1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH so sánh chính sách giáo dục đối với các dân tộc thiểu số vùng biên giới tỉnh lào cai việt nam và châu hồng hà tĩnh vân nam trung quốc từ năm 1991 đến nay

116 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Chính Sách Giáo Dục Đối Với Các Dân Tộc Thiểu Số Vùng Biên Giới Tỉnh Lào Cai Việt Nam Và Châu Hồng Hà Tỉnh Vân Nam Trung Quốc Từ Năm 1991 Đến Nay
Tác giả Huang He Meng
Người hướng dẫn Ts Hoàng Thế Anh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó Đảng, chính phủ, Ủy ban dân tộc, Bộ tài chính, ngân hàng trung ương và nhiều ban ngành có liên quan đã đưa ra hàng loạt các chính sách đặc biệt về vấn đề phát triển kinh tế, văn hó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60310206

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60310206

Người hướng dẫn khoa học: Ts Hoàng Thế Anh

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “So sánh chính sách giáo dục đối với các dân tộc thiểu số vùng biên giới tỉnh Lào Cai Việt Nam và châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc từ năm 1991 đến nay” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thang bảng lương cơ bản các cơ quan Nhà nước Việt nam 30

Bảng 2.2: Khung học phí giáo dục mầm non năm học 2010 – 2011 33

Bảng 2.3: Mục hỗ trợ và điều kiện 34

Bảng 2.4: Các hình thức trợ cấp sinh viên hệ trung cấp, cao đẳng và đại học 34

Bảng 2.5: Tình hình kinh phí đầu tư giáo dục tỉnh Lào Cai 6 năm gần đây 39

Bảng 2.6: Số học sinh, giáo viên và trường học các cấp tỉnh Lào Cai 2011 62

Bảng 2.7: Bảng thống kê tình hình kinh phí giáo dục huyện Kim Bình 5 năm qua 76 Bảng 3.1: Tỉ lệ ngân sách giáo dục Việt Nam trong GDP 2008-2012 86

Bảng 3.2: Bảng chi phí giáo dục của Việt Nam 5 năm gần đây (100 triệu đồng) 87

Bảng 3.3: Tỉ lệ vốn ODA đầu tư phát triển cho các lĩnh vực tại Việt Nam 91

Bảng 3.4: Tình hình chi kinh phí giáo dục cả nước năm 2011-2012 77

Bảng 3.5: Tình hình giáo dục giai đoạn trước tuổi đến trường ba huyện biên giới Châu Hồng Hà, Trung Quốc năm 2012 81

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐ-ĐH CNH-HĐH DTTS GD-ĐT GDP MTQG ODA PCGD PTDTNT THCS THPT UBND

Cao đẳng – Đại học Công nghiệp hóa – hiện đại hóa Dân tộc thiểu số

Giáo dục – Đào tạo Tổng sản phẩm quốc nội Mục tiêu quốc gia Vốn đầu tư nước ngoai Phổ cập giáo dục Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC ……….1

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề bài 4

2 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu 5

3 Mục đích của nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 10

7 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn 10

8 Bố cục luận văn 10

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT – TRUNG 12

1.1 Khái niệm cơ bản 12

1.1.1 Khái niệm dân tộc thiểu số 12

1.1.2 Phạm vi nghiên cứu 13

1.2 Mối quan hệ giữa giáo dục và quan hệ quốc tế 14

1.2.1 Khái niệm quan hệ quốc tế 14

1.2.2 Giáo dục và quan hệ quốc tế 15

1.2.3 Quốc tế hóa giáo dục 15

1.2.4 Tính quốc tế của nền giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới Việt - Trung 16 1.3 Giới thiệu tình hình chung dân tộc thiểu số khu vực biên giới hai nước Việt - Trung 19 1.3.1 Tình hình chung dân tộc thiểu số vùng nội biên giới ở Việt Nam (tỉnh Lào Cai) 19

1.3.2 Tình hình chung dân tộc thiểu số vùng nội biên giới Trung Quốc (Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam) 20

CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT - TRUNG VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN 22

2.1 Chính sách giáo dục đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam 22

2.1.1 Chính sách giáo dục của Nhà nước Việt Nam 22

2.1.2 Chính sách giáo dục đối với dân tộc thiểu số của tỉnh Lào Cai 38

2.2 Chính sách giáo dục đối với dân tộc thiểu số của Trung Quốc 41

2.2.1 Chính sách giáo dục của nhà nước Trung Quốc 41

2.2.2 Chính sách giáo dục dân tộc thiểu số khu vực biên giới châu Hồng Hà Vân Nam 55

2.3 Tình hình thực hiện chính sách giáo dục dân tộc thiểu số khu vực biên giới tỉnh Lào Cai,

Trang 7

Việt Nam 60

2.3.1 Tình hình giáo dục tỉnh Lào Cai 60

2.3.2 Những thành tựu đạt được 62

2.3.3 Những hạn chế tồn tại 65

2.3.4 Nguyên nhân………71

2.4 Tình hình thực hiện chính sách giáo dục vùng dân tộc thiểu số khu vực biên giới Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc 71

2.4.1 Tình hình giáo dục Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam 71

2.4.2 Những thành tựu chủ yếu 74

2.4.3 Những hạn chế tồn tại 77

2.4.4 Nguyên nhân………85

CHƯƠNG III: SO SÁNH VÀ RÚT KINH NGHIỆM TỪ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT – TRUNG 85

3.1 Những nét tương đồng trong chính sách và thực hiện chính sách giáo dục dân tộc thiểu số khu vực biên giới 2 nước Việt - Trung 85

3.1.1 Chính sách đầu tư cho giáo dục 85

3.1.2 Chính sách hỗ trợ giáo viên 88

3.1.3 Chính sách hỗ trợ học sinh 89

3.2 Những nét khác biệt trong chính sách và thực hiện chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt – Trung 90

3.2.1 Chính sách đầu tư cho giáo dục 90

3.2.2 Chính sách hỗ trợ giáo viên 92

3.2.3 Chính sách hỗ trợ học sinh 94

3.3 Một số kinh nghiệm rút ra được từ chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt - Trung 98

3.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 99

3.3.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 102

3.4 Kết luận và kiến nghị 104

3.4.1.Tăng cường hợp tác giáo dục vùng biên giới Việt- Trung 104

3.4.2 Cọi trọng chiến lược và cách giải quyết các vấn đề phát sinh trong phát triển giáo dục tại khu vực biên giới Việt – Trung 105

3.4.3 Tăng cường đầu tư bồi dưỡng nhân tài nâng cao trình độ người dân vùng biên giới 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

Khu vực biên giới Việt – Trung là nơi định cư tập trung của rất nhiều dân tộc thiểu

số, sự phát triển giáo dục tại vùng dân tộc biên giới không chỉ liên quan đến sự phát triển kinh tế, xã hội nơi đây mà còn ảnh hưởng đến sự nghiệp giáo dục cả nước

Từ những năm 80 của thế kỉ 20 trở lại đây, Đảng và chính phủ Việt Nam nhận thấy các vấn đề biên giới và hoạt động của các dân tộc đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và ổn định của quốc gia Đồng thời, trong thời đại kinh tế tri thức, giáo dục chính là động lực to lớn thúc đẩy kinh tế phát triển Do đó Đảng, chính phủ, Ủy ban dân tộc, Bộ tài chính, ngân hàng trung ương và nhiều ban ngành có liên quan đã đưa ra hàng loạt các chính sách đặc biệt về vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho các dân tộc thiểu số khu vực biên giới, chú trọng phát triển giáo dục, coi giáo dục là “ quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển kinh tế cho nước nhà”, đồng thời không ngừng tăng cường đầu tư phát triển giáo dục tại vùng biên giới, nỗ lực cải thiện nền giáo dục cơ bản và phát triển nguồn nhân lực, lần lượt đưa ra nhiều dự án quan trọng như: chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển các đề án kinh tế - xã hội đối với vùng nông thôn đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu vùng xa1, đưa ra các chính sách xây dựng đất canh tác, trồng trọt, đất ở, nhà ở và các công trình cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc thiểu số khó khăn2, xây dựng các chương trình xóa đói giảm nghèo cho 64 huyện khó khăn, nhanh chóng và củng cố các phương châm kiến thiết cho 62 huyện nghèo cấp quốc gia3, đề án phát triển giáo dục cho các dân tộc thiểu số tại vùng biên giới Trước mắt, các chính sách này đã mang lại được nhiều kết quả rõ rệt

Trung Quốc đã liên tiếp đưa ra hàng loạt các chương trình quan trọng như: biên giới phát triển – nhân dân giàu mạnh, xây dựng và phát triển vùng Tây Bộ, các dự án an

cư, “hai miễn một bổ” 4, “ba miễn phí”5, “bữa ăn dinh dưỡng”, giáo dục tại nơi biên giới

Đồng thời tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực biên giới, các chính sách và

1

Quyết định số 135/1998/QD-TTG của Thủ tướng Chính Phủ, gọi tắt là “Kế hoạch 135”

2

Quyết định số 134/1998/QD-TTG của Thủ tướng Chính Phủ, gọi tắt là “Kế hoạch 134”

3 Quyết định số 30A năm 2008 của Chính Phủ Việt Nam

4

Năm 2005, chính phủ Trung Quốc đưa ra chính sách “hai miễn một bổ” , đồng thời thi hành chính sách ở 592 huyện nghèo trên toàn quốc Trong đó “hai miễn” là miễn học phí, miễn phí sách giáo khoa, “một bổ” là bổ cấp phí sinh hoạt cho những học sinh ở kí túc xá

Trang 9

hành động cụ thể này đã cải thiện tình hình vùng biên giới, giúp nền giáo dục nơi đây giành được nhiều thành tựu đột phá, giúp học sinh của các dân tộc thiểu số từ việc “có nơi để học” đến có thể “học tập tốt” Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan như lịch sử, vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên nên trình độ phát triển nơi đây vẫn còn yếu kém, trình độ giáo dục lạc hậu và có sự chênh lệch khá lớn so với miền xuôi

Qua kết quả của việc thực hiện các chính sách hỗ trợ 134, 135… có thể thấy, Việt Nam tuy là quốc gia đang phát triển, GDP thấp, nhưng những chính sách được đưa ra và

áp dụng với khu vực vùng biên lại thu được nhiều hiệu quả tích cực, trong đó, các chính sách cải cách và phát triển giáo dục ở các dân tộc thiểu số cũng gặt hái được vô số thành công Trung Quốc cũng rất coi trọng việc phát triển giáo dục, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra rất nhiều chính sách thiết thực đối với vùng biên giới và các dân tộc thiểu số Tuy nhiên, dường như sự nỗ lực cùng các chính sách này vẫn chưa toàn diện nên không đạt hiệu quả cao như các chính sách của Việt Nam, chưa tương xứng với sức mạnh của Trung Quốc

Luận văn dựa trên các chính sách giáo dục vùng biên hai nước6 (tỉnh Lào Cai và châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam) kể từ sau khi bình thường hóa mối quan hệ Việt – Trung

Nếu so sánh một cách hệ thống về chính sách giáo dục của hai nước về các vấn đề như:

đầu tư kinh phí, phân bố trường điểm, tuyển sinh dạy nghề, xây dựng đội ngũ giáo viên, miễn giảm học phí, trợ cấp về kinh tế, thực trạng giáo dục, sự thiết thực của các chính sách và hiệu quả thu được, đồng thời tiến hành phân tích các vần đề còn tồn tại cùng sự ảnh hưởng của nó, ta thấy hai nước đã có hướng đi nhất định, biết học hỏi những mặt mạnh của nhau, đồng thời hỗ trợ và bổ sung những khiếm khuyết trong sự nghiệp phát triển giáo dục cho các dân tộc thiểu số tại vùng biên giới Việt – Trung Các chính sách này có ý nghĩa sâu sắc và thiết thực cho sự phát triển giáo dục hai nước sau này

1 Lí do chọn đề bài

Như chúng ta đều biết, mỗi quốc gia đều coi trọng phát triển giáo dục, coi giao dục

là “quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển kinh tế” Đặc biệt tại

6 Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới chung trên đất liền dài khoảng 1.350km Các tỉnh thành Việt Nam có đường biên giới với Trung Quốc là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Các tỉnh thành Trung Quốc

có đường biên giới với Việt Nam là Quảng Tây (Phòng Thành Cảng, Ninh Minh, Bằng Tường, Long Châu, Đại Tân, Tĩnh Tây,

Na Pa), Vân Nam (Phú Ninh, Ma Lật Pha, Mã Quan, Hà Khẩu, Kim Bình, Lục Xuân, Giang Thành) Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là Châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc và tỉnh Lào Cai Việt Nam

Trang 10

biên giới – phát triển giáo dục cho các dân tộc thiểu số vùng biên giới có thể tăng thêm

sự ủng hộ và tín nhiệm của các dân tộc thiểu số nơi đây với chính quyền và nhà nước, củng cố và đẩy mạnh hơn nữa sự ổn định và phát triển xã hội vùng biên, tạo điều kiện cho kinh tế, xã hội phát triển, đảm bảo cho việc cải cách đổi mới được tiến hành thuận lợi

Ngược lại, khi kinh tế xã hội được phát triển, dân trí tăng lên, sự nghiệp giáo dục sẽ được quan tâm đầu tư hơn nữa, từ đó toàn xã hội sẽ có trình độ cao, cũng tạo ra một xã hội hài hòa

Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc luôn coi sự nghiệp phát triển giáo dục là con đường quan trọng để giải quyết các vấn đề trong nước, thực hiện phát triển đồng đều giữa các dân tộc, củng cố sự ổn định và phát triển khu vực biên giới; đồng thời áp dụng hàng loạt các chính sách để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Tuy nhiên do những khác biệt về chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội nên các chính sách, quá trình thực hiện các chính sách và phương pháp cơ bản về giáo dục của hai nước vẫn có sự khác biệt

Luận văn này tiến hành so sánh một cách hệ thống các chính sách giáo dục vùng biên giới của Việt Nam và Trung Quốc, với mục đích nhằm nâng cao sự bình đẳng giáo dục

và đa dạng hóa các nghiên cứu của hai nước, đồng thời tổng kết kinh nghiệm, đưa ra các chính sách liên quan nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục cho các dân tộc thiểu số vùng biên giới phát triển

2 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu

Để xã hội phát triển, kinh tế phồn thịnh thì giáo dục phải đi đầu Sự phát triển kinh tế,

xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số cũng như đa số đều không thể tách rời sự phát triển của giáo dục Từ những năm 90 của thế kỉ 20 trở lại đây, cùng với việc chính phủ Trung Quốc chú trọng sự phát triển kinh tế, xã hội vùng biên thì sự nghiệp giáo dục tại vùng biên giới cũng phát triển một cách nhanh chóng Trung Quốc đang từng bước mở rộng

và tiến hành nghiên cứu sâu hơn về tình hình giáo dục vùng biên, đã lần lượt cho xuất bản các cuốn sách như “Giáo dục dân tộc khu vực biên giới Trung Quốc” (Nhà xuất bản dân tộc Trung Ương, xuấn bản năm 1990), “Nghiên cứu về việc phát triển, ủng hộ các đối thoại giáo dục vùng biên giới Đông Bộ - Tây Bộ” (Nhà xuất bản đại học sư phạm

Trang 11

Quảng Tây, xuất bản năm 2006), “Nghiên cứu các chính sách giáo dục dân tộc cho xã hội Trung Quốc mới” (Nhà xuất bản khoa học Bắc Kinh, xuất bản năm 2010”, “Quan tâm giáo dục vùng biên – nghiên cứu phát triển về sự đặc sắc và chất lượng giáo dục vùng biên giới tỉnh Quảng Tây” (Nhà xuất bản nhân dân, xuất bản năm 2011), “Báo cáo điều tra các chính sách có liên quan đến khu vực biên giới hai nước Việt – Trung” (Ủy ban hành chính tôn giáo dân tộc châu Hồng Hà, xuất bản năm 2008)… Các cuốn sách viết về nhiều phương diện khác nhau, nhưng về cơ bản đều giới thiệu quy luật phát triển

và các đặc điểm của sự nghiệp giáo dục cơ sở vùng biên

Trong cuốn “Quan tâm giáo dục vùng biên – nghiên cứu phát triển về sự đặc sắc và chất lượng giáo dục vùng biên giới tỉnh Quảng Tây”, tác giả còn tiến hành so sánh một cách tổng quát các chính sách giáo dục tại biên giới hai nước Việt Nam và Trung Quốc, tác giả cho rằng, sự nghiệp giáo dục các dân tộc thiểu số thuộc vùng biên giới Việt Nam phát triển tương đối toàn diện, chú trọng cải thiện nền giáo dục cơ bản và xây dựng cơ sở

hạ tầng vùng biên, đồng thời cũng hết sức quan tâm đến vấn đề đãi ngộ cho các thầy cô nơi đây, dọc tuyến đường biên giới Việt – Trung, đãi ngộ của chính phủ Việt Nam dành cho giáo viên cao hơn so với Trung Quốc Trong quá trinh xuất bản các cuốn sách, các bài luận văn cũng lần lượt được công bố, như luận văn “Thực trạng và tương lai của giáo dục Việt Nam” của Dư Phú Triệu (bước chân Đông Nam Á; tháng 9 năm 2002), “Chính sách giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới” của Âu Dĩ Khắc (nghiên cứu giáo dục dân tộc; tháng 3 năm 2005), “So sánh chính sách giáo dục vùng biên hai nước Việt Trung dưới góc nhìn giáo dục học” của Lưu Côn và Dư Minh Hoàn (học báo học viện sư phạm Khúc Tĩnh), “Chính sách thúc đẩy phát triển giáo dục vùng biên và những gợi ý cho Trung Quốc” của Hoàng Vĩ Sinh (Diễn đàn học thuật, tháng 11 năm 2008), “Các chính sách về dân tộc vùng biên giới Việt – Trung của Việt nam sau thời kì đổi mới và ảnh hưởng của nó với Trung Quốc” của Vương Khổng Kính (Nghiên cứu Đông Nam Á;

tháng 4 năm 2007); “Nghiên cứu về các vấn đề phát triển của chính sách giáo dục đối với các dân tộc thiểu số Trung Quốc mới” của Hứa Khả Phong, “Tình hình thực hiện các chính sách dân tộc từ sau cải cách đổi mới” của Lí Bích Hoa (Bước chân Đông Nam Á;

tháng 11 năm 2009), “Tình hình phát triển giáo dục của các trường tiểu học, trung học ở dân tộc Dao của Việt Nam và những gợi ý” của Hồ Mục Quân (“Nghiên cứu giáo dục

Trang 12

nước ngoài”, tháng 3 năm 2011)

Ở Việt Nam, Nhà nước luôn đặt sự nghiệp giáo dục và các vấn đề phát triển của các dân tộc thiểu số lên hàng đầu, đồng thời đây cũng là vấn đề nóng thu hút các chuyên gia

và học giả Từ năm 1991 trở lại đây, hai nước bình thường hóa mối quan hệ và giành được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp giáo dục, thúc đẩy kinh tế hai nước phát triển nhanh chóng, đồng thời, Việt Nam và Trung Quốc đều hết sức coi trọng vấn đề dân tộc Vì thế, đông đảo các chuyên gia và học giả Việt nam đã tiến hành so sánh một cách

hệ thống nền giáo dục Việt Nam và Trung Quốc Ông Nguyễn Văn Ngữ - Vụ trưởng Vụ

Kế hoạch – Tài chính bộ GD – ĐT trong bài diễn văn “Sự quan tâm của chính Phủ và quốc hội Việt Nam đối với sự nghiệp Giáo Dục và Đào Tạo” đã trình bày một cách khái quát những chính sách giáo dục của Việt Nam từ việc tiến hành cải cách giáo dục đến việc thực hiện chế độ miễn giảm học phí, chế độ học bổng, chế độ đại ngộ giáo viên…, dùng để nâng cao mức đãi ngộ cho giáo viên, giải quyết cho con em của các gia đình khó khăn, gia đình dân tộc thiểu số và gia đình thuộc vùng kinh tế khó khăn có công ăn việc làm, được đi học

Ngoài ra, Ủy ban giáo dục khoa học Trung Ương Việt Nam cũng cho xuất bản các cuốn sách mang tính chất nghiên cứu một cách sâu rộng, có hệ thống về tình hình giáo dục Việt Nam và các chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số như: “Giáo dục Việt nam thời kì đổi mới: chủ trương, chính sách và đánh giá” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia Việt Nam năm 2002), “Kỉ yếu đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2011), “Thúc đẩy xã hội hóa giáo dục, y tế Việt Nam” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia Việt nam năm 2010) của phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Minh Phương, “Phát triển nguồn tài nguyên nhân lực tại khu vực các dân tộc thiểu số Việt Nam – những yêu cầu ảnh hưởng đến việc thúc đẩy đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2012) của tiến sĩ Nguyễn Đăng Thành, “Phân chia công bằng là cơ sở cho phát triển lâu dài” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2012) của tiến sĩ Bùi Đại Dũng, hay giáo sư, tiến sĩ Hoàng Chí Bảo chủ biên cuốn “Đảm bảo sự bình đẳng dân tộc và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2009), Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Thành Nghĩa chủ biên cuốn “Đối sách phát triển khu vực dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc” (Nhà xuất bản chính

Trang 13

trị quốc gia tháng 9 năm 2010) và cuốn “Hiện trạng vùng đồng bào các dân tộc thiểu số

và đối sách” (Nhà xuất bản chính trị quốc gia)

Các nghiên cứu về chính sách giáo dục cho dân tộc thiểu số cùng biên giới của các chuyên gia và học giả Việt Nam chủ yếu tập trung vào: thứ nhất là tiến hành phân tích các văn kiện giáo dục có liên quan đến chế độ của nhà nước Việt Nam, đồng thời phân tích hiệu quả của việc thực hiện các chính sách và phương hướng phát triển trong tương lai; thứ hai là giới thiệu các kinh nghiệm và bài học về giáo dục cho các dân tộc thiểu số của nước ngoài, bên cạnh đó, học hỏi kinh nghiệm của ngước ngoài để tiến hành thảo luận về các chính sách được áp dụng tại Việt Nam; thứ ba, sau khi các chính sách giáo dục cho đồng bào các dân tộc thiểu số được thực hiện đã xuất hiện những mâu thuẫn và vấn đề cần phải giải quyết và đưa ra các đề xuất

Thành quả của các nghiên cứu trước đây rất có giá trị, tuy nhiên, việc tiến hành nghiên cứu đối chiếu các chính sách giáo dục cho dân tộc thiểu số tại vùng biên của hai nước vẫn chưa thật sâu sắc về cả chiều sâu lẫn chiều rộng, những vẫn đề về sự ảnh hưởng của việc so sánh các chính sách giáo dục cơ sở của hai nước hay chính sách giáo dục cao cấp, chính sách giáo dục nghề nghiệp và nhiều chính sách giáo dục khác mang lại đều cần phải được đưa ra nghiên cứu, thảo luận sâu hơn nữa

3 Mục đích của nghiên cứu

Các chính sách giáo dục cho dân tộc thiểu số tại vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm giống và khác nhau và có thể trở thành đề tài cho các nghiên cứu đối chiếu Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu đối chiếu này vẫn chưa toàn diện Chủ yếu bàn về chính sách giáo dục cơ sở, chính sách xây dựng tài nguyên sư phạm, chính sách bồi dưỡng nhân tài của hai nước trên một mức dộ nhất định, đồng thời cũng thảo luận đến những ảnh hưởng mà các chính sách này mang lại Tuy các nghiên cứu vẫn còn hạn chế nhưng không gian nghiên cứu lại vô cùng rộng lớn Bên cạnh đó, quá trình đối chiếu cũng phát hiện ra rằng, hiện nay, phương hướng chỉ đạo trong các chính sách giáo dục tại vùng biên của Trung Quốc tồn tại rất nhiều vấn đề, nhiều chính sách đãi ngộ lạc hậu hơn

so với Việt Nam

Do đó, tôi quyết định lấy “Nghiên cứu so sánh về các chính sách giáo dục đối với cá

Trang 14

dân tộc thiểu số vùng biên giới hai nước Việt Trung” làm tiêu đề cho luận văn thạc sĩ

Mong rằng cùng những nghiên cứu trước đây, luận văn này có thể đóng góp thêm vào công trình nghiên cứu về chính sách giáo dục vùng biên, mở rộng hơn nữa các kiến thức

về hai nước Việt Nam, Trung Quốc, đồng thời chung tay xây dựng mối quan hệ giao lưu văn hóa, hợp tác giáo dục quốc tế và phát triển sự nghiệp giáo dục cho các dân tộc thiểu

số vùng biên giới hai nước Việt – Trung, học hỏi những thành công và kinh nghiệm để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển hơn nữa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chính sách giáo dục và đào tạo là chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất, năng lực cho mỗi người dân (cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khoẻ và nghề nghiệp) Chính sách giáo dục bao gồm các chính sách về cơ sở hạ tầng, chính sách khuyến học, chính sách đầu tư….tuy nhiên luận văn này tập trung nghiên cứu đối chiếu các chính sách giáo dục đối với dân tộc vùng biên giới Việt Trung, đặc biệt là ba nội dung: các chính sách đầu tư cho giáo dục, các chính sách hỗ trợ cho giáo viên và các chính sách hỗ trợ cho học sinh

Về mặt thời gian, thời gian bắt đầu của nghiên cứu này từ năm 1991, sau khi hai nước Việt Nam – Trung Quốc bình thường hóa quan hệ Nghiên cứu này chủ yếu tiến hành so sánh các chính sách và thể chế giáo dục cho các dân tộc thiểu số vùng biên giới châu Hồng Hà của Trung Quốc và tỉnh Lào Cai của Việt Nam, đồng thời, đối tượng nghiên cứu bao gồm các dân tộc thiểu số cùng biên giới và chính sách giáo dục

5 Phương pháp nghiên cứu

Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu so sánh Những điểm giống và khác nhau trong

các chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới hai nước Việt Trung

Thứ hai, phương pháp điều tra thực địa Đến thực địa (khu vực biên giới) điều tra 2

lần, thu thập được các tài liệu giáo dục có liên quan

Thứ ba, phương pháp nghiên cứu tài liệu Chủ yếu tìm kiếm các tài liệu có liên quan

đến văn hiến, bao gồm các tác phẩm, luận văn, tài liệu báo, kho dữ liệu, thông kê niên giám, tài liệu trên mạng và nhiều tài liệu nghiên cứu khác; tiến hành phân tích một cách

Trang 15

toàn diện, có hệ thống tất cả các tài liệu có liên quan, tìm hiểu khái quát tình hình của các nghiên cứu cùng loại ở nước ngoài, thu thập những tin tức có giá trị, trong qua trình tham khảo có đưa ra các ý kiến cá nhân

Thứ tư, vận dụng các lí luận về dân tộc học, quốc tế học, so sánh chính trị học, chính

trị học địa duyên trong mối quan hệ quốc tế để tiến hành phân tích các số liệu và tư liệu

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Nhiệm vụ chủ yếu của luận văn nghiên cứu này là: phân tích chế độ giáo dục và các chính sách giáo dục hai nước Việt – Trung, chính sách giáo dục các dân tộc thiểu số khu vực biên giới hai nước Việt – Trung bao gồm tình hình các dân tộc thiểu số và tình hình giáo dục cho các dân tộc thiểu số Cuối cùng, tiến hành phân tích đối chiếu dựa trên nhiều yếu tố như thành phần của chính sách giáo dục dân tộc, hạn chế của các chính sách, điều kiện giáo dục…, đồng thời thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và sự phồn thịnh của các dân tộc thiểu số phát triển

Cống hiến của luận văn: Việt Nam và Trung Quốc đều là những nước đa dân tộc, xử

lí tốt vấn đề giáo dục dân tộc tại vùng biên giới có lợi cho tinh thần đoàn kết toàn, sự ổn định biên giới, thúc đẩy kinh tế phát triển và nuôi dưỡng, đào tạo nhân tài

7 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn

Thông qua những nghiên cứu về chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Trung, ta thấy được những nét khác biệt và tương đồng trong nền giáo dục hai nước, đồng thời nâng cao nhận thức về giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên, từ đó, đưa ra những đối sách phù hợp với sự phát triển của giáo dục nơi đây, nâng cao tố chất của các dân tộc thiểu số vùng biên giới một cách toàn diện, đưa sự nghiệp giáo dục vùng biên của hai nước phát triển nhanh chóng, tích cực và lành mạnh Từ đó, thúc đầu kinh tế biên giới phát triển, mang lại sự ấm no, hạnh phúc cho người dân nơi đây

8 Bố cục luận văn

Luận văn gồm 3 chương

Trang 16

Chương 1 chủ yếu tiến hành phân tích các nội dung như: các khái niệm nghiên cứu

cơ bản, mối quan hệ giáo dục và quốc tế, tình hình cơ bản của các dân tộc thiểu số vùng

biên giới Việt – Trung

Chương 2 đặt ra các cơ sở lí luận về chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Trung, phân tích những chính sách giáo dục của địa phương và quốc gia được thực hiện tại vùng biên, trên cơ sở đó, tiến hành chứng minh thực tế, trình bày việc thực hiện các chính sách giáo dục tại biên giới, phân tích vấn đề tồn tại, cuối cùng tiến nghiên cứu đối chiếu hệ thống giáo dục hai nước

Chương 3, trên những cơ sở nghiên cứu đó thấy được sự ảnh hưởng tương quan của các chính sách giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt nam và Trung Quốc Từ đó, hai bên cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc hợp tác và giao lưu giáo dục, tiếp tục đưa ra những ý kiến và kết luận, củng cố, phát triển giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc

Trang 17

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC DÂN

TỘC THIỂU SỐ Ở VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT – TRUNG

1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm dân tộc thiểu số

1.1.1.1 Khái niệm dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Căn cứ theo quy định nghị quyết của chính phủ ban hành về công tác dân tộc thiểu

3, “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người

4, “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

5, “Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt” là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau:

a) Tỷ lệ hộ nghèo trong thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước

b) Các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khoẻ cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước

c) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư

1.1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc

Dân tộc thiểu số là chỉ dân tộc nằm ngoài các dân tộc có dân số đông nhất trong một quốc gia đa dân tộc Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, sau khi thành lập nước

7

Điều 4 nghị quyết số 05/ 2011/ NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 1 năm 2011 về công tác dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam

Trang 18

Trung Quốc mới năm 1949, thông qua xác định và kiểm duyệt của chính phủ Trung Ương, Trung Quốc có tổng cộng 56 dân tộc, ngoài dân tộc Hán ra, 55 dân tộc còn lại đều được coi là “ Dân tộc thiểu số”

Dân tộc thiểu số dưới sự bảo lãnh của hiến pháp và pháp luật quốc gia, được trao quyền lợi và bảo hộ đặc biệt về các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, chính trị Như khu dân tộc

tự trị, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, tự do sử dụng và phát triển văn tự ngôn ngữ dân tộc, giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế văn hóa, tôn trọng phong tục tập quán

và tự do tín ngưỡng tôn giáo của các vùng dân tộc thiểu số, v v Tính đến cuối năm 2008,

cả nước đã thành lập tổng cộng 155 khu dân tộc tự trị, bao gồm 5 khu tự trị, 30 châu tự trị,

120 huyện tự trị Theo điều tra dân số toàn quốc lần thứ 5 năm 2000, trong số 55 dân tộc thiểu số, có tới 44 nơi thành lập khu tự trị, lượng dân số khu vực dân tộc thiểu số thuộc thực thi khu vực tự trị chiếm tới 71% tổng dân số ở các khu vực dân tộc thiểu số, diện tích các khu tự trị này chiếm tới 64% tổng diện tích đất cả nước, ngoài ra, Trung Quốc cũng thành lập hơn 1100 các xã dân tộc8

1.1.1.3 Phân biệt vùng dân tộc trọng điểm Việt Nam và Châu tự trị dân tộc

Trung Quốc

Theo Điều 4 nghị quyết số 05/ 2011/ NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 1 năm 2011 về công tác dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam, vùng dân tộc trọng điểm của Việt Nam bao gồm khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, và Tây Nam Bộ Trong đó khu vực Tây Bắc Việt Nam bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang và tỉnh Thanh Hóa và một vài vùng nông thôn ở phía Tây

Châu tự trị ở Trung Quốc là các đơn vị hành chính cấp địa khu (thấp hơn tỉnh, lớn hơn huyện) nơi mà các sắc tộc thiểu số ở Trung Quốc được hưởng những quyền tự trị nhất định Hiện Trung Quốc có 30 châu tự trị như vậy nằm trong 9 tỉnh và khu tự trị

Luận văn này sẽ tiến hành nghiên cứu so sánh tỉnh Lào Cai Việt Nam thuộc vùng dân tộc thiểu số trọng điểm khu vực Tây Bắc và châu tự trị dân tộc thiểu số Hồng Hà

8

Theo thông tin từ văn phòng Quốc Vụ Viện Trung Quốc Các dân tộc cùng các chính sách dân tộc Trung Quốc cùng phát triển

Trang 19

thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

1.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Khu vực biên giới quốc gia là bộ phận của lãnh thổ quốc gia tiếp giáp biên giới quốc gia Điều 8 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

- Phạm vi khu vực biên giới trên đất liền tính từ biên giới quốc gia trên đất liền vào hết địa giới hành chính của xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền…

- Danh sách các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới trên đất liền, khu vực biên giới trên biển được quy định tại các nghị định của Chính phủ ban hành quy chế khu vực biên giới; trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

Trung Quốc Việt Nam hai nước núi liên núi, sông liền sông, phong tục tập quán gần gũi có nhiều nét tương đồng, biên giới lục địa dài hơn 1300km Khu vực tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và Vân Nam giáp với 7 tỉnh của Việt Nam : Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh Tỉnh Vân Nam giáp với Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang và Điện Biên

Phạm vi nghiên cứu của luận văn này sẽ giới hạn trong khu vực biên giới thuộc tỉnh Lào Cai, Việt Nam và khu vực biên giới thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

1.2 Mối quan hệ giữa giáo dục và quan hệ quốc tế

1.2.1 Khái niệm quan hệ quốc tế

Quan hệ quốc tế9 là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, tư tưởng, luật pháp, ngoại giao, quân sự giữa những quốc gia và hệ thống quốc gia với nhau, giữa các giai cấp chính, các lực lượng tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị chủ yếu hoạt động trên

Trang 20

trường quốc tế10 Cùng với sự phát triển chính trị quốc tế và lí luận quan hệ quốc tế, thì quan hệ văn hóa quốc tế đã độc lập trở thành “ trụ cột thứ tư” sau mối quan hệ quốc tế chuyển tiếp chính trị, kinh tế, quân sự, chính trị học quốc tế đã trở thành “ lực lượng văn hóa”

1.2.2 Giáo dục và quan hệ quốc tế

Giáo dục và quan hệ quốc tế, nghĩa là chỉ mối quan hệ tương tác, gắn bó mật thiết giữa nền giáo dục của một quốc gia có chủ quyền với sự tồn tại của chính trị, kinh tế và văn hóa Một mặt, quan hệ quốc tế có ảnh hưởng lâu bền, sâu sắc tới độ rộng và độ sâu của sự phát triển giáo dục quốc tế của nước nhà, một mặt khác, sự phát triển giáo dục quốc tế của một nước là một bộ phận của quan hệ quốc tế, tóm lại là phản ánh và phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích quốc gia của các nước là nhân tố căn bản của quan hệ quốc tế quyết định nền giáo dục, nó là một góc nhìn của sự quan sát và nhận thức quan hệ quốc

tế

Do đặc trưng mang tính ổn định, tính quy phạm của giáo dục, mà do đó thông qua sự giao lưu, mở rộng và hợp tác trong giáo dục quốc tế là một phương thức cơ bản để làm cho nền văn hóa của một nước được kéo dài Luôn luôn trở thành một trong những thành phần chủ chốt của quốc gia trong nhiệm vụ đối ngoại văn hóa, đồng thời cũng vì sự phát triển của đất nước mà quan hệ quốc tế sẽ phát huy một vai trò to lớn

1.2.3 Quốc tế hóa giáo dục

Cùng với sự phát triển kĩ thuật của công nghệ mạng, thường xuyên giao lưu học hỏi lẫn nhau của nên văn hóa đa nguyên, dưới sự phát triển của nền toàn cầu hóa mới, đã khiến cho sự hợp tác và giao lưu giáo dục giữa các quốc gia đã từng bước lớn mạnh

Muốn cho nền giáo dục các nước phát triển nhất thiết phải gia nhập vào hệ thống thế giới

để tìm ra bước phát triển nhanh nhất, quốc tế hóa giáo dục đã trở thành lựa chọn tất yếu cho sự phát triển giáo dục các nước

Bất kì một nền giáo dục nào nếu muốn tồn tại trong môi trường toàn cầu hóa thì nhất thiết phải gia nhập vào sự phát triển giáo dục quốc tế thế giới Chiến lược phát triển toàn

Trang 21

bộ thực hành vận động nền giáo dục này trong hệ thống thế giới đã trở thành một phạm

vi, mức độ ảnh hưởng tới nền giáo dục một nước ra ngoài thế giới Cơ cấu của hệ thống thế giới cũng sẽ phát huy tác dụng, sự phát triển hợp tác và giao lưu giữa những nền giáo dục của các quốc gia với nhau cũng sẽ làm xuất hiện khoảng cách chênh lệch lớn và sự không đồng đều trong phát triển, từ đó hình thành nên những mô hình phát triển khác nhau trong công cuộc quốc tế hóa giáo dục

1.2.4 Tính quốc tế của nền giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới Việt

- Trung

1.2.4.1 Các khu vực liền kề với các nước làng giềng

Ở luận văn này, giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới hai nước Việt - Trung

là chỉ nền giáo dục ở các khu vực gần địa phận Châu Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc

và khu vực tỉnh Lào Cai, Việt Nam Các địa phận liền kề với các nước láng giềng này chính là điều kiện địa lí chủ yếu để tạo nên tính quốc tế cho nên giáo dục dân tộc thiểu số vùng biên giới

Châu Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc tiếp giáp với tỉnh Lào Cai, Việt Nam, huyện Mường Khương, huyện Bát Xát, Châu Hồng Hà trở thành nơi tập trung của các dân tộc thiểu số, huyện Mường khương, huyện Bát Xát là 2 trong số 6211 huyện khó khăn của Việt Nam thuộc vào đường biên giới của khu vực tập trung dân tộc thiểu số Tỉnh Lào Cai, Việt Nam và Châu Hồng Hà Trung Quốc sông núi liền kề, đất đai tiếp giáp, đường

xá tương thông, đã trở thành điều kiện địa lý vô cùng thuận lợi cho giao lưu kinh tế mậu dịch, văn hóa giáo dục của hai nước

1.2.4.2 Quan hệ các tộc người xuyên biên giới Việt – Trung

Những năm gần đây, giới nghiên cứu dân tộc học hai nước đều thể hiện sự quan tâm của mình đối với vấn đề quan trọng này, thậm chí có thể coi đó là vấn đề mấu chốt của tính hiện đại trong nghiên cứu Chúng ta đều biết các tác phẩm có giá trị gần đây của phía học giả Trung Quốc như Fan Hong Gui (1999 - 2005), Chou Jian Xin (2001), Lou Xian You (2009)…Phía các học giả Việt Nam là những công trình của Viện Dân tộc học,

11

Theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP

Trang 22

của các trường đại học, trong đó đặc biệt là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Dù có những điểm khác nhau, nhưng cái nhìn của họ đều nhấn mạnh rằng, các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt – Trung có một “thuộc tính lịch sử” là các “dân tộc vùng biên giới” Điều quan trọng là phần lớn các dân tộc thiểu số của cả hai nước đều có những mối quan hệ khá sâu sắc về lịch sử, văn hóa (kể cả nguồn gốc tộc người) Khi nói đến người Zhuang vùng biên giới Quảng Tây Trung Quốc, đều có thể nghĩ ngay đến những anh em đồng tộc là người Tày, Nùng ở Việt Nam và ngược lại

Hiện nay, chúng ta đã có thể có một danh mục các tộc người xuyên biên giới Việt – Trung, chẳng hạn theo tiêu chí phân loại các nhóm ngôn ngữ và nhóm tộc người như sau:

Với 6 nhóm ngôn ngữ chủ yếu như Mon – Khmer, người ta có thể tìm thấy mối liên hệ tộc người xuyên biên giới của người Kinh (Việt Nam) với người Jing (Trung Quốc) hoặc người Khmu (Việt Nam) với nhóm Kemu (Trung Quốc) Tương tự như vậy, với nhóm ngôn ngữ Hmong – Yao là người Hmong (Việt Nam) với người Miao (Trung Quốc), Dao (Việt Nam) với Yao (Trung Quốc); với nhóm Tạng Miến là người Hà Nhì (Việt Nam) với người Hani (Trung Quốc); nhóm Tày Thái là người Tày, Nùng (Việt Nam) với người Zhuang (Trung Quốc) hoặc người Thái (Việt Nam) với người Dai (Trung Quốc)…

Mặc dù quan điểm về đường biên giới quốc gia có thể rất khác nhau nhưng chúng ta vẫn có thể nói rằng, đường biên giới quốc gia, trước hết là một khái niệm chính trị, nhà nước, thậm chí là chủ quyền của dân tộc, lại thường không trùng khít với biên giới văn hóa và tộc người Và các tộc người xuyên quốc gia bất cứ trong hoàn cảnh nào vẫn chia

sẻ gìn giữ nhiều đặc điểm tương đồng và không ít những khác biệt, tạo nên tính đa dạng sinh động về văn hóa tộc người khu vực biên giới

1.2.4.3.Giao thoa văn hóa giáo dục

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, “Giao thoa văn hóa” là khái niệm chỉ sự “móc ngoặc”, “móc nối” giữa hai hay nhiều nền văn hóa, để chuyển biến nền văn hóa bản địa

do sự tương tác giữa hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh Giao lưu văn hoá là nhu cầu tất yếu và tồn tại khách quan trong đời sống các tộc người, ở mọi khu vực và mọi quốc gia

Trang 23

Khi nói đến giao lưu văn hoá các tộc người ở vùng biên giới không thể không nói đến sự tác động từ vạch phân biên giới được xác định bởi ý chí và chủ quyền quốc gia nhưng một mặt khác sự giao lưu văn hoá tộc người lại là sự giao lưu vượt qua biên giới hay

“ phi biên giới’’, xuyên biên giới

Giáo dục chính là một phần của giao lưu văn hóa, đồng thời là phương tiện kết nối,

là con đường quan trọng để giao lưu văn hóa quốc tế Giao lưu văn hóa quốc tế giờ đây

đã trở thành thước đo mức độ phát triển giáo dục của mỗi quốc gia Bởi vậy giao lưu giáo dục là một phần quan trọng không thể thiếu trong giao lưu văn hóa quốc tê Tính đến cuối tháng 8 năm 2013, đã có hơn 13500 lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc, và khoảng 3500 lưu học sinh Trung Quốc tại Việt Nam12

Tại các thành phố biên giới, của khẩu, giao lưu văn hóa giáo dục Việt – Trung phát triển mạnh mẽ, hai bên cùng xây dựng các giáo trình tiếng Hán và tiếng Việt, cùng tổ chức các hoạt động giao lưu định kì, tổng kết các hoạt động dạy và học, tình hình quốc tế, giáo dục… từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, cùng học hỏi các kinh nghiệm của hai bên Giao lưu văn hóa giáo dục có thể thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, thắt chặt tình hữu nghị hai bên

1.2.4.4 Ảnh hưởng lẫn nhau trong văn hóa giáo dục

Cùng với sự phát triển khoa học kĩ thuật, sự giao lưu giữa quốc tế càng ngày càng thuận tiện, đặc biệt là sự mở rộng về mạng Internet quốc tế, khiến cho giao lưu thông tin càng nhanh nhạy hơn, thu hẹp khoảng cách thế giới lại, mỗi một đất nước, mỗi mục cải cách giáo dục cũng sẽ nhanh chóng được lan nhanh ra khắp thế giới Biên giới là khu vực nhạy cảm của mỗi quốc gia, mọi hoạt động ở biên giới luôn có ảnh hưởng ít nhiều đến kinh tế - xã hội của đất nước Mặt khác, dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể thiếu của một đất nước Họ góp phần làm đa dạng hóa bản sắc dân tộc, có một bộ phận còn góp phần phát triển đất nước Tuy nhiên đa phần khu vực dân tộc thiểu số đặc biệt là dân tộc thiểu số vùng biên giới vẫn còn lạc hậu và khó khăn, chính vì vậy, chính sách giáo dục dân tộc thiểu số khu vực biên giới luôn được nhà nước coi trọng và có một ảnh

12

Thông tấn xã Việt Nam: Trích Phát biểu “Thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện” trong chuyến thăm Trung Quốc của chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang

Trang 24

hưởng nhất định đến tình hình giáo dục chung

1.3 Giới thiệu tình hình chung dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới hai nước

Việt - Trung

1.3.1 Tình hình chung dân tộc thiểu số tại vùng nội biên giới ở Việt Nam (tỉnh

Lào Cai)

1.3.1.1 Tình hình chung ở tỉnh Lào Cai

Tỉnh Lào Cai thuộc khu vực vùng núi Bắc Bộ Việt Nam, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, Việt Nam, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái và Sơn La, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp với huyện tự trị dân tộc Dao tại Hà Khẩu tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, có đường biên giới với tỉnh Vân Nam khoảng 203.5km Diện tích tỉnh Lào Cai là 6383.89km2, tỉnh Lào Cai được chia thành thành phố Lào Cai và 8 huyện Bát Xát,

có 164 làng và thị trấn, trong đó có 138 làng và thị trấn thuộc vùng núi xa, làng thị trấn biên giới Tỉnh Lào Cai coi nông nghiệp, ngư nghiệp cùng các ngành kinh tế truyền thống khác làm chủ đạo, đồng thời tích cực phát triển công nghiệp, du lịch, xuất nhập khẩu sản xuất mậu dịch

Dựa theo điều kiện kinh tế phân ra thành 3 khu vực, khu vực 1 thuộc khu vực đồng bằng, giao thông thuận lợi, dịch vụ xã hội thuận tiện, có điều kiện tự chủ phát triển kinh

tế xã hội, liền kề với các thành phố, các làng và thị trấn đều là trung tâm của huyện; khu vực 2 là các thị trấn, xã có khó khăn về phát triển kinh tế xã hội, điều kiện địa lý khá xa xôi, tình trạng giao thông khá khó khăn, dịch vụ xã hội về cơ bản tạm ổn; khu vực 3 là bao gồm các xã, thị trấn có nên kinh tế xã hội phát triển đặc biệt khó khăn, thuộc các khu vực vùng sâu vùng xa, giao thông vô cùng khó khăn, dịch vụ xã hội thì có hạn Tính đến tháng 9 năm 2011, dân số tỉnh Lào Cai là 637.520 người, trong đó nam giới là 320.756 người, nữ giới là 316.764 người, số dân thành thị là 143.120 người, số dân nông thôn là 494.400 người14

13

Báo điện tử tỉnh Lào Cai laocaigov.vn

Trang 25

1.3.1.2 Tình hình chung về dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai

Việt Nam có tổng cộng 54 dân tộc, trong đó có hơn một nửa là tập trung sống tại tỉnh Lào Cai Ở đây có 27 dân tộc, trong đó có 26 dân tộc là thuộc dân tộc thiểu số, chiếm tỉ

lệ là 66.87% so với dân số của toàn tỉnh15 Năm 2010 dân tộc Kinh có 194666 người, Hơ – Mông ( dân tộc Mèo) có 122825 người, dân tộc Tày có 82516 người, Thái có 1061 người, Dao có 72543 người, Giáy 24360 người, Nùng 23156 người, Phù Lá 6763 người, Dân tộc Hà Nhì có 3099 người, dân tộc Lào 2134 người, Kháng 1691 người, La ha 1572 người, dân tộc Mường 1263 người, dân tộc Bố Y 1148 người, dân tộc Hoa 770 người, La-chí 446 người, cùng 11 dân tộc thiểu số khác mà chỉ có từ 70 người trở xuống bao gồm: dân tộc Sán Chay, Sán Dìu, Khơ-Me, Lô Lô,Giẻ-triêng, Gia Lai, Chăm16

1.3.2 Tình hình chung về dân tộc thiểu số ở vùng nội biên giới Trung Quốc

( Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam)

1.3.2.1 Tình hình chung khu vực biên giới Châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam

Châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc thuộc khu vực Đông Nam Bộ tỉnh Vân Nam, Phía Bắc tiếp Côn Minh, Phía Đông tiếp Văn Sơn, Phía Tây giáp Ngọc Khê, Phía Nam tiếp giáp với Việt Nam Châu Hồng Hà là một trong những Châu dân tộc lớn và là châu dân tộc thiểu số tự trị ở biên giới nơi tập trung sinh sống của rất nhiều dân tộc, trong

đó có dân tộc Hà Nhì, dân tộc Di làm chủ thể Có 10 dân tộc thiểu số cư trú nhiều đời ở đây17, năm 2011 tồng dân số Châu Hồng Hà là 4.435.723 người, trong đó dân tộc thiểu

số có 2.638.896 người, chiếm 59,49 % tổng dân số toàn Châu Châu có ba huyện Kim Bình, Hà Khẩu và Lục Xuân tiếp giáp với tỉnh Lào Cai và tỉnh Lai Châu của Việt Nam, với đường biên giới dài khoảng 848km, xây dựng phân biệt 2 của khẩu cấp quốc gia và 2 cửa khẩu cấp tỉnh Ba huyện này của Châu Hồng Hà có tổng dân số là 688,7 nghìn người, đều là khu vực có nền kinh tế phát triển khác lạc hậu Năm 2011 huyện Hà Khẩu có bình quân GDP/ người là 21.526 tệ, huyện Kim Bình là 6.176 tệ, Lục Xuân là 6.249 tệ18

1.3.2.2 Tình hình chung dân tộc thiểu số Châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam

15

Công tác cán bộ dân tộc thiểu số ở Lào Cai

16 Niên giám thông kê tỉnh Lào Cai 2011

Trang 26

Châu Hồng Hà mang đặc trưng của khu vực miền núi, với nhiều dân tộc, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, có đường biên giới dài Diện tích vùng núi chiếm 85%

tồng diện tích đất của toàn Châu Ngoài dân tộc Hán ra, khu vực nội biên giới còn là nơi sinh sống của 10 dân tộc Hà Nhì, Di, Mèo, Thái, Choang, Dao, Bố Y, Hồi, La Hô, Bố Lãng Dân tộc thiểu số của Châu Hồng Hà rất đông, các tín ngưỡng tôn giáo, công trình kiến trúc dân tộc, trang phục trang sức, âm nhạc và các điệu nhảy đều rất phong phú đa dạng

Trang 27

CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC DÂN TỘC THIỂU SỐ

VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT - TRUNG

VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN

2.1 Chính sách giáo dục đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Sau cải cách đổi mới năm 1986, Chính phủ Việt Nam đã coi phát triển sự nghiệp giáo dục dân tộc là biện pháp hàng đầu để giải quyết các vấn đề dân tộc trong nước và thực hiện những mục tiêu quan trọng như các dân tộc cùng nhau phát triển phồn vịnh, củng cố sự phát triển và ổn định tại khu vực biên giới, đồng thời áp dụng hàng loạt các chính sách thúc đẩy phát triển giáo dục dân tộc

Sau khi thực hiện cải cách mở cửa, tất cả các chính sách giáo dục dân tộc vùng biên giới được Chính phủ Việt Nam ưu tiên đặc biệt đưa ra đều nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền giáo dục các dân tộc vùng biên giới, tăng cường sự ủng hộ và đồng thuận của các dân tộc thiểu số với Nhà nước, tăng cường củng cố sự ổn định và phát triển xã hội tại khu vực biên giới, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế

xã hội của Việt Nam, đảm bảo tiến hành thuận lợi công cuộc cải cách mở cửa

2.1.1 Chính sách giáo dục của Nhà nước Việt Nam

Điều 35 Chương III Hiến pháp Việt Nam quy định : “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.”; Điều 36 quy định: “Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục:

giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.”

Năm 1986 sau khi phát động cải cách mở cửa, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã thiết lập hệ thống “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” dựa vào pháp luật để quản lý

Trang 28

Trong giai đoạn đầu của cải cách kinh tế, hàng loạt luật kinh tế được đưa ra, một số luật

có tác dụng thúc đẩy chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam như “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, “Luật về hợp đồng kinh tế”, “Luật chuyển giao công nghệ”, “Luật tài nguyên”,…Nhưng bên cạnh đó, vào thời gian này sự “vắng mặt” của luật giáo dục đã gây cản trở nghiêm trọng tới sự phát triển của giáo dục Việt Nam Năm 1990 nhận thấy tính cần thiết và cấp bách của luật cơ bản về giáo dục, kì họp Quốc hội khóa VIII diễn ra vào tháng 8 năm 1991 đã thông qua “ Luật phổ cập giáo dục tiểu học” Đây là Bộ luật giáo dục duy nhất của Việt Nam trước năm 1998

Tháng 12 năm 1998, “Luật giáo dục” đã được Quốc hội khóa X phê duyệt Tháng 5 năm 2005, “Luật giáo dục” sửa đổi được Quốc hội khóa XI thông qua, bắt đầu thi hành

từ tháng tháng 1 năm 2006, giáo dục Việt Nam đi vào quỹ đạo pháp luật hóa Từ “Luật phổ cập giáo dục” cho đến “ Luật giáo dục” và “Luật giáo dục” sửa đổi, Việt Nam luôn coi bình đẳng giáo dục là mục tiêu hàng đầu của chính sách giáo dục Điều 9 trong những quy tắc chung Luật giáo dục (1998) đã chỉ rõ: “Nhà nước và cộng đồng tạo điều kiện giúp đỡ để người nghèo được học tập, bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng”, “Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con

em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hưởng chính sách đãi ngộ, người tàn tật và đối tượng hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình” Điều 56 Chương III Luật giáo dục, Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự

bị đại học cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Điều 77 Chương V Luật giáo dục quy định, Nhà nước phải vô điều kiện đưa ra học bổng có tính đảm bảo

“Quyết định chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005” năm 2001,

“Quyết định chương trình mục tiêu giáo dục và đào tạo quốc gia đến năm 2005” năm

2003, “Nghị định vê công tác dân tộc19” năm 2011 và “Quyết định đề án phát triển giáo dục dân tộc thiểu số giai đoạn 2010-2015” đều nhấn mạnh phải giúp đỡ các dân tộc thiểu

số ở vùng núi phát triển sự nghiệp giáo dục, nỗ lực cải thiện cơ sở hạ tầng giáo dục của các trường nội trú dân tộc, trường dự bị đại học Xây dựng, trường bán trú ở trung tâm

Trang 29

bản làng, củng cố phòng học và các thiết bị giáo dục ở các trường Tiểu học và Trung học

ở bản, thôn, làng Miễn giảm học phí, phát dụng cụ học tập cho học sinh, cấp học bổng xóa đói giảm nghèo và quỹ từ thiện xã hội cho những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 đã chỉ rõ: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế dân tộc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần , xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ của nhân dân, giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết và truyền thống của dân tộc, xây dựng tốt hơn kinh tế xã hội

ở những khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, khu vực biên giới và căn cứ cách mạng cũ

Tạo điều kiện và xây dựng những khu kinh tế cho nhân viên công tác lâu dài hoặc định

cư đã có gia đình Quy hoạch, bổ sung, thiết kế lại khu dân cư, dựa vào phát triển kinh tế đảm bảo sự ổn định, hài hòa xã hội Giữ vững và nâng cao chất lượng xây dựng cơ sở kinh tế ở các khu vực dân tộc thiểu số, cổ vũ và phát huy tác dụng lôi kéo của những nhân vật đại biểu của các dân tộc Ưu tiên bồi dưỡng cãn bộ, phần tử trí thức của các dân tộc thiểu số Công tác ở khu vực miền núi hoặc những nơi có dân tộc thiểu số phải hiểu biết về phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, làm tốt công tác tư tưởng cổ

vũ nhân dân Phản đối kì thị, phân tách dân tộc thiểu số.”

Ngày 25/08/2008 Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành “Quyết định quy chế tổ chức

và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú”20 Quyết định này đã chỉ rõ :

“Trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số.”

Dựa theo Quyết định này thực hiện chính sách ưu tiên trường phổ thông dân tộc nội trú, quy định “Trường PTDTNT được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách, lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi, dạy học sinh Cán bộ quản

lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường được hưởng chính sách đãi ngộ theo quy

20

Quyết định số 49/2008/QD-BGDDT, Quyết định số 49 năm 2008 Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam

Trang 30

định của Nhà nước.” Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú bao gồm: Loại thứ nhất

là trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cấp trung học cơ sở (THCS) được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng dân tộc; loại thứ hai là trường PTDTNT cấp tỉnh đào tạo cấp trung học phổ thông (THPT) được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đồng thời quy định, trong trường hợp cần thiết, để tạo nguồn cán bộ là con em các dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể giao cho trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cả cấp THPT;

bộ chủ quản có thể giao cho trường PTDTNT trực thuộc bộ đào tạo dự bị đại học và cấp THCS Trường PTDTNT ngoài việc thực hiện các học phần và mục tiêu giáo dục giống với các trường THPT khác, còn phải tăng cường giáo dục kiến thức về văn hóa, ngôn ngữ, địa lý khu vực và dân tộc thiểu số Đối tượng tuyển sinh của trường PTDTNT:

“Một là: Thanh thiếu niên là con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định

cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Hai là: Thanh niên, thiếu niên là con em dân tộc thiểu số ở các vùng khác nếu được UBND cấp tỉnh quy định

là vùng có nhu cầu tạo nguồn cán bộ cho các dân tộc thì cũng thuộc diện tuyển sinh vào học trường PTDTNT Tỷ lệ tuyển sinh này do UBND tỉnh quy định Ba là: Trường PTDTNT được phép tuyển sinh không quá 5% trong tổng số học sinh được tuyển là con

em dân tộc Kinh định cư lâu dài ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.”

Ngày 14/01/2011 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 05/2011/NĐ-CP

về Công tác dân tộc, điều 10 của Quyết định quy định rõ: Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc; Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh viên dân tộc thiểu số Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh

Trang 31

tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế

2.1.1.1 Chính sách hỗ trợ giáo dục

Điều 102 “ Luật giáo dục” Việt Nam năm 2005 quy định: Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách giáo dục hằng năm cao hơn tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục phải được phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng; thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với giáo dục phổ cập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số

và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn CCơ quan tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí giáo dục đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ của năm học Cơ quan quản lý giáo dục có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách giáo dục được giao và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

Đồng thời “ Luật giáo dục “ Việt Nam còn quy định : “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho

sự nghiệp giáo dục, các khoản ngân sách Nhà nước sẽ đóng vai trò chủ yếu trong đầu tư cho giáo dục Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của cho giáo dục… Đồng thời Nhà nước đưa ra chính sách miễn giảm thuế cho cá nhân, tổ chức có đóng góp, đầu tư cho giáo dục.”

Năm 2001 Chính phủ Việt Nam thông qua “Chiến lược giáo dục 2001-2010” đề ra:

“ Ngân sách Nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của giáo dục” Nhà nước tăng cường đầu tư cho giáo dục, huy động mọi lực lượng xã hội để phát triển giáo dục, cải cách cơ chế quản lý tài chính, thực hiện tiêu chuẩn hóa cơ sở trường học và thiết bị giảng dạy và học tập.”

Theo số liệu Bộ Tài chính và Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam công bố ngân sách Nhà nước tổng chi cho giáo dục từ 1,56 tỉ đồng (năm 2001) đã tăng lên 8,14 tỉ đồng (năm 2008), tăng hơn 5 lần so với năm 200121 Tài trợ cho giáo dục chiếm tỉ trọng trong GDP,

21

Theo báo cáo tổng kết đầu tư giáo dục tại hội nghi cuối năm 2008 của Bộ GD-ĐT Việt Nam

Trang 32

từ 4,1% năm 2001 ( chiếm 15,5% tổng chi ngân sách Nhà nước) tăng lên 5,6% năm 2006 ( chiếm 18,4% tổng chi ngân sách Nhà nước) Đến năm 2007, Nhà nước đã bỏ ra 20%

chi cho giáo dục, thực hiện trước mục tiêu tài chính tổng chi cho giáo dục năm 2010 theo giả định của Quốc hội (Hội nghị tổng kết đánh giá đầu tư giáo dục, Bộ giáo dục và đào tạo)

Theo Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam, giai đoạn 2008 – 2012 Việt Nam chi 20%

cho ngành giáo dục đào tạo bao gồm chi khoản chi hàng ngày, đầu tư phát triển, sửa đổi lương… Cụ thể năm 2008 chi 78.470 tỉ đồng Năm 2012 sẽ chi ra 137.566 tỉ đồng Năm

2012 GDP của Việt Nam đạt 136 tỉ USD, chi phí giáo dục chiếm 4,8% GDP của Việt Nam Từ năm 1998 – 2010 Chính phủ Việt Nam không ngừng đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục, chi tiêu cho giáo dục tăng từ 13% lên 20% trong chi tiêu tài chính ( năm 1998:

(2), Phân bố vốn đầu tư nên suy xét ưu tiên cho phát triển chuyên nghiệp hóa, phổ cập giáo dục, bảo đảm phát triển giáo dục ở những khu vực kinh tế không phát triển như khu vực phái Bắc và khu vực dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

(3), Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho giáo dục, tăng thêm số trường và đội ngũ giáo viên cho hệ giáo dục ngoài đại học, ủng hộ các hoạt động giáo dục khác, giúp đỡ phát triển và tăng cường thiết lập các trường ngoài công lập; ủng hộ các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và sản xuất tiếp thị ở các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học

cung cấp vốn đầu tư nước ngoài cho giáo dục; khuyến khích các tổ chức kinh tế đầu tư cho giáo dục, thực hiện đào tạo nghề và giáo dục lại; mở rộng và phát triển quan hệ giáo dục quốc tế, thúc đẩy và tận dụng hiệu quả nguồn ủng hộ của nguồn viện trợ

Dưới sự giúp đỡ về tài chính của Nhà nước dành cho giáo dục, Việt Nam đã trở thành một nước có tỉ lệ chi tiêu tài chính cho giáo dục cao trên thế giới Dù vậy nhưng do thu nhập tài chính của Việt Nam còn thấp vì vậy số lượng chi tiêu tài chính cho giáo dục vẫn

Trang 33

còn rất ít, so với một số quốc gia trong khu vực mà nói lượng chi tiêu bình quân cho học sinh sinh viên của Việt Nam vẫn đứng phía sau

2.1.1.2 Chính sách đãi ngộ giáo viên

Dưới sự nỗ lực của Nhà nước chế độ đãi ngộ, chế độ phụ cấp, chế độ dạy học tại nhà dành cho giáo viên ở khu vực dân tộc thiểu số không ngừng được bổ sung và thực hiện, khiến cho những giáo viên có thể yên tâm và tân tâm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010” được Chính phủ thông qua năm

2001 đã chỉ rõ; Phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn vềchất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục; Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục; Đổi mới chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, giảng viên, chú trọng việc rènluyện, giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức giáo viên

Theo Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg được Nhà nước Việt Nam ban hành vào ngày 06 tháng 10 năm 2005 (Quyết định thứ 224 của Thủ tướng Chính phủ năm 2005), mức phụ cấp với những giáo viên tiên phong cho công tác giáo dục ở các trường công lập như sau:

Giáo viên dạy cao đẳng, đại học là 25%; giáo viên dạy trung học cơ sở, trung học phổ thông ở đồng bằng, thành phố là 30%; giáo viên dạy mầm non, tiểu học ở đồng bằng, thành phố, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở miền núi, hải đảo vùng sâu vùng xa là 35%; giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong các trường sư phạm, khoa sư phạm (đại học, cao đẳng) là 40%; giáo viên dạy môn Mác – Lênin là 45% và giáo viên dạy mầm non, tiểu học ở miền núi, vùng sâu, vùng sâu, vùng xa hải đảo là 50% Bình quân hệ số phụ cấp đãi ngộ đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy là 35%

Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 về chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường năng khiếu thể dục thể thao; trường năng khiếu nghệ thuật; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường dự bị đại học học; mức phụ cấp 70% áp dụng đối với giáo viên,

Trang 34

cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông chuyên, trường lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật và giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Trong kì họp Quốc hội Việt Nam lần thứ 5 khóa 12 được tổ chức vào ngày 19 tháng

06 năm 2009 đã thông qua Quyết định số 35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi mới mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 Khoản 5 của Quyết định số 35/2009/NQ-QH12 chỉ rõ: “Thực hiện chính sách ưu tiên về lương và phụ cấp cho đội ngũ giáo viên; tiếp tục chính sách khuyến khích giáo viên dạy học ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và giáo dục hòa nhập; thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với giáo viên và cán bộ quản

lý giáo dục; bảo lưu phụ cấp đứng lớp trong thời hạn 3 năm cho giáo viên được điều động làm công tác quản lý giáo dục.”

Một số điều khoản về chế độ phụ cấp cho giáo viên trong “Luật giáo dục” mới sửa đổi đã nhận được sự khẳng định và bắt đầu thực hiện từ ngày 01 tháng 07 năm 2010 Bộ giáo dục và đòa tạo Việt Nam đang phối hợp cùng các Bộ ngành khác để thực hiện Quyết định số 35/2009/QH12 và một số điều khoản về chế độ phụ cấp trong “Luật giáo dục”

mới sửa đổi được Nhà nước ban hành năm 2010

A, Đãi ngộ lương bổng

Để khuyến khích các giáo viên xuất sắc và những nhân viên quản lý giáo dục đang công tác ở khu vực dân tộc thiểu số miền núi, Nhà nước quy định tất cả các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đang công tác ở những khu vực đặc biệt khó khăn đều nhận được mức trợ cấp 70%, đối với những khu vực thiếu nước sử dụng thì được phụ cấp thêm nước sạch Tất cả các khoản thuộc ngân sách tài chính địa phương và Nhà nước như tiền lương, phụ cấp thiếu thốn đều được thanh toán đúng thời hạn.Từ năm 2006 đến tháng 5/2010, mức lương tối thiểu chung tăng từ 350.000 đồng/tháng lên 730.000 đồng/tháng Với mức lương tối thiểu tăng lên như trên, thì thu nhập của giáo viên hàng tháng đã tăng gấp 2,08 lần Lạm phát của Việt Nam từ sau năm 2006 đến năm 2009 là 44,6%, trừ đi ảnh hưởng của yếu tố lạm phát thì thu nhập thực tế của giáo viên đã tăng 1,44 lần

Trang 35

Ví dụ như một giáo viên tốt nghiệp đại học ra trường năm 2013, có mức lương là 3.633.000 đồng/tháng (mức lương tối thiểu nhân với hệ số lương cơ bản nhân với hệ số phụ cấp đãi ngộ bình quân chung toàn ngành: 1.150.000 đồng x 2.34 x 1.35) Ví dụ năm

2006, mức lương của giáo viên này là 1,105,000 đồng một tháng (350,000 đồng x 2,34 x 1,35)22 Xin nêu một ví dụ khác, ở một tỉnh miền núi, khu vực đặc biệt khó khăn, một công chức có trình độ cao đẳng thì được hưởng mức lương hệ số 2,1 và phụ cấp khu vực

là 0,7 thì chỉ được 1.820.000 đồng/tháng nhưng cũng một giáo viên bậc học cao đẳng cũng làm việc tại khu vực đó thì ngoài hệ số 2,1; phụ cấp khu vực 0,7 còn thêm phụ cấp đứng lớp, phụ cấp thu hút, cộng lại mức lương cũng gần 3 triệu đồng qua đó thấy được mức sống của giáo viên vào năm 2010 được cải thiện đáng kể so với năm 2006 và cao hơn so với công chức, viên chức của các ngành khác

Tuy nhiên, với nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng lên như hiện nay, thì còn chưa đáp ứng được đòi hỏi tăng thu nhập thực tế cho giáo viên, đời sống của một bộ phận giáo viên vẫn còn không ít khó khăn

Bảng 2.1: Thang bảng lương cơ bản các cơ quan Nhà nước Việt nam

(đồng/tháng)

Hệ số lương khởi điểm Quyết định số 66/2013/NĐ-CP do Nhà

nước ban hành ngày 01 tháng 07 năm 2013

Quyết định số 31/2012/NĐ-CP do Nhà nước ban hành ngày 12 tháng 04 năm 2012

Quyết định số 22/2011/ND-CP do Nhà nước ban hành ngày 04 tháng 04 năm 2012

Quyết định số 107/2010/ND-CP do Nhà nước ban hành ngày 29 tháng 10 năm 2010

Tổng hợp số liệu từ các văn kiện, quyết định của nhà nước Việt Nam

B, Đãi ngộ luân chuyển công tác

Thời hạn luân chuyển giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đến công tác tại vùng có

22

Theo hệ số lương cơ bản của nhà nước

Trang 36

điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là 3 năm đối với nữ và 5 năm đối với nam

Hết thời hạn công tác nói trên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền sắp xếp luân chuyển công tác trở về nơi ở và làm việc cuối cùng trước khi luân chuyển đến công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc tạo điều kiện để giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục liên hệ chuyển công tác, giải quyết thuyên chuyển theo nguyện vọng Được điều đến những khu vực trên công tác mỗi lần sẽ nhận được phụ cấp 4 triệu đồng Đối với những giáo viên tham gia vào những nhiệm vụ đòi hỏi thường xuyên phải đến nông thôn làm việc sẽ được hưởng 0,2

hệ số phụ cấp

C, Đãi ngộ về đào tạo, chức danh và tuổi công tác

Khi tính toán thâm niên trong nghề, đối với những giáo viên ở khu vực biên giới 1 năm công tác sẽ được tính bằng 1 năm rưỡi, thực hiện các chế độ đãi ngộ về chức danh

Các giáo viên ở khu vực biên giới thay phiên nhau tah gia các lớp đào tạo ở xã, huyện, tỉnh, mọi chi phí do Nhà nước cấp

D, Đãi ngộ về nơi ở và một số đãi ngộ khác

Đối với những giáo viên và cán bộ quản lý tự nguyện ở lại công tác tại các vùng đặc biệt khó khăn , ưu tiên sắp xếp chỗ ở, đồng thời cấp chi phí nhà ở dà hạn 10 năm Nếu giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có gia đình chuyển đi theo thì được trợ cấp tiền tàu xe, cước hành lý cho các thành viên đi cùng và được trợ cấp chuyển vùng bằng 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng) cho một hộ Những giáo viên tham gia trồng trọt, chăn nuôi ở những khu vực biên giới sẽ được Nhà nước trợ cấp 50% vốn khồng cần hoàn trả về giống trồng trọt và chăn nuôi Đối với những giáo viên giảng dạy bằng ngôn ngữ

và chữ viết của dân tộc thiểu số sẽ được hưởng 50% lương trợ cấp.Vào những mùa thiếu nước sử dụng, chính quyền địa phương sẽ xem xét tình hình của từng khu vực để phụ cấp nước dùng Giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường chuyên biệt khi được cử đi học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ được hỗ trợ tiền mua tài liệu để học tập và hỗ trợ 100% tiền học phí và tiền phụ cấp đi lại, nhà ở Mỗi năm

ít nhất 1 lần, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học được Nhà nước cấp kinh phí, tạo điều kiện để đi tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị bạn trong nước Đối với những giáo viên có cống

Trang 37

hiến to lớn có thể nhân được danh hiệu “ Giáo viên ưu tú” , “Giáo viên nhân dân” hoặc kỉ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”

2.1.1.3 Chính sách miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội và khen thưởng cho học

sinh, sinh viên

Trong “ Luật giáo dục” năm 2005 của Nhà nước Việt Nam quy định: “Để đạt được

sự bình đẳng trong giáo dục, quyền tiếp nhận giáo dục bình đẳng Nhà nước có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tượng được hưởng chính sách

xã hội, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, người có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn vượt khó học tập.” Đồng thời luật này cũng quy định: “Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Chính phủ thiếp lập một số chính sách như chính sách tài chính và xậy dựng cơ sở vật chất và chính sách đãi ngộ cho đội ngũ giáo viên ở những khu vực này.”

Ngày 14 tháng 05 năm 2010 Nhà nước ban hành Nghị định số 49/2010/NĐ-CP về

“Quy địnhvề miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015” quy định “miễn học phí cho những trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; và cha mẹ là người có công với Cách mạng.”

2.1.1.3.1 Học sinh mầm non

Nghị định số 49/2010/NĐ-CP về “Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015” quy định: “Đối với GD mầm non và GD phổ thông công lập: mức thu học phí phải phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư, khả năng đóng góp thực tế của người dân Từ năm học 2010 -

Trang 38

2011 đến năm học 2014 - 2015, mức học phí và chi phí học tập khác không vượt quá 5%

thu nhập bình quân hộ gia đình ở mỗi vùng.”

Bảng 2.2: Khung học phí giáo dục mầm non năm học 2010 – 2011

Theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP

“Dự thảo phát triển GD mầm non giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020” vừa được Thủ tướng Chính phủ công bố quy định: Trong giai đoạn 2011 – 2015, nhà nước hỗ trợ trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi đang học tại ở các cơ sở giáo dục mầm non

có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo; các xã và thôn bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc

bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của nhà nước mỗi tháng bằng 20% mức lương tối thiểu và được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học để duy trì bữa ăn trưa tại trường

2.1.1.3.2 Học Sinh tiểu học, trung học cơ sở

Tháng 6 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra quyết định số 38/2013/QD-TTG về việc hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn Theo quyết định của Thủ tướng, các đối tượng được hỗ trợ gạo gồm học sinh tiểu học và trung học cơ sở đang học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú; Học sinh bán trú đang học tại các trường tiểu học và trung học cơ sở công lập ở khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn

Ngoài ra, các học sinh là người dân tộc thiểu số có bố, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp có hộ khẩu thường trú tại xã, thôn có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, không hưởng chế độ nội trú, có nhà ở xa trường hoặc địa hình cách trở không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày đang học tại các trường trung học phổ thông có nhiều cấp học công lập cũng được nhận hỗ trợ theo quyết định này

Trang 39

Quyết định quy định mỗi học sinh thuộc đối tượng được nhận mức hỗ trợ 15kg gạo/tháng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học Nguồn gạo hỗ trợ lấy từ nguồn gạo dự trữ quốc gia

2.1.1.3.3 Học sinh trung học phổ thông

Tháng 01 năm 2013 Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg “Quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” quy định : Đối với những học sinh cấp trung học phổ thông dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, thuộc những vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vùng biên giới , mỗi tháng được hỗ trợ tiền

ăn bằng 40% mức lương tối thiểu chung và hỗ trợ tiền nhà ở bằng 10% mức lương tối thiểu chung, mỗi năm học được hưởng trợ cấp trong 9 tháng

Bảng 2.3: Mục hỗ trợ và điều kiện

Hỗ trợ tiền ăn Mức tối thiểu bảo đảm

Hỗ trợ tiền nhà ở

Mức tối thiểu bảo đảm cuộc sống: 10%

Theo Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg

2.1.1.3.4 Sinh viên trung cấp, cao đẳng, và đại học

Bảng 2.4: Các hình thức trợ cấp sinh viên hệ trung cấp, cao đẳng và đại học

Chương trình

Đối tượng trợ cấp

trợ cấp Năm 1998-2010 Sau năm 2010

Học bổng khuyến khích

Học sinh sinh viên có thành tích học tập tốt trở lên (ưu tiên đối tượng thuộc chính sách nhà nước)

Dựa vào thu nhập

cố định và học phí 1 năm tương đương với 10 tháng, chia 3 bậc:

Khá: 1,2 tr/ năm Giỏi: 1,8 tr/ năm X.sắc: 2,4 tr/năm

Mức trợ cấp dựa vào học phí thấp nhất trong 1 năm học tương đương với 10 tháng Khá: 2,9 tr/năm Giỏi: 3,5 tr/năm

Ưu tú: 4 tr /1năm

Trường học

Trang 40

sách học bổng

học dân tộc, các học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú

bản nhà nước quy định) × 80%

Trợ cấp

xã hội

Học sinh thuộc đối tượng chính sách, dân tộc thiểu số, mồ côi, cha mẹ mất sức lao động hoặc gia đình đặc biệt khó khăn

Bộ Lao động thương binh và

xã hội

Chính sách đãi ngộ

Con thương binh, liệt

sỹ và những người tham gia hoạt động cách mạng trước và sau 1945

3 loại trợ cấp:

1 mỗi lần trợ cấp 300.000 đồng

470.000đ/ tháng

3 Miễn học phí

Bộ Lao động thương binh xã hội

Miễn giảm học phí

Các đối tượng trợ cấp:

Học sinh mồ côi, tàn tật, học sinh dân tộc thiểu số ở những nơi

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, sinh viên trường sư phạm, học sinh thuộc gia đình hộ nghèo hoặc cận nghèo

Các đối tượng khác nhau có thể được miễn hoặc giảm 50%

Trường học

Trợ cấp cho vay

Sinh viên cao đẳng, đại học có hoàn cảnh khó khăn, học sinh mồ côi

và hoàn cảnh gia đình khó khăn

10 triệu/năm học

Ngân hàng chính sách xã hội

Căn cứ vào quyết định 2005 267/2005/QĐ – TTg về chính sách nội trú của học sinh

Ngày đăng: 09/12/2022, 15:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm