hai hình thái văn hóa được chứa đựng trong
ký ức văn hóa của dân tộc: Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể đềuđược đề cập đến với tư cách là đối tượng pháp lý chủ yếu của luật Luật pháp củanhà nước không chỉ nâng cao nhận thức mà còn trao cho mọi công dân một công cụpháp lý để điều chỉnh các hoạt động xã hội, để nhà nước cùng các tổ chức, cá nhân
có thể phục dựng giá trị di sản văn hóa dân tộc vào đời sống hiện tại
Trong Luật Di sản văn hoá cũng có thêm những quy định về quản lý bảo vệ
và phát huy giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, công việc xây dựng các
bộ sưu tập và tổ chức quản lý các bảo tàng ở Việt Nam; xác định rõ quyền sở hữuđối với di sản văn hoá; xác định cụ thể sự phân cấp quản lý giữa trung ương và địaphương; quy định việc mở hệ thống các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng
và sưu tập tư nhân
Theo quan điểm của Đàm Hoàng Thụ thì “di sản là sản phẩm của thời trướctruyền lại cho thời sau, văn hóa có thể hiểu một cách khái quát là toàn bộ sự hiểubiết được đúc kết thành hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội, mà xã hội loàingười đã đạt được trong quá trình hoạt động thực tiễn; nó có khả năng chi phối điềutiết đời sống tâm lý cũng như mọi hành vi ứng xử của con người và tạo nên bản sắcriêng cho mỗi cộng đồng xã hội” [63, tr 36 - 37]
Cũng theo Đàm Hoàng Thụ: “Di sản văn hóa là toàn bộ sản phẩm sáng tạocủa con người hàm chứa những giá trị về chân thiện mỹ, thể hiện ra dưới dạng hệthống biểu tượng và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”
UNESCO đã định nghĩa di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa là tập hợpcác biểu hiện vật thể - hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền vănhóa và do đó là của toàn thể nhân loại Là một phần của việc khẳng định cũng nhưlàm giàu thêm bản sắc văn hóa, một dạng di sản của nhân loại, di sản văn hóa manglại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, vì thế là nơi cất giữ kinh nghiệmcủa con người Việc bảo tồn và giới thiệu những di sản văn hóa là cốt lõi của mọi
Trang 18Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (1972) của UNESCO
quy định những loại hình sau đây được coi là di sản văn hóa vật thể:
- Di tích kiến trúc: các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ
phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bia ký, các hang động cư trú vànhững bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là
có giá trị toàn cầu
- Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà
do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan,xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
- Các di chỉ: các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con
người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theoquan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học nổi tiếng toàn cầu
Ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hóa trước năm 1945, các nhà nho cũngnhư các viên quan trong Quốc sử quán của nhà Nguyễn gọi theo tên các di tích:
đình, chùa, hội… Năm 1984, các nhà quản lý sử dụng khái niệm di tích lịch sử - văn
hóa và danh lam thắng cảnh Trong pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn
hóa và danh lam thắng cảnh ban hành ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hóa được
quy định: “là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm
có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liênquan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”
Trong Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành quy định tại
Chương 1, Điều 1 quy định Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sảnvăn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giátrị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [28]
1.1.2 Phân loại di sản văn hóa
Theo nghiên cứu của tổ chức UNESCO thì toàn bộ di sản thế giới có thể chiathành 3 nhóm:
- Di sản văn hóa (nhân tạo)
Trang 19- Và di sản hỗn hợp (kết hợp giữa nhân tạo và thiên tạo).
Riêng về di sản văn hóa lại chia thành hai phạm trù:
- Di sản văn hóa vật thể (còn gọi là hữu hình)
- Di sản văn hóa phi vật thể (còn gọi là vô hình)
Về phân loại lễ hội thì có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên ý nghĩa vàcội nguồn khác nhau của hội cùng với những tiết mục chính yếu và độc đáo, nổi trộinhất của chúng, có thể chia thành nhiều loại hình Quy chế tổ chức lễ hội ban hànhnăm 2001 đã xây dựng khung quản lý cho 4 đối tượng lễ hội, đó là:
- Lễ hội dân gian
- Lễ hội lịch sử cách mạng
- Lễ hội tôn giáo
- Lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam
Với sự hoàn thiện của quy chế tổ chức lễ hội, các lễ hội Việt Nam có một vănbản pháp lý tương đối hoàn chỉnh để thực thi
Về phân cấp lễ hội, khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phâncấp theo quy định, các lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định và phân cấp Tùy vàotừng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau
Theo thống kê của Cục Văn hóa Cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện
cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%),
332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội dunhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%) Các địaphương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương và Phú Thọ [16]
Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa xuân và số ítvào mùa thu, là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thờigian nhàn rỗi Trong số các lễ hội Việt Nam phải kể đến những lễ hội chi phối hầuhết các gia đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan vàTết Trung Thu Gần đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâmnhư: Lễ hội đền Hùng, Lễ hội đền Trần, Giáng Sinh, Phật đản…
Trang 20Đứng ở góc độ biến đổi văn hóa, có thể phân loại các lễ hội truyền thốngthành ba loại:
- Loại lễ hội mở rộng quy mô, vốn có quy mô cộng đồng thành quy mô vùng,thậm chí quốc gia, tiêu biểu như: Hội Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (PhúThọ), lễ hội chùa Bái Đính (Ninh Bình), lễ hội đền Trần, lễ hội phủ Dày (NamĐịnh), lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh), lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), lễ hội NguyễnTrung Trực (Kiên Giang)
- Loại lễ hội về cơ bản vẫn giữ quy mô, tính chất của một lễ hội cộng đồng,chủ yếu do người dân tổ chức, cúng tế và trình diễn nghi lễ, ít có sự can thiệp củacác yếu tố bên ngoài Loại lễ hội này về cơ bản vẫn giữ được cấu trúc của một lễ hộitruyền thống Tuy nhiên, do được tổ chức trong bối cảnh hiện tại nên một số yếu tốmới đã được hình thành, chủ yếu là khu vực dịch vụ và thương mại Các yếu tố hạtnhân như nghi lễ, diễn trình, mục tiêu, chủ nhân không thay đổi
- Loại lễ hội được gọi là truyền thống song đã được phục dựng và cónhững yếu tố mới nhằm phục vụ các yêu cầu về chính trị, kinh tế hay các yêu cầukhác Truyền thống chỉ là chất liệu, là nền cho những phục dựng mới phục vụphát triển du lịch Tiêu biểu cho loại lễ hội này Lễ hội xuống đồng (Hà Nam),Hội Lim (Bắc Ninh)… [38]
1.2 Tài nguyên Du lịch nhân văn
1.2.1 Các quan điểm về tài nguyên Du lịch nhân văn
Theo Trần Đức Thanh: “Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất,năng lượng được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người
Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sảnphẩm do bàn tay khối óc của con người làm nên, những khả năng của loài người
được sử dụng cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng” [56]
Trong Từ điển Tiếng Việt do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Ngôn ngữ
học ấn hành thì “du lịch là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” [71]
Theo Trần Đức Thanh, du lịch có thể được hiểu là: “1 Sự di chuyển và lưu
trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư
Trang 21trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng 2 Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh” [56].
Khái niệm du lịch trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội thông qua
năm 2005 cũng xuất phát từ quan điểm trên
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoàinơi cư trú thường xuyên nhằm thoả mãn đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giảitrí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định” [41]
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cáchmạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể được sửdụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch
Tài nguyên Du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu dulịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch
Theo khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quyđịnh: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sửvăn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác cóthể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành cáckhu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Khoản 2 (Điều 13, Chương II) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, vănnghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình laođộng sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thểđược sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [41]
Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành có thể hiểu tài nguyên du lịch nhân văn
là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có
Trang 22triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tàinguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thể như:
các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷniệm, bảo vật quốc gia Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm các lễ hội,nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục,tập quán, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoahọc, kinh nghiệm sản xuất
Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn:
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thờigian, thiên nhiên và do chính con người, bởi thế dễ bị suy thoái, hủy hoại và không
có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người Vì vậy ditích lịch sử - văn hóa khi bị bỏ hoang cũng bị xuống cấp nhanh chóng; những giá trịvăn hóa phi vật thể như những làn điệu dân ca, các vũ khúc, các lễ hội, các làngnghề truyền thống, phong tục tập quán,…khi không được bảo tồn và phát huy cóhiệu quả sẽ bị mai một hoặc biến mất Do vậy, khi khai thác tài nguyên du lịch nhânvăn cho mục đích phát triển du lịch cần quan tâm đầu tư cho bảo tồn, tôn tạo thườngxuyên, khoa học và có hiệu quả
Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổbiến Ở đâu có con người, ở đó có tài nguyên nhân văn Vì vậy, các địa phương, cácquốc gia đều có tài nguyên nhân văn, trong đó có nhiều loại có sức hấp dẫn với dukhách, đã hoặc sẽ có thể sử dụng cho phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang nhữngđặc sắc riêng Do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội là những yếu tốnuôi dưỡng tạo thành tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi địa phương, mỗi quốc giakhông giống nhau nên tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia cógiá trị đặc sắc riêng, góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo có sức cạnhtranh và hấp dẫn du khách riêng Do vậy, trong quá trình khai thác, bảo tồn tàinguyên du lịch nhân văn cần coi trọng việc bảo vệ, phát huy giá trị độc đáo của tài nguyên
Trang 23Tài nguyên du lịch nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đặcbiệt tập trung nhiều ở những khu vực đông dân cư Bởi nó được sinh ra trong quátrình phát triển xã hội và là sản phẩm do con người sáng tạo ra Khác với tài nguyên
du lịch tự nhiên, việc khai thác phần lớn tài nguyên du lịch nhân văn thường ít chịuảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết gây nên như mưa hay rét nên tính mùa vụcũng ít hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên
Vai trò của tài nguyên nhân văn đối với việc phát triển du lịch
Ngành Du lịch được coi là ngành thúc đẩy sự hiểu biết văn hóa và hòa bình
Nếu như tài nguyên du lịch tự nhiên thu hút khách bởi sự hoang sơ, hùng vĩ, độcđáo và hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phongphú, đa dạng và tính truyền thống, cũng như tính địa phương của nó Các đối tượngvăn hóa, tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch vănhóa phong phú, nó đánh dấu sự khác biệt giữa nơi này và nơi khác, quốc gia này vớiquốc gia khác, dân tộc này với dân tộc khác và là yếu tố thúc đẩy động cơ đi du lịchcủa du khách, kích thích quá trình lữ hành Ngày nay, du lịch văn hóa là một xuhướng mang tính toàn cầu, trong đó văn hóa trở thành nội hàm, động lực để pháttriển du lịch bền vững, giá trị văn hóa khiến sản phẩm du lịch mang đậm nét độcđáo nhân văn, được coi là nguồn tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn có vai trò đặcbiệt quan trọng trong hoạt động du lịch
Trong những chuyến đi tham quan tài nguyên du lịch nhân văn khách khôngchỉ được tham quan mà còn có thể tìm hiểu và nghiên cứu khoa học
Tài nguyên du lịch nhân văn đa số không có tính mùa vụ, không phụ thuộcvào tự nhiên và các điều kiện tự nhiên khác, do vậy tài nguyên du lịch nhân văngóp phần giảm nhẹ tính mùa, tính thời vụ của các loại hình du lịch khác Các loạitài nguyên du lịch nhân văn hầu như đều có thể khai thác phục vụ du lịch quanhnăm
Trang 241.2.2 Lễ hội truyền thống
Việt Nam là đất nước có nền văn hoá lâu đời, nhiều dân tộc cùng sinh sốngtrên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán mang bản sắcriêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo cho nền văn hoá của dân tộc Trong
đó, lễ hội là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm cho văn hoá đất nướcđặc sắc hơn
Lễ hội là loại hình tiêu biểu trong di sản văn hóa phi vật thể Theo điều 4,
Luật di sản văn hóa định nghĩa di sản văn hóa vật thể như sau: “Di sản văn hóa phi
vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tíchlịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”[28]
“Văn hóa phi vật thể hay còn gọi là văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộnhững sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người sáng tạo ra nhưphong tục, tập quán thể hiện trong lối sống, trong các mối quan hệ xã hội của conngười, các quy ước thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa conngười và tổ tiên, với lực lượng siêu nhiên mà con người hằng tin tưởng Đó là toàn
bộ tri thức liên quan đến việc sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sống và pháttriển con người như sản xuất lương thực, thực phẩm, y học dân gian, văn hóa ẩmthực, nghề thủ công Đó là các loại hình nghệ thuật ngôn từ như truyện kể, ca dao,dân ca, thành ngữ, tục ngữ Đó là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như âm nhạc,múa rối, sân khấu, các hình thức trình diễn cho đến kiến trúc, điêu khắc, trang trí,
đồ họa…” [28]
Theo điều 2 của bản Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, khái
niệm “Di sản văn hóa phi vật thể” được UNESCO hiểu là “Các tập quán, các hìnhthức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật,
đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhómngười, trong đó một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản vănhóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vậtthể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi vớimôi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ,
Trang 25đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự đúc kết và sự kế tục, qua
đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của conngười”[68]
Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông quangày 18 tháng 6 năm 2009 thì “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắnvới cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo vàđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề,trình diễn và các hình thức khác” [28]
Cho đến thời điểm hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lýgiải khác nhau trong giới nghiên cứu Tựu trung lại trên thực tế đã xuất hiện một số
ý kiến sau đây: có quan niệm chia tách lễ và hội thành hai thành tố khác nhau trongcấu trúc lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hoá dân gian có lễ mà không
có hội hoặc ngược lại Theo Bùi Thiết thì “Lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi
lễ, hội là các hoạt nghi lễ đạt trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hoátruyền thống” [60]; khác với quan điểm trên, nhà nghiên cứu Thu Linh cho rằng: Lễ(cuộc lễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lệ trong các dịp này trởthành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một cáchnghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình độ một “cải diễn hoá” cùng với không khí trangnghiêm đóng vai trò chủ đạo Đây chính là điểm giao thoa giữa lễ với hội, và có lẽcũng vì vậy người ta thường nhập hai từ lễ hội [27, tr.27]
Nghiên cứu "Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển Du lịch", Dương Văn Sáucho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên một địa bàndân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một số sự kiện, nhânvật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hoá của conngười với thiên nhiên - thần thánh và con người với xã hội” [35]
Tác giả Phạm Quang Nghị cắt nghĩa “lễ hội là một sinh hoạt văn hoá cộngđồng, có tính phổ biến trong cộng đồng xã hội, có sức lôi cuốn đông đảo quần
Trang 26chúng nhân dân tham gia Là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ tiền nhân để lại chohôm nay, lễ hội chứa đựng những mong ước thiết tha vừa thánh thiện, vừa đờithường, vừa thiêng liêng, vừa thế tục của bao thế hệ con người” [30, tr 96].
GS Ngô Đức Thịnh quan niệm “lễ hội cổ truyền là một hiện tượng văn hoádân gian tổng thể”, “lễ hội là một hình thứ diễn xướng tâm linh" và diễn giải: Tínhtổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta quan niệm mà
nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờmột vị thần linh - lịch sử hay là một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảysinh và tích hợp các hiện tượng văn hoá phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hộicho nên một trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phátsinh tích hợp [62, tr 37]
Như vậy, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau hai thành tố cấu trúcnên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng,linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là mặt thứ hai: vật chất, văn hoá nghệ thuật, đờithường) Tác giả Trần Bình Minh cho rằng: “lễ và hội hoà quện, xoắn xít với nhau
để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của một cộng đồng Trong lễ cũng có hội
và trong hội cũng có lễ” [29, tr 120]
Lễ hội là sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay và nóđược người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt vănhoá, tín ngưỡng
Lễ hội cổ truyền là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian tổng hợp, vừađộc đáo, vừa phong phú đa dạng của dân tộc Việt Nam, vốn có nguồn gốc phát sinh
và phát triển từ rất lâu đời trong lòng lịch sử văn hoá nước nhà Có thể coi lễ hội cổtruyền là hình ảnh thu nhỏ của nền văn hoá dân gian cổ truyền dân tộc Bởi lẽ, trong
lễ hội cổ truyền bao hàm hầu như đầy đủ các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian,như: về văn học dân gian, có truyền thuyết, thần thoại, thần tích, thần phả, văn tế,văn bia, hoành phi câu đối, ca dao hò vè ; về nghệ thuật biểu diễn dân gian, có diễnxướng, sân khấu dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc ; về tôn giáo cóphong tục và tín ngưỡng dân gian gồm, các nghi lễ, nghi thức, trò chơi, trò diễn, trò
Trang 27chơi dân gian, tục lệ, đối tượng thờ cúng, đức tin và kỵ hèm dân gian Do vậy, lễhội cổ truyền không chỉ là một hiện tượng văn hoá dân gian, mà còn là một hiệntượng lịch sử xã hội Nó phản ánh khá trung thực và rõ nét cốt cách, bản lĩnh và bảnsắc dân tộc, cùng với tâm linh, nguyện vọng của nhân dân trong suốt thời kỳ lịch sửdựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Lễ hội cổ truyền được ra đời, phục dựng trong lòng lịch sử - văn hoá dân tộc,
nó phản ánh khá đầy đủ và rất sinh động đời sống văn hoá - xã hội mà nó đã trảiqua Nhiều yếu tố văn hoá tinh thần được lễ hội cổ truyền bảo lưu và truyền tụng từđời này sang đời khác; và thực sự trở thành di sản văn hoá truyền thống vô giá Đóchính là kho tàng các giá trị thuộc về tinh hoa văn hoá, phản ánh rõ nét bản lĩnh vàbản sắc dân tộc Việt Nam
Lê Trung Vũ và Nguyễn Hồng Dương khái quát: “Hội làng- Lễ hội truyềnthống, là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng làng,xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; sự tồn tại và phát triển cho cả làng, sự bình yên chotừng cá nhân, niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ;
sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà bao đời đã quy tụ niềm mơước chung vào 4 chữ “Nhân khang vật thịnh”, hay “Quốc thái dân an” Hai tác giảgiải thích tiếp: Lễ hội truyền thống, còn gọi là lễ hội dân gian hay lễ hội cổ truyềnthường tổ chức ở đình, chùa (hội chùa mang nội dung và chức năng hội làng), đền,miếu, phủ, điện trong các làng gọi là hội làng, hoặc ngày nay ở các thị trấn, tỉnhthành chỉ gọi là hội đình, hội đền, hội phủ; do dân làng - trước hết là các bậc caoniên, đại biểu nhiều mặt của cộng đồng làng xưa hoặc phường, phố tổ chức Đó lànhững lễ hội thường gồm hai phần: lễ và hội Lễ với hệ thống lễ uy nghiêm, và thầnbí; Hội với hệ thống hội, vui tươi và thế tục; kèm theo và xen kẽ là phong tục, trong
đó mỗi hội thường có một tục hèm- tục kiêng- là đặc điểm của mỗi hội [73, tr 8]
Bên cạnh đó, lễ hội cổ truyền là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể,được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó Các lễ hội cổ truyền làsinh hoạt văn hoá tiến hành theo định kỳ, mang tính cộng đồng (thường là cộngđồng làng)
Trang 28Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội ngày càng phát triển thìvấn đề phục dựng các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống trở nên bức thiết hơnbao giờ hết Để lễ hội truyền thống được lưu truyền cho thế hệ mai sau với đầy đủgiá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, cần phục dựng phù hợp, không gây ảnh hưởngtiêu cực đến giá trị của lễ hội truyền thống
Bảo tồn nguyên vẹn
Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản phẩm của quá khứnên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế hệ hiện tại làmméo mó, biến dạng di sản Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hoá - xã hội nhấtđịnh mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một cách cụ thể để
có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Không những thế, những tácđộng của ngày hôm nay sẽ tạo nên những lớp văn hoá khác không trùng nghĩa vớilớp văn hoá mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho cácthế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sản đang tồn tại
Tác giả Tô Vũ khi nói đến quan niệm về bảo tồn đã cho rằng “Khi nói tớibảo tồn, ta luôn nghĩ đến giữ gìn toàn bộ và nguyên vẹn đối tượng cần bảo tồn Đốitượng bảo tồn cần thoả mãn hai điều kiện tiên quyết: Một là, nó phải được nhìn làtinh hoa, là một “giá trị” đích thực không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi Hai là, nóphải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài trước những biếnđổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người (…), nhất là trong giaiđoạn đổi mới hiện nay với chính sách mở cửa và cơ chế thị trường.” [74]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Liên: "Bảo tồn” là giữ lại, không để bị mất đi, không
để bị thay đổi, biến hoá hay biến thái… Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này,không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc phát triển” Hơn nữa, khi nói đốitượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực
và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau củađối tượng được bảo tồn [26, tr 269]
Trên thực tế, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được khá nhiều học giả ủng
hộ, đặc biệt các nhà bảo tàng học, trong lĩnh vực di sản văn hoá vật thể Đối với lễ
Trang 29hội truyền thống (một di sản văn hoá phi vật thể), quan điểm này không phảikhông phù hợp và không có ai ủng hộ Trong khi khái quát các ý kiến khác nhau
về lễ hội truyền thống, Đinh Gia Khánh đồng tình với ý kiến lên án sự pha tạpgiữa các yếu tố truyền thống và các yếu tố hiện đại và đòi hỏi loại bỏ sự pha trộnthô kệch đó [22, tr.28]
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứdường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến disản nói chung, quản lý di sản nói riêng Quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi
di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian
cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại, di sản ấy cần pháthuy giá trị văn hoá - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gìkhông phù hợp với xã hội ấy
Lễ hội là một hiện tượng văn hoá gắn liền với điều kiện, trình độ phát triểncủa mỗi xã hội ở những thời kỳ nhất định Sự phát triển của lễ hội cũng là một quátrình lịch sử, trong đó, nó tích hợp (tự nguyện hoặc cưỡng ép) những yếu tố của mỗigiai đoạn lịch sử Người ta thường nói đến những lớp văn hoá tồn tại trong mỗi lễhội truyền thống Chính vì lẽ đó, người ta rất khó xác định đâu là yếu tố nguyêngốc, đâu là những yếu tố phái sinh trong quá trình phát triển của lễ hội, và như vậy,việc bảo tồn nguyên vẹn cũng không thể xác định được Bảo tồn trên cơ sở kế thừarất thuận tiện do chúng ta chỉ lựa chọn những yếu tố hợp lý để phát huy (Tuy nhiên,vấn đề đáng nói ở đây là yếu tố nào được lựa chọn để phát huy và yếu tố nào khôngđược lựa chọn để phát huy)
Trên cơ sở của sự hiểu biết như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tác phẩm
Đời sống mới, đã nêu ra những quan điểm rõ ràng về sự kế thừa: cái gì cũ mà xấu
thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý,cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm Quan điểm đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa trên
cơ sở kế thừa này
Trang 30Trên thực tế cho thấy, cả bảo tồn nguyên vẹn lẫn bảo tồn trên cơ sở kế thừađều có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó Nếu như quan điểm bảo tồn nguyênvẹn gặp khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố pháisinh, và giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào; thì quan điểm bảo tồn trên
cơ sở kế thừa gặp phải khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trịcần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần phải loại bỏ; cũngcần phải khuyến cáo rằng sự loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hoá màchúng ta chưa hiểu biết một cách sâu sắc và thấu đáo
Quan điểm về phát huy giá trị di sản
Xung quanh hoạt động phát huy di sản văn hoá phi vật thể cũng đặt ra nhiềuvấn đề Song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản văn hoá phivật thể nói chung và lễ hội cổ truyền nói riêng là làm sao khơi dậy ý thức của cộngđồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản văn hoá phi vật thể, để di sản ấy sốngtrong cộng đồng như bản chất của nó Trong công tác phát huy, vấn đề đặt ra làtuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về lễ hội
cổ truyền với những giá trị văn hoá của nó Chính đây là cây cầu để chúng ta đưa lễhội cổ truyền về với cộng đồng Cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh
ra lễ hội, mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu thêm, phát huy nó trong đời sống
lễ hội, mà phải giữ được nét riêng của lễ hội, gắn với truyền thống của mỗi vùng,miền, làng xã
Trang 31- Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng, được hình thành và biến đổi lâudài qua nhiều thời kỳ lịch sử, do đó nó chứa đựng nhiều lớp văn hoá, mà mỗi lớpvăn hoá lại gắn với một biểu tượng mang những ý nghĩa nhất định Tính đa lớp, đabiểu tượng, đa ý nghĩa của một di sản quý cần phải được trân trọng trong quá trìnhphục dựng lễ hội.
- Ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, nó vượt lên trên ý nghĩa cụthể, nó được thăng hoa từ đời sống Do đó phát huy lễ hội cần tránh tình trạng thaythế ngôn ngữ biểu tượng của lễ hội bằng ngôn ngữ hình ảnh cụ thể, thô vọng
- Lễ hội thuộc phạm trù đời sống tâm linh, được nghi thức hoá, diễn xướnghoá (rước, tế, lễ) hết sức phong phú, đa dạng Do vậy, không được trần tục hoá lễhội làm nó mất đi bản chất và giá trị vốn có của lễ hội
- Lễ hội là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể, có tính phức hợp, đadiện, đa chiều, tính hệ thống Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể táchbiệt giữa phần lễ và phần hội, mà lễ hội cổ truyền hình thành từ nghi lễ, tín ngưỡngnào đó rồi nảy sinh và tích hợp hiện tượng sinh hoạt văn hoá, tạo nên tính tổng thểcủa lễ hội Cần khắc phục tình trạng “kịch bản hoá lễ hội” theo ý chủ quan cá nhân
đi ngược lại với bản chất và quy luật hình thành tự nhiên của lễ hội
Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng chờ đón ngày hội như chờđón một tin vui Họ đến với hội hoàn toàn tự nguyện, ngoài vui chơi giải trí, gặp gỡbạn bè, mọi người đi dự hội đều cảm thấy như mình được thêm một cái gì đó có thể
là điều may Thứ quyền lợi vô hình ấy làm cho những người đi dự hội thêm phầnphấn chấn Chính vì vậy, lễ hội bao giờ cũng có đông người đến dự
Ước tính hàng năm cả nước ta có hơn 8.000 lễ hội, lễ hội tập trung nhiềunhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - nơi có nền văn minh lúa nước phát triển sớm [16]
Như vậy, cùng với các loại hình du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, dã ngoại chữa bệnh thìloại hình du lịch lễ hội luôn có sức thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, vì lễhội không chỉ là sản phẩm văn hoá mà còn là một tiềm năng du lịch hết sức hấp dẫn
Thông qua phục dựng lễ hội truyền thống, những nhà quản lý, các nhàchuyên môn đã khơi dậy, tái tạo cả một truyền thống văn hóa từng bị ngắt quãng,
Trang 32đứt đoạn do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan của lịch sử, đặc biệt là do chiếntranh Do điều kiện của chiến tranh: kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), chống
Mỹ (1954-1975) mà lễ hội truyền thống có đến hơn 30 năm không được tổ chức Từnăm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, lễ hội truyền thống được quan tâmtrở lại Nhiều lễ hội được khôi phục, phục dựng Chương trình quốc gia có mục tiêu
về văn hóa, từ năm 1997 đến nay đã trải qua bốn chu kỳ: 1997 - 2000; 2001 - 2006;
2006 - 2011 và 2012 đến 2015, thông qua cho việc đầu tư sưu tập, bảo tồn di sảnvăn hóa phi vật thể của 54 dân tộc ở nước ta, lễ hội truyền thống nhờ đó được quantâm sưu tập, nghiên cứu và tư liệu hóa Từ năm 1997 đến 2012, có 380 lễ hội củacủa các dân tộc Việt Nam được được đầu tư phục dựng giá trị của nó, trong đó có lễhội được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loạinăm 2010, đó là Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc [68]
Lễ hội là những sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống củacộng đồng Thông qua lễ hội, du khách có thể hiểu được giá trị tinh thần và nhữngtriết lý sâu sắc của nền văn hoá của một quốc gia Vì lẽ đó, lễ hội, nhất là lễ hộitruyền thống đang được nhiều nước trên thế giới và trong khu vực coi là nguồn tàinguyên du lịch nhân văn quan trọng phục vụ phát triển du lịch và một sản phẩm dulịch trong chiến lược phát triển du lịch của mình Thực tế những năm gần đây chothấy lễ hội ở Việt Nam nhất là lễ hội dân gian truyền thống đã và đang có sức thuhút rất lớn Lễ hội hiện nay không bó hẹp trong phạm vi một địa phương nói chung
mà toả sang các vùng lân cận trở thành lễ hội của một vùng thậm chí có tính chấttoàn quốc Số lượng người đi trẩy hội ngày càng đông, người thập phương đông hơnngười sở tại Thành phần trẩy hội cũng khác trước, ngày xưa, người đi trẩy hội chủyếu là bà con nông dân thì nay bao gồm đủ mọi thành phần trong xã hội
Trang 33Tiểu kết chương 1
Trong các dạng tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên manglại giá trị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp baogồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, tâmlinh và đời thường…
Vì vậy các lễ hội có khả năng thu hút khách du lịch rất lớn Nói đến các điềukiện để thu hút khách du lịch đến với các lễ hội thì ngoài những điều kiện để pháttriển du lịch, đối với loại hình du lịch lễ hội chúng ta cần phải thấy rằng: Không thểquan niệm đơn giản cứ có lễ hội rồi là chỉ cần tổ chức đưa khách đến là xong, hoặccũng không thể tuỳ tiện nghĩ phải lập kế hoạch đưa lễ hội vào các chương trình dulịch bằng cách tái diễn lại lễ hội phục vụ du khách
Về phương diện lý thuyết, du lịch là một phạm trù độc lập với lễ hội Lễ hội
là một sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh lại chính cuộcsống vật chất và tâm linh của cộng đồng xã hội Những giá trị về mặt văn hoá của lễhội chỉ được xác định trong một không gian lịch sử nhất định, đối với một cộngđồng nhất định, nếu đưa ra khỏi không gian và phạm vi cộng đồng đó, lễ hội sẽ mất
đi những giá trị vốn có của nó Lễ hội không thể “đóng gói để bán” hàng ngày cho
du khách Đối với du khách, lần đầu có thể thấy mới lạ và hấp dẫn, nhưng nếu làmnhư vậy một cách đều đặn thường xuyên thì về lâu dài du khách cũng không cònthấy hấp dẫn, hứng thú nữa Thử hình dung xem, hễ du khách đến Việt Nam thì lạiđược xem lễ hội chọi trâu, vào bất cứ thời gian nào thì sẽ trở nên nhàm chán Nhưvậy tính hấp dẫn sẽ bị làm thông dụng hoá đi, cho dù vở diễn có đặc sắc đến đâu
Khai thác tổ chức tốt các lễ hội dân gian cũng là một trong những biện pháp đểgiữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát triển du lịch bền vững trong thời kỳ hội nhập
Với ngành Du lịch, lễ hội truyền thống là một sản phẩm đặc biệt, giới thiệuvùng đất, con người, truyền văn hoá đặc sắc ở các vùng miền cho du khách trong vàngoài nước Do đó, lễ hội tự mang trong mình giá trị kinh tế đặc biệt - kinh tế dulịch văn hoá tâm linh
Trang 34Chương 2 PHỤC DỰNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1 Trường hợp lễ hội Tịch điền Đọi Sơn
2.1.1 Giới thiệu về điểm nghiên cứu
Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam là một lễ hội mang ýnghĩa khuyến nông và là nét đẹp văn hóa trở về nguồn cội Lần đầu tiên nghithức lễ tịch điền được diễn ra vào thế kỷ X ở Hà Nam, trên quê hương vua LêĐại Hành và sau nhiều năm thất truyền, được khôi phục từ năm 2009 vào mùng 7tháng giêng
Trong hàng ngàn lễ hội truyền thống khắp các vùng miền cả nước, một lễ hộimang ý nghĩa khuyến nông sâu sắc, đề cao vai trò sản xuất nông nghiệp của các bậcquân vương xưa là lễ hội Tịch Điền (có nghĩa là đích thân vua đi cày ruộng) do vua
Lê Đại Hành là người khởi xướng Trải qua hơn 1.000 năm, lễ hội này ngày nayđược tái hiện ở chân núi Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, với những sá càycùng tiếng trống khai hội xuống đồng rộn ràng những ngày đầu năm mới Điều nàycho thấy, dù ở thời đại nào, nông nghiệp, nông dân vẫn luôn là lĩnh vực được đặcbiệt coi trọng và quan tâm
Theo truyền thuyết, vua Thần Nông ở Trung Quốc là người đã chế ra cày,bừa, dạy dân làm ruộng Ông cũng là người đầu tiên đã khởi xướng ra lễ Tịch điền
Lễ Tịch điền còn gọi là lễ Hạ điền, là ngày hội lớn, khởi đầu cho một vụ mùa càybừa cấy hái Nghi lễ được tổ chức như một ngày hội Nhà vua ra khỏi Hoàng cungbằng một cỗ xe trên có chở một chiếc cày, đi đến sở Tịch điền Sau lễ cúng ThầnNông, nhà vua đích thân xuống cày 3 luống, các vương tôn cày 7 luống, công khanhcày 7 luống, sĩ phu cày 9 luống Sau đó thửa ruộng này sẽ được chăm sóc và sảnphẩm sẽ dùng để tế lễ năm sau Càng về sau, Lễ Tịch điền được tổ chức trang trọnghơn, có thêm lễ tam sanh, có lễ nhạc và những bài ca về đồng áng, có đàn tế, có lễđài cao để nhà vua quan sát quang cảnh ngày hội xuống đồng
Trang 35Lễ Tịch điền qua các triều đại Việt Nam
Lễ Tịch điền đầu tiên ở Việt Nam diễn ra vào năm 987, dưới thời vua Lê ĐạiHành Năm ấy, khi cày ruộng nhà vua đã phát hiện được một hũ vàng Năm sau(988), nhà vua cày ở thửa ruộng khác lại được một hũ bạc Vì thế mà hai thửa ruộngnày được đặt tên là "Kim ngân điền" Thực ra, số vàng, bạc ấy là do vua cho ngườichôn sẵn, nhằm khích lệ nhân dân ham cày ruộng thì có ngày sẽ “bắt được vàng” Ýnghĩa sâu xa hơn là siêng năng cày cấy là sẽ làm ra vàng bạc
Thời Lý lễ Tịch điền được tổ chức long trọng hơn và là một trong nhữngngày hội chính của đất nước Lý Thái Tông là ông vua rất chăm lo cho nền nôngnghiệp nước nhà Nhà vua đã nhiều lần đích thân xuống khởi cày Tịch điền Sử cũghi: ngày 14-10-1030 (Canh Ngọ), vua thân ra ruộng ở Điều Lộ xem gặt; ngày 1tháng 4 năm 1032 (Nhâm Thân) vua đi cày tịch điền ở Đỗ Động Giang, hôm ấy, cónhà nông dâng Vua một cây lúa 9 bông; tháng 3- 1042 (Nhâm Ngọ), vua đi càyruộng tịch điền ở Khả Lâm v.v Năm Thông Thụy thứ 5 (1038), vua Thái Tông càyruộng ở Bố Hải, sai quan lại chọn đất xây đàn cúng tế Vua làm lễ tế Thần Nông cầucho được mùa lúa tốt, không bị thiên tai làm hư hại, rồi tự cầm cày cày ruộng
Thời Trần, vua không thân hành ra làm lễ Tịch điền, mà sai quan lại đắp đàn Xã Tắc
để cúng tế Đời Hậu Lê, năm Hồng Đức thứ 15 (1484), vua Thái Tông dựng đànTiên Nông bên ngoài thành Thăng long Hàng năm, vào tháng trọng xuân, vua vàcác quan ra cúng tế Thần Nông và làm lễ Tịch điền Nhà vua đích thân cầm cày càyruộng Thời Lê-Trịnh, chúa Trịnh ra tế thay vua, rồi sai quan cày ruộng
Thời nhà Nguyễn, lễ Tịch điền được tổ chức long trọng chẳng kém gì thờinhà Lý Vua Minh Mạng đã ban dụ chỉnh đốn lại các nghi lễ cổ truyền Lễ Tịch điềnđược giao cho bộ Lễ phụ trách Ruộng Tịch điền gồm 12 mầu (60.000m2), nằm ởtrong kinh thành, ở bờ bắc Ngự Hà Ở đây có đàn Thần Nông, có đài quan canh - đểnhà vua ngự xem cày, có hệ thống nhà làm việc, nhà kho Trước lễ Tịch điền quanPhủ doãn Thừa Thiên chịu trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ cày, bừa, thóc giống và lễvật Trước đó vài ngày, các quan mời vua ra tập cày trước Sáng sớm ngày hành lễ,đám rước vua đi hành lễ đầy đủ nghi thức của hoàng đế xuất cung Phường bát âm
Trang 36luôn cử khúc nghinh xuân, tiếp giá Mở đầu lễ Tịch điền là nghi thức quán tẩy (rửatay) Tiếp theo là nghi thức hiến tửu (dâng rượu) Lễ tất, nhạc nổi lên Quan bộ Lễdẫn vua sang nhà cụ phục thay áo, đội khăn, rồi ra ruộng cày.
Vua cày xong ba luống thì trao cày cho quan Phủ doãn và quan Thượng thư
bộ Hộ Sau đó, nhà vua ngự đến đài quan canh chứng kiến các quan chức, hoàngthân cày tiếp Các hoàng thân, hoàng tử cày 10 luống, quan văn võ đại thần gồm 9người, cày 18 luống Phần còn lại dành cho các chức sắc, bô lão sở tại Mọi ngườicày xong, vua lên kiệu về cung ban yến cho các quan Mùa lúa chín, quan Phủ doãnThừa Thiên trông coi việc gặt hái cùng với một quan thuộc Bộ Hộ Lúa gặt về đượclựa giống để gieo vào lễ Tịch điền mùa sau Số còn lại được sử dụng cho tế lễ trongĐại Nội, tế giao, tế thần linh và lăng miếu Ý nghĩa của lễ Tịch điền được vua ThiệuTrị thể hiện trong bài “Thường Mậu quan canh”, nhân một lần lên đài quan canhxem các quan cày ruộng: Chót vót lầu cao giữa khoảng không/Nhìn xa quang cảnhchốn nương đồng/Ba đường dẫn lối khuyên cày cấy/Năm tháng thương người trọngviệc nông
Ngày nay, một số địa phương ở Thừa Thiên - Huế vẫn còn duy trì ngày hội rađồng đầu năm dưới nhiều hình thức, trong đó có những cuộc “hội nghị đầu bờ” dochính quyền tổ chức, được xem như là dấu ấn để lại của lễ Tịch điền ngày xưa
Đất nước thuần nông nghiệp, từ thời dựng nước đến thời kỳ độc lập các bậc
đế vương đều biết chăm lo đến nghề nông là hạnh phúc cho muôn dân Vì thế lễTịch điền còn thể hiện một chính sách khuyến nông, trọng nông, có ảnh hưởng tíchcực đến nông nghiệp và nông thôn, đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh của conngười, Lễ Tịch điền từ khi du nhập vào Việt Nam đã trở thành một truyền thống, từthời Tiền Lê kéo dài đến thời nhà Nguyễn
Sau 9 năm kháng chiến, hoà bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫu bận trămcông ngàn việc nhưng thỉnh thoảng Người vẫn có thói quen đi thăm đồng, nhổ cỏlúa, tát nước, trò chuyện với nông dân, làm nức lòng nhân dân miền Bắc Từ thập kỷ
90 thế kỷ XX, sản xuất nông nghiệp phát triển, lương thực không những đủ dùng
mà còn có dự trữ và xuất khẩu Tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn cao;
Trang 37chênh lệch giàu nghèo ở nông thôn tăng và chênh lệch thu nhập giữa thành thị vànông thôn còn lớn Thực trạng này do nhiều nguyên nhân Trong đó có nguyênnhân do năng suất lao động nông nghiệp thấp, tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâmnghiệp - thủy sản vẫn còn thấp Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 7 - khoá X - cónghị quyết riêng về vấn đề “tam nông” Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh:
“Nông nghiệp là cơ sở, nông thôn là địa bàn, nông dân là lực lượng đông đảo gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định chính trị - xã hội và bảo đảm
an ninh, quốc phòng” Từ quan điểm này cho thấy, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trước hết vẫn phải chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vànông thôn Khi một đất nước mà phi nông vẫn bất ổn thì các lễ hội khuyến nông, lễhội cầu mùa tựa như lễ Tịch điền, lễ Thượng điền, lễ tế Xã Tắc vẫn còn nguyên giátrị lịch sử và nhân văn Năm 2009, nghi lễ này chính thức được tái hiện tại Đọi Sơnthuộc tỉnh Hà Nam, với sự tham gia của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
Lễ tịch điền không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâmcủa các vị vua đối với người nông dân mà còn tuyên truyền, giáo dục các tầng lớpnhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sảnxuất nông nghiệp Bởi thế, mỗi người dân Hà Nam nói riêng, Việt Nam nói chungcần phát huy truyền thống thi đua lao động, sản xuất, phát triển kinh tế trên chínhmảnh đất quê hương mình
Lễ hội liên hoàn các nghi lễ và diễn xướng, kết hợp với văn hóa, nghệ thuật,thể thao, diễn ra trong không gian rộng từ mồng 5-7 tết âm lịch với nhiều hoạt độngnhư: rước chân nhang vua Lê Đại Hành từ đền Lăng, xã Liêm Cần, Thanh Liêm về
xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, lễ rước nước, lễ sái tịnh…
Nghi lễ chính trong toàn bộ lễ hội là lễ Tịch điền Đọi Sơn, tái hiện huyền tích
từ thời Thập đạo tướng quân Lê Hoàn khi ông nhận thấy núi Đọi có vị trí chiến lượcquan trọng đối với kinh đô Hoa Lư đến khi lên ngôi vua, Lê Đại Hành về chân núiĐọi cày ruộng để khuyến khích mở mang nông trang Lễ tịch điền được tiến hànhtheo thứ tự: vua Lê Đại Hành cày 3 sá, lãnh đạo tỉnh Hà Nam cày 5 sá, lãnh đạo
Trang 38huyện Duy Tiên cày 7 sá, lãnh đạo xã Đọi Sơn và các bô lão cày 9 sá (vấn đề nàycần đính chính).
Hội thi trang trí trâu cũng là một hoạt động khá sôi nổi trong lễ hội này Thay
vì trang trí bằng vải đỏ thời xưa, nay những chú trâu tham gia lễ tịch điền đượctrang trí bằng những nét vẽ tứ linh, tứ quý… Năm 2009 cũng là năm đầu tiên màtỉnh Hà Nam tổ chức giải đấu vật tại Đọi Sơn
Lễ hội góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời quảng bá tiềm năng
Du lịch của huyện Duy Tiên, nơi có nhiều danh thắng đẹp, có chùa Long Đọi Sơn
2.1.2 Quá trình phục dựng
Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh Nam Định thànhtỉnh Nam Hà Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh HàNam Ninh, năm 1992, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ Tháng
11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập Với vị thế của một tỉnh mới được tái lập lạinằm trong khu vực đồng bằng Sông Hồng với nghìn năm văn hiến, phía bắc tiếpgiáp với Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáptỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình, đây
là những địa phương có nền kinh tế, xã hội, tài nguyên văn hóa, thiên nhiên phongphú và nổi bật vì thế trong nhận thức của người dân cả nước không phải ai cũng biết
rõ về vị trí địa lý cũng như những tiềm năng, thế mạnh về kinh tế, du lịch… củatỉnh Mong muốn xây dựng một biểu tượng văn hóa để từ đó quảng bá hình ảnh,tiềm năng kinh tế, du lịch của tỉnh là một nhu cầu thiết thực không chỉ của lãnh đạo
mà còn của nhân dân toàn tỉnh
Nhận thấy khu di tích Đọi Sơn có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch (sôngChâu, núi Đọi, chùa Long Đọi Sơn, làng nghề làm trống Đọi Tam và đặc biệt lànhững huyền tích liên quan đến các vị vua như Lê Đại Hành và các vị vua nhà Lý),lãnh đạo tỉnh Hà Nam có ý tưởng phục dựng lễ hội Tịch điền ở đây để xây dựngmột biểu tượng văn hóa độc đáo cho Hà Nam (bởi nơi đây có sự tích vua Lê ĐạiHành làm lễ tịch điền - sự kiện được các sách sử ghi chép như là vị vua đầu tiên ởViệt Nam đã tiến hành nghi lễ này, các nơi khác cũng có nhưng không phải là đầu
Trang 39tiên) Đồng thời làm điểm nhấn để khu vực Đọi Sơn trở thành một cụm sản phẩmvăn hóa du lịch trong "tour" du lịch chùa Hương (Hà Tây cũ) - Đọi Sơn (Hà Nam) -chợ Viềng (Nam Định) - Bái Đính (Ninh Bình)
Năm 2009, đáp ứng sự mong mỏi của người dân địa phương cũng như quyếttâm của chính quyền địa phương với sự giúp đỡ của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốcgia Việt Nam, Hà Nam đã tiến hành phục dựng lễ hội Tịch điền Đọi Sơn
Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được phục dựng theo mô hình người dân thực sựtham gia lễ hội, coi là của họ chứ không phải kiểu mang lễ hội về cho người dân,biến người dân thành khán giả xem lễ hội Mô hình này phải mang lại lợi ích chocộng đồng, phải phát triển, phải gắn với du lịch thì di sản mới sống trong lòng xãhội đương đại Di sản phải hấp dẫn giới trẻ, thu hút được khách du lịch và biến lễhội của người dân trở thành cơ hội kiếm tiền cho cộng đồng [86]
Trên cơ sở lấy cộng đồng xã Đọi Sơn làm chủ thể của lễ hội (trong đó, nhândân làng Đọi Tam là hạt nhân), các nghi lễ chính đã được diễn ra theo những khuônmẫu của truyền thống (lễ cáo yết, rước nước, sái tịnh, mộc dục, tế, rước sách…)nhưng được nâng cấp với quy mô hoành tráng hơn (Số người cầm cờ: 200 người
Số người khiêng kiệu: 40 người; múa cờ: 4 người; trống, chiêng: 6 người; tàn, lọng:
6 người ; chấp kích, bát bửu: 26 người Tổng: 82 người Đội trống: 60 người Độirồng: 22 người Thôn nữ: 20 người Đội cày, phục vụ cày: 20 người Lễ tân, phụcvụ: 16 Đội lễ: 12 người Hầu đàn tế, hầu hương, đóng thế vua: 10 người Đội tế cáclàng: 70 người Ban điều hành lễ hội: 15 người Lực lượng an ninh, dân quân xã: 50người.Tổng cộng xã Đọi Sơn huy động: 597 người Tăng, ni: 50 người; Phật tử: 100người Chủ trâu, dắt trâu: 35 người) Trong 2 ngày 1 đêm, nhiều hoạt động hấp dẫncủa lễ hội đã thu hút hàng vạn khách thập phương và nhân dân địa phương tham dự
Những hoạt động đã tạo nên thương hiệu của lễ hội
- Hội thi vẽ/ trang trí trâu (ngày 6 tháng giêng): Được xem là hoạt động độcđáo (chỉ ở lễ hội tịch điền mới có) và được tổ chức theo cách thức một Fringefestival về nghệ thuật (trong khuôn khổ của lễ hội tịch điền nói chung) với sự thamgia của nhiều họa sỹ đương đại từ các miền của đất nước và nước ngoài
Trang 40Xưa, khi vua chúa thực hiện nghi lễ Tịch điền, các con trâu cày cũng đượcnghi thức hóa bằng cách trang trí vải đỏ lên lưng Nay, thay vì trang trí bằng vải, cáccon trâu tham gia nghi lễ này sẽ được các họa sỹ đương đại vẽ, trang trí hoa văn lênthân thể các con Trâu bằng các màu sác hiện đại, rực rỡ những vẫn mang tính lễnghi (bằng các hoa văn như tứ quý, tứ linh).
Chỉ riêng việc các họa sỹ thi nhau vẽ lên 30 con trâu tham gia lễ Tịch Điềnnày đã có thể trở thành một sự kiện văn hóa đương đại nổi trội- Một ngày hội lớn
Điều này chắc chắn sẽ thu hút giới báo chí- truyền hình Người dân dự hội sẽ đượcthưởng ngoạn một hiện tượng văn hóa đương đại nhưng lại trở thành một nghi tiếttrong tổng thể của lễ hội truyền thống ở Đọi Sơn Đây là một sáng tạo chưa từng cótrong tổ chức lễ hội và sự kiện ở Việt Nam Nếu ngày hội này thành công và đượcduy trì đều, nó sẽ trở thành một truyền thống mới, một điểm đến mới cho khách Dulịch trong và ngoài nước
- Lễ rước Vua, đây chính là nghi lễ diễn xướng dân gian nhằm tái hiện lạihuyền tích: Khi biết tin Vua Lê Đại hành về vùng núi Đọi cày Tịch Điền, hai anh
em nhà họ Nguyễn (Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Đạt) đã tự làm một quảtrống lớn để đón Vua Khi đón Vua, tiếng trống ấy vang rền cả một vùng như sấm
nổ Người dân Đọi Tam đã tôn Nguyễn Đức Năng làm tổ nghề và thành hoàng làng
Nghi lễ này có một vai trò rất quan trọng trong việc kết nối với nghi lễ TịchĐiền Mối liên kết này là cơ sở lịch sử để ngày nay chúng ta có thể phát triển lễ hộitruyền thống vùng Long Đọi Sơn thành một tổng thể gồm lễ hội làng Đọi Tam, lễTịch Điền và Đại lễ trên chùa Long Đọi
- Màn đốt cây bông, pháo bông (tối mùng 6 tháng giêng): thu hút hàng vạn
cư dân địa phương và du khách thập phương tham dự
- Lễ tịch điền (ngày 7 tháng giêng): Đây cũng là hoạt động độc đáo, chỉ có ở
lễ hội tịch điền, Hà Nam
Lễ Tịch Điền dưới chân núi Đọi, là nghi lễ / diễn xướng dân gian nhằm táihiện lại huyền tích: Từ thời còn là Thập Đạo tướng quân, Lê Hoàn đã nhận thấy NúiĐọi có một vị trí quân sự chiến lược quan trọng đối với kinh đô Hoa Lư lúc bấy giờ