Lý do chọn đề tài Kể từ khi Ban Bí thư ban hành Quyết định số 20-QĐ/TW ngày 23/9/1987, Quy định số 210-QĐ/TW ngày 06/03/2009 và Quy định số 270-QĐ/TW ngày 06 tháng 12 năm 2014 về Phông
Trang 11 Lee do chin đề tài
Theo Quyết định 20-QĐ/TW ngày 23 tháng 9 năm 1987 của Ban Bí t ân rộng,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(Giai đoạn từ 1986 đến nay)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Lưu trữ
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG
TÀI LIỆU CÁC PHÔNG LƯU TRỮ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG - NGUỒN SỬ LIỆU NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(Giai đoạn từ 1986 đến nay)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 31.1.2 Lịch sử các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng 15 1.1.2.1 Giới hạn thời gian và tài liệu của các phông ĐHĐBTQ của Đảng 15
1.2.1 Khái quát về Đảng Cộng sản Việt Nam và các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng 24 1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các ĐHĐBTQ
1.3 Giới thiệu một số nét về cơ quan quản lý tài liệu các phông lưu
Chương 2: Giá trị sử liệu tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng
2.2 Giá trị sử liệu của tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng giai
Trang 4CNXH ở Việt Nam 2.2.5 Nguồn sử liệu phản ánh quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại 58 2.3 Một số đặc điểm của nguồn sử liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của
Đảng trong nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 75
Chương 3: Một số giải pháp về phát huy giá trị sử liệu tài liệu các phông
3.1 Tình hình tổ chức khoa học và khai thác sử dụng tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến năm 2011 trong thời gian qua 81
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng 89 3.2 Một số giải pháp về phát huy giá trị sử liệu tài liệu các phông lưu trữ
3.2.1 Sưu tầm, bổ sung tài liệu còn thiếu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng để đảm bảo sự hoàn chỉnh của hồ sơ, tài liệu trong phông 90
3.2.3 Xây dựng các chuyên đề nghiên cứu lịch sử đảng bằng nguồn tài liệu các
3.2.4 Hoàn thiện một số khâu nghiệp vụ trong công tác tổ chức khoa học tài
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi Ban Bí thư ban hành Quyết định số 20-QĐ/TW ngày 23/9/1987, Quy định số 210-QĐ/TW ngày 06/03/2009 và Quy định số 270-QĐ/TW ngày 06 tháng 12 năm 2014 về Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh và giao nhiệm vụ cho cơ quan quản lý Kho Lưu trữ Trung ương (Lưu trữ lịch sử của Trung ương Đảng) nhiệm vụ bảo quản tài liệu của các tổ chức tiền thân của Đảng, các tổ chức tiền thân của các tổ chức chính trị - xã hội; tài liệu của các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng và Đại hội đại biểu của Đảng bộ các cấp, tài liệu của các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức đảng, của Đảng Cộng sản Việt Nam (trước kia là Đảng Lao động Việt Nam;
Đảng Cộng sản Đông Dương); tài liệu của Ban Chấp hành Trung ương; tài liệu của Trung ương Cục miền Nam, các xứ uỷ, khu uỷ, liên khu uỷ; tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng… Đây đều là những tài liệu có tầm quan trọng đặc biệt, là bằng chứng lịch sử, là căn cứ để tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời còn là di sản văn hoá vô cùng quý báu của Đảng, của dân tộc ta Trong các khối tài liệu hiện đang được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương phải kể đến đó
là khối tài liệu của các phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là một cơ quan đặc biệt, một hình thức tổ chức đặc biệt của tổ chức chính trị
Tài liệu các phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ năm 1986 đến nay (sau đây gọi tắt là các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng) là toàn bộ tài liệu sản sinh ra trong quá trình tổ chức và hoạt động của từng kỳ ĐHĐBTQ của Đảng, bao gồm: tài liệu về chuẩn bị tổ chức Đại hội như chuẩn bị nhân sự, văn kiện; thư điện đối ngoại về Đại hội; tài liệu về diễn biến Đại hội và toàn bộ đơn, thư, ý kiến góp ý của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, nhân dân trong và ngoài nước góp ý về các nội dung của Đại hội; tài liệu về phục vụ các mặt hoạt động khác của Đại hội
Toàn bộ khối tài liệu này là bản chính, bản gốc, có độ chính xác và tin cậy cao được sản sinh đồng thời trong qúa trình hoạt động và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta Các văn kiện Đại hội đều đã được xuất bản công khai và phổ biến tới toàn thể nhân dân Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ
Trang 6chính các văn kiện này Tuy nhiên, quá trình xây dựng văn kiện đã hình thành rất nhiều bản dự thảo có giá trị, những bản dự thảo này đều có bút tích sửa trực tiếp của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đồng chí là Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Trung ương, những ý kiến đóng góp của nhân dân vào văn kiện… khối tài liệu này không phải ai cũng biết và không phải ai cũng có thể tiếp cận được Hiện toàn bộ tài liệu từ bản dự thảo các văn kiện, các bản góp ý sửa trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của đông đảo quần chúng nhân dân đến các bản chính, bản gốc đều đã được thu thập, được chỉnh lý hoàn chỉnh và được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương
Có thể nói, tài liệu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến nay là nguồn sử liệu quý để nghiên cứu lịch sử của Đảng ta, nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng qua các kỳ Đại hội
Tuy nhiên, qua khảo sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy cho đến nay số lượng các
hồ sơ, tài liệu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng được sử dụng như một nguồn sử liệu để nghiên cứu lịch sử Đảng từ năm 1986 đến nay chưa nhiều, chưa tương xứng với tiềm năng thông tin mà tài liệu trong phông phản ánh Bởi lẽ khi chúng ta nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam qua chính tài liệu lưu trữ - khối tài liệu có giá trị xác thực nhất, có độ tin cậy cao nhất về lịch sử Đảng từ trước đến nay nói chung và giai đoạn 1986 đến nay nói riêng sẽ thể hiện được đầy đủ nhất, chân thực nhất, có độ tin cậy cao nhất về lịch sử của Đảng ta Đây là hạn chế rất đáng tiếc, làm lãng phí những thông tin quý giá được phản ánh trong các tài liệu lưu trữ
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tài liệu các phông lưu
trữ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng – Nguồn sử liệu nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (giai đoạn từ 1986 đến nay)” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Giới thiệu khái quát quá trình hình thành, hoạt động của các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng và khối lượng, thành phần nội dung, đặc điểm của khối tài liệu này
- Phân tích làm rõ những giá trị sử liệu của tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng phục vụ nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là lịch sử các
Trang 73 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các tài liệu giấy hình thành trong quá trình hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến nay hiện đang được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương, cụ thể là các phông lưu trữ ĐHĐBTQ lần thứ VI, ĐHĐBTQ lần thứ VII, ĐHĐBTQ lần thứ VIII, ĐHĐBTQ lần thứ IX, ĐHĐBTQ lần thứ X, ĐHĐBTQ lần thứ XI
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi thời gian: Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến năm 2011 để nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Sở dĩ chúng tôi chọn mốc bắt đầu từ năm 1986 vì năm này Đảng ta tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Đây là Đại hội đặt nền móng cho công cuộc đổi mới của nước ta Chúng tôi lấy năm 2011 là mốc kết thúc vì năm
2011 Đảng ta tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Từ năm 1986 đến năm
2011, công cuộc “Đổi mới” của đất nước diễn ra được 25 năm Công cuộc “Đổi mới”
đã đưa nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Và sau 25 năm “Đổi mới”, đất nước ta đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nước ta dần tiến kịp với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Giai đoạn này cũng đánh dấu sự thay đổi trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
ta Cùng với sự “Đổi mới” của đất nước thì Đảng ta “Đổi mới” về tư duy, đổi mới về phương thức lãnh đạo…
- Về phạm vi nội dung vấn đề nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát toàn bộ mục lục
hồ sơ của các phông ĐHĐBTQ của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XI cũng như tiếp cận trực tiếp tài liệu lưu trữ, chúng tôi nhận thấy tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng phản ánh toàn bộ quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết quả từng kỳ ĐHĐBTQ của Đảng Đại hội tiến hành tổng kết đánh giá kết quả cũng như hạn chế của quá trình hoạt động trong nhiệm kỳ qua, đồng thời đưa ra mục tiêu và định hướng đường lối lãnh đạo đất nước trong nhiệm kỳ tới, quyết định cơ quan lãnh đạo của Đảng giữa hai
kỳ Đại hội, đó chính là BCHTW Giá trị sử liệu của tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến năm 2011 thể hiện ở chỗ: là căn cứ để nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể là lịch sử các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
Tiếp đó là căn cứ để nghiên cứu đường lối, chính sách do cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ
Trang 8Đại hội quyết định trong giai đoạn lịch sử của đất nước ta từ năm 1986 đến năm 2011
Đồng thời đây là nguồn sử liệu nghiên cứu đường lối đối nội, đối ngoại; nghiên cứu công tác xây dựng Đảng; nghiên cứu quá trình đổi mới của đất nước từ năm 1986 đến năm 2011 dưới sự lãnh đạo của Đảng mà ĐHĐBTQ của Đảng là cơ quan vạch ra và thông qua chủ trương, đường lối đó, nghiên cứu quá trình chuẩn bị nhân sự BCHTW khoá tới Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu và làm sáng tỏ một số giá trị như: phản ánh sự kiên định của Đảng ta về mục tiêu xây dựng CNXH và quá trình nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNCH ở nước ta;
phản ánh quá trình xây dựng, hoàn thiện các văn kiện trình Đại hội, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên một số lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, đối
ngoại, phản ánh quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết quả từng kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát tình hình hồ sơ, tài liệu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng giai đoạn từ 1986 đến năm 2011
- Tìm hiểu giá trị tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ 1986 đến năm 2011 dưới góc độ là nguồn sử liệu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
- Tìm hiểu thực trạng tổ chức khoa học và khai thác sử dụng tài liệu vào các mục đích nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức khoa học và sử dụng hiệu quả tài liệu lưu trữ thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng giai đoạn từ 1986 đến năm 2011
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến nội dung này, tác giả đã tìm hiểu một số nghiên cứu sau:
+ Các luận án, luận văn, khóa luận nghiên cứu, tiếp cận giá trị của tài liệu lưu trữ từ phương diện sử liệu học đã bảo vệ thành công của sinh viên, học viên Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng như:
- Luận án tiến sĩ: Xác định giá trị sử liệu của tài liệu phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Nguyễn Lệ Nhung năm 1999 Luận án giới thiệu tầm quan
trọng, mục tiêu xác định giá trị tài liệu Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam; cơ
sở, phương pháp luận, tiêu chuẩn của việc lựa chọn tài liệu và đưa ra nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử Đảng dưới góc độ sử liệu học; vấn đề xây dựng các nguồn sử liệu hiện nay
Trang 9- Luận văn thạc sĩ: Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) - nguồn sử liệu giá trị cần được công bố, giới thiệu phục vụ nghiên cứu lịch sử của tác
giả Đào Đức Thuận năm 2008 Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá giá trị sử liệu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc công bố, giới thiệu các tài liệu đó
- Luận văn thạc sĩ: Phông lưu trữ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ - một nguồn sử liệu về Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) của tác giả
Lê Tuyết Mai Nội dung luận văn nghiên cứu giá trị sử liệu của tài liệu thuộc phông lưu trữ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ về Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp và công tác tổ chức khoa học, khai thác, sử dụng tài liệu phông lưu trữ Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ
- Luận văn thạc sĩ: Phông Lưu trữ Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Nguồn
sử liệu nghiên cứu về công cuộc đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến năm 2006 của tác
giả Nguyễn Thị Huyền năm 2015 Luận văn này tập trung nghiên cứu giá trị sử liệu của tài liệu thuộc phân phông Ban Chấp hành Trung ương có phản ánh về công cuộc đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến năm 2006 Tuy trong Luận văn không trực tiếp đề cập đến các tài liệu thuộc các phông Đại hội, nhưng để BCHTW đưa ra được những Nghị quyết, chỉ thị, thông tư, thông tri để lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực thì phải có sự chỉ đạo xuyên suốt, sự định hướng chính về chủ trương từ các ĐHĐBTQ của Đảng toàn quốc Chính vì vậy, luận văn này có mối liên
hệ chặt chẽ với đề tài mà chúng tôi nghiên cứu
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo một Luận văn khác mặc dù không tiếp cận giá trị của tài liệu dưới góc độ sử liệu nhưng có liên quan trực tiếp đến các phông tài
liệu mà chúng tôi đang nghiên cứu Đó là Luận văn: "Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát huy giá trị tài liệu Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hạnh năm 2015 Luận văn này tập trung nghiên cứu về một số giải pháp
nhằm phát huy giá trị tài liệu của tất cả các phông lưu trữ thuộc Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, trong
đó có tài liệu các phông Lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng mà tác giả đang nghiên cứu Do
đó, trong quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi có tham khảo Luận văn và có sự kế thừa một số giải pháp phát huy giá trị phù hợp với nội dung của đề tài
Trang 10+ Một số sách viết về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước
- Cuốn: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn
do GS.TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), xuất bản năm 2006: Cuốn sách này là phần cốt lõi trong Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học:
“Đổi mới và phát triển ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Mã số:
ĐTĐL-2003/18) là đề tài độc lập cấp nhà nước do GS.TS Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm đề tài Cuốn sách viết và phân tích khá rõ về đường lối, chủ trương của Đảng ta
về vấn đề đổi mới của nước ta cũng như một số thành tựu mà chúng ta đạt được từ năm 1986 đến năm 2006
- Cuốn: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước do Tạp chí Lịch sử Đảng phối hợp với Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất
bản năm 2008: Cuốn sách bao gồm những chuyên luận, bài viết của nhiều tác giả là những nhà lãnh đạo, quản lý, nhà khoa học…Với nội dung nhằm giới thiệu về quá trình Đảng hoạch định đường lối đổi mới toàn diện và quá trình Đảng lãnh đạo việc tổ chức thực hiện thành công đường lối đó trong thực tiễn qua 20 năm đổi mới
- Cuốn: Việt Nam 25 năm trên đường đổi mới 1986 – 2011 qua tài liệu lưu trữ
do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước biên soạn và được xuất bản năm 2012: Cuốn sách giới thiệu những hình ảnh và tài liệu về thời kỳ đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2011 được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III
- Cuốn: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016) của Ban Chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn 30 năm đổi
mới của Đảng, xuất bản năm 2015 Cuốn sách tổng kết lý luận và thực tiễn 10 vấn đề lớn về kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh – đối ngoại, hệ thống chính trị, xây dựng đảng và tám mối quan hệ lớn sau 30 năm đổi mới
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy, đối với tài liệu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng cho đến nay rất ít tác giả nghiên cứu dưới góc độ sử liệu
để phục vụ cho nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, đề tài: “Tài liệu
các phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng – Nguồn sử liệu nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (giai đoạn từ 1986 đến nay)” không trùng lặp với
các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây Nhưng trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có sự kế thừa và tham khảo kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó
Trang 115 Nguồn tư liệu tham khảo
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số nguồn tư liệu tham khảo sau:
- Các cuốn sách, giáo trình mang tính lý luận chung về công tác văn thư, lưu trữ
và các xuất bản phẩm như: Giáo trình: Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ của các
tác giả Đào Xuân Chúc - Nguyễn Văn Hàm - Vương Đình Quyền - Nguyễn Văn
Thâm; một số cuốn sách như cuốn: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam – một số vấn đề
lý luận và thực tiễn do GS.TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), xuất bản năm 2006, cuốn: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước
do Tạp chí Lịch sử Đảng phối hợp với Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm
2008; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016) của Ban Chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn 30 năm đổi mới của
Đảng, xuất bản năm 2015…
- Các văn bản của Đảng, Nhà nước về tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ như:
Luật Lưu trữ năm 2011; các Quyết định số 20-QĐ/TW ngày 23-9-1987, Quy định số 210-QĐ/TW ngày 06/3/2009, Quy định số 270-QĐ/TW ngày 06/12/2014 của Ban Bí thư TW về phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nguồn tài liệu quan trọng nhất, được sử dụng nhiều nhất trong luận văn là tài liệu các phông ĐHĐBTQ của Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội XI)
- Các công trình nghiên cứu như các luận án, luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài nghiên cứu (như đã nêu ở phần lịch sử nghiên cứu vấn đề)
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để có cái nhìn biện chứng về tài liệu lưu trữ và tài liệu lưu trữ các phông ĐHĐBTQ của Đảng tại Kho Lưu trữ Trung ương
- Phương pháp hệ thống: được chúng tôi vận dụng khi hệ thống các vấn đề nghiên cứu trong luận văn
- Phương pháp phân tích: được chúng tôi vận dụng khi sử dụng để phân tích các vấn đề, sự kiện mà hồ sơ, tài liệu phản ánh và phân tích giá trị của tài liệu, chất lượng của các hồ sơ, tài liệu
- Phương pháp tổng hợp: được chúng tôi vận dụng khi tổng hợp thông tin có trong hồ sơ, tài liệu thành các vấn đề theo hệ thống
Trang 12- Phương pháp sử liệu học: được chúng tôi vận dụng khi chúng tôi xem xét, xác định giá trị, độ tin cậy của tài liệu trong phông
- Phương pháp suy luận logic: được chúng tôi sử dụng để suy luận các vấn đề
7 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và một số phụ lục kèm theo, luận văn bao gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1 Tổng quan về các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng
Trong chương này, chúng tôi trình bày đôi nét về các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến năm 2011, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng Tiếp đó, chúng tôi đưa ra những kết quả khảo sát, đánh giá ban đầu về thành phần, nội dung và đặc điểm của tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng Trên cơ sở đó thấy được tài liệu các phông ĐHĐBTQ của Đảng được đánh giá
về giá trị sử liệu phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có cơ sở để đề xuất những giải pháp chủ yếu ở chương III
Chương 2 Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ năm 1986 đến năm 2011 - Nguồn sử liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Đây là chương chính của luận văn, ở chương này chúng tôi tập trung phân tích những giá trị về mặt sử liệu của tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng phục vụ nghiên cứu lịch sử Đảng trên các khía cạnh như: sự kiên định của Đảng ta về mục tiêu xây dựng CNXH và quá trình nhận thức của Đảng về xây dựng CNXH, nghiên cứu quá trình xây dựng, hoàn thiện các văn kiện trình ĐHĐBTQ của Đảng; nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên một số lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng, đối ngoại; nghiên cứu quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết quả từng kỳ Đại hội Đóng góp chính của chương này là giới thiệu được cho những nhà nghiên cứu lịch sử những thông tin giá trị về một bộ phận tài liệu của các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng, một trong những nguồn sử liệu rất có giá trị để phục vụ nghiên cứu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 13Chương 3 Tình hình tổ chức khoa học, khai thác sử dụng tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng phục vụ nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và một số kiến nghị, giải pháp
Ở chương này, chúng tôi đưa ra tình hình tổ chức khoa học và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội
XI trong thời gian qua Từ đó chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu về thông tin tài liệu lưu trữ cho các nhà nghiên cứu lịch sử và cho chính hoạt động Đảng
ta Kết quả của hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu sẽ có nhiều tác động tích cực tới hoạt động nghiên cứu lịch sử của những người quan tâm đến khối tài liệu này
***
*
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện luận văn
Nhân đây, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Lệ Nhung – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này và trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quan trọng trong suốt khóa học cao học Lưu trữ 2013 – 2015 Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn các cô, các chú, các anh chị đồng nghiệp tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn này
Hà Nội, ngày 08 tháng 6 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Hồng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHÔNG LƯU TRỮ ĐHĐBTQ CỦA ĐẢNG 1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phông lưu trữ và phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về phông lưu trữ
* Lý thuyết về phông lưu trữ và phông lưu trữ cơ quan
Theo Luật Lưu trữ năm 2011, Phông lưu trữ “là toàn bộ tài liệu lưu trữ được hình
thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân” [43a, tr.2]
Trong cuốn “Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ” của nhóm tác giả Đào Xuân
Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Thâm đưa ra khái niệm về phông lưu trữ, phông lưu trữ cơ quan và điều kiện thành lập phông như sau:
- Phông lưu trữ “là toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của một cơ quan hoặc cá nhân có ý nghĩa chính trị, khoa học, lịch sử và các ý nghĩa khác được đưa vào bảo quản trong một kho lưu trữ nhất định” [43a, tr.53]
- Phông lưu trữ cơ quan “là toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của một cơ quan có ý nghĩa chính trị, khoa học, lịch sử và các ý nghĩa khác được đưa vào bảo quản trong một kho lưu trữ nhất định” [43a, tr.55]
- Điều kiện thành lập phông lưu trữ cơ quan: gồm 3 điều kiện:
+ Đơn vị hình thành phông phải là một cơ quan hoạt động độc lập, tức phải đảm bảo 4 yếu tố: Có văn bản pháp quy về thành lập cơ quan, quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan đó; có tổ chức biên chế riêng; có ngân sách độc lập; có văn thư và sử dụng con dấu riêng
+ Tài liệu của cơ quan đó phải có giá trị, cần bổ sung vào thành phần Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam
+ Tài liệu phải hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh [43a, tr.55, 56]
* Phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng
Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng là khối tài liệu rất quan trọng của Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam nói chung Khối tài liệu này phản ánh toàn diện, chính xác các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong từng kỳ Đại hội
Về lý thuyết, tài liệu Đại hội Đại biểu toàn quốc có đủ điều kiện thành lập một phông lưu trữ độc lập, tuy nhiên trên thực tế để tiện lợi cho công tác quản lý, hiện nay
Trang 15Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương thành lập mỗi kỳ Đại hội Đảng là một phông lưu trữ vì những lý do sau:
- Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định Đại hội đại biểu toàn quốc là “Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng” [8, tr.15], chức năng, nhiệm vụ của Đại hội là
“Đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ vừa qua; quyết định đường lối, chính sách của Đảng nhiệm kỳ tới; bầu BCHTW; bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng khi cần” [8, tr.24] Mỗi kỳ Đại hội đều có quyết định triệu tập Đại
hội; về tổ chức, để chuẩn bị và tổ chức tốt Đại hội, BCHTW có quyết định thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội, Đại hội bầu Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký
- Mỗi kỳ Đại hội Đảng đều có văn thư độc lập Văn phòng Trung ương là đơn
vị được phân công phụ trách công tác văn thư phục vụ Đại hội Để thực hiện tốt nhiệm
vụ này, Văn phòng TW đã đã ban hành quy định về công tác văn thư phục vụ Đại hội
Theo đó, cán bộ văn thư phục vụ Đại hội có nhiệm vụ tiếp nhận, chuyển giao văn bản;
soạn thảo, đánh máy và đọc soát văn bản; quản lý sử dụng con dấu của Đại hội (bao gồm dấu của Đại hội, Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký); trực điện thoại và ghi chép thông tin qua điện thoại; thu thập tài liệu, văn kiện và lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ sau khi Đại hội kết thúc [67a, tr.16 – 22] Bộ phận văn thư phục vụ Đại hội là cán bộ, nhân viên của Văn phòng Trung ương, có tăng cường thêm cán bộ, nhân viên của các cơ quan khác trực tiếp tham gia Bộ phận này sẽ tự giải thể sau khi Đại hội kết thúc
Mỗi kỳ Đại hội đều có con dấu riêng
Mẫu dấu
- Về kinh phí: Đại hội được cấp một khoản kinh phí riêng
- Tài liệu của Đại hội Đảng toàn quốc là thành phần tài liệu quan trọng của phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam nói chung [37, tr 8]
Do ĐHĐBTQ của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt và để tạo thuận lợi trong công tác quản lý tập trung thống nhất, đảm bảo tài liệu được thu thập đầy đủ, tránh thất lạc tài liệu, bắt đầu từ ĐHĐBTQ của Đảng lần thứ VII trở đi, trước khi diễn ra Đại hội,
Trang 16Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều ban hành Quyết định về việc thành lập phông Lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng cho kỳ Đại hội đó Cụ thể: Đại hội VII: Quyết định số 124-QĐ/TW ngày 23/03/1991 của Ban Bí thư; Đại hội VIII: Quyết định số 104-QĐ/TW ngày 22/01/1996; Đại hội IX: Quyết định số 82-QĐ/TW ngày 26/10/2000 của Bộ Chính trị; Đại hội X: Quyết định số 143-QĐ/TW ngày 25/05/2005 của Ban Bí thư; Đại hội XI: Quyết định số 271-QĐ/TW ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Ban Bí thư)
Ngoài ra, trong Luận văn chúng tôi sử dụng thuật ngữ “các cơ quan của các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng” để chỉ các tiểu ban phục vụ Đại hội và Đoàn Chủ tịch, Đoàn
Thư ký, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu, đây đều là những cơ quan tham mưu, giúp việc
cho Đại hội Thuật ngữ “cơ quan” ở đây là do trong văn bản sử dụng, cụ thể: trong
Quy chế làm việc của Đại hội có ghi: Đoàn Chủ tịch Đại hội là cơ quan điều hành công việc của Đại hội; Đoàn Thư ký là cơ quan giúp việc của Đại hội; Ban Thẩm tra tư cách đại biểu là cơ quan giúp việc của Đại hội; Ban Kiểm phiếu là cơ quan giúp việc bầu cử của Đại hội [34a, tr 10, 11]
Các cơ quan trên được thành lập nhằm giúp việc chuẩn bị mọi cơ sở vật chất, nhân sự cho Đại hội, giúp điều hành các công việc khi Đại hội diễn ra và giúp hoàn thiện các công việc sau khi Đại hội kết thúc Các cơ quan này đều có bộ phận giúp việc, kinh phí hoạt động được trích từ nguồn kinh phí Đại hội, văn thư là cán bộ kiêm nhiệm và từ Đại hội VII trở đi, Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký có con dấu riêng Tuy nhiên do không có bộ phận văn thư độc lập, không có con dấu riêng (trừ Đoàn Chủ tịch và Đoàn Thư ký Đại hội), số lượng tài liệu không nhiều nên các các cơ quan này không đủ điều kiện thành lập một phông lưu trữ riêng mà tài liệu sẽ thuộc phông lưu trữ Đại hội
1.1.2 Lịch sử các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng
1.1.2.1 Giới hạn thời gian và tài liệu trong từng phông
Từ năm 1986 đến năm 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức 6 kỳ Đại hội và mỗi kỳ Đại hội được lập thành một phông riêng Tên gọi cụ thể của từng phông như sau:
- Phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (07/12/1986 - 18/12/1986)
- Phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (17/06/1991 - 27/06 /1991)
- Phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (22/06/1996 - 01/07/1996)
- Phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (12/04/2001 - 22/4/2001)
Trang 17- Phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (17/04/2006 - 25/04/2006)
- Phông lưu trữ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (11/01/2011 - 19/01/2011)
+ Thời gian diễn ra Đại hội
Thời gian diễn ra từng kỳ Đại hội được xác định từ ngày bắt đầu đến ngày kết thúc Đại hội, chẳng hạn Đại hội VI, Đại hội nội bộ diễn ra từ ngày 07 – 13/12/1986 và Đại hội chính thức diễn ra từ ngày 15 – 18/12/1986 Như vậy, thời gian diễn ra Đại hội
VI được tính từ ngày 07/12/1986 đến ngày 18/12/1986 Hay như Đại hội XI bắt đầu họp phiên trù bị vào ngày 11/01/2011, khai mạc chính thức vào ngày 12/01/2011 và ngày bế mạc Đại hội là ngày 19/01/2011 Như vậy, thời gian diễn ra Đại hội XI được tính từ ngày 11/01/2011 đến ngày 19/01/2011
+ Về thời gian của tài liệu trong phông:
Trước khi tổ chức Đại hội, các cơ quan có sự chuẩn bị về văn kiện, chuẩn bị nhân sự, cơ sở vật chất phục vụ Đại hội Vì vậy, BCHTW đã quyết định thành lập các Tiểu ban giúp việc cho Đại hội như: Tiểu ban văn kiện, Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội, Tiểu ban sửa đổi Điều lệ Đảng… Do vậy, toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các Tiểu ban, Ban chỉ đạo từ khi thành lập đến khi Đại hội bế mạc được xác định thuộc Phông Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng
Riêng Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội, do chức năng nhiệm vụ được phân công và tính chất công việc nên thời gian hoạt động kết thúc muộn hơn, tức là sau khi Đại hội
đã bế mạc thì Tiểu ban này vẫn còn hoạt động để hoàn tất một số công việc liên quan đến Đại hội Vì vậy, thời gian bắt đầu của một Phông lưu trữ Đại hội thường có sớm hơn và thời gian kết thúc của một phông Đại hội thường muộn hơn so với thời gian
diễn ra Đại hội
Ví dụ: Qua khảo sát thực tế tài liệu thuộc Phông Đại hội VI, ngày 17/12/1985, BCHTW khoá V họp Hội nghị Trung ương lần thứ 9 quyết định triệu tập Đại hội VI
và ngày 15/5/1987 là ngày Ban Tài chính – Quản trị Trung ương báo cáo tổng quyết toán chi Đại hội Như vậy, Phông lưu trữ Đại hội VI, thời gian tài liệu có sớm nhất là ngày 17/12/1985 và thời gian tài liệu có muộn nhất là ngày 15/5/1987
Hay như phông Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, đơn vị được thành lập sớm nhất là Tiểu ban Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới (Quyết định số 133-
Trang 18QĐ/TW ngày 04/02/2008) và đơn vị kết thúc hoạt động muộn nhất là tài liệu thuộc Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội (kết thúc ngày 27/05/2011) [38, tr.23] Như vậy Phông Lưu trữ Đại hội XI (11/01/2011 – 19/01/2011), thời gian tài liệu sớm nhất là ngày 04/02/2008 (ngày thành lập Tiểu ban Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm
1991, bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, thời gian tài liệu muộn nhất là ngày 27-5-2011 (ngày kết thúc hoạt động của Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội)
Từ Đại hội IX trở về trước, thời gian của Đại hội bao gồm thời gian diễn ra Đại hội nội bộ và thời gian của Đại hội công khai Trong Đại hội nội bộ, gần như tất cả các vấn đề chính của Đại hội đã được quyết định từ việc góp ý các văn kiện Đại hội, việc
dự kiến cơ cấu, số lượng ủy viên TW, các chức danh chủ chốt của đất nước và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, về phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn sắp tới…Còn Đại hội công khai gần như chỉ công bố chính thức kết quả của Đại hội nội bộ Có sự khác nhau như vậy bởi Đại hội công khai có các khách quốc tế đến
dự và có các phóng viên báo chí ở trong và ngoài nước đến đưa tin, ghi hình Vì tại Đại hội thảo luận rất nhiều vấn đề quan trọng của đất nước nên cần phải được giữ bí mật Đây chính là nguyên nhân của việc Đảng ta tổ chức Đại hội nội bộ và Đại hội công khai Còn từ Đại hội X đến nay, thời gian diễn ra Đại hội liên tục từ ngày khai mạc đến ngày kết thúc Đại hội Ví dụ, ĐHĐBTQ của Đảng toàn quốc lần thứ X bắt đầu họp phiên trù bị vào ngày 17-4-2006, khai mạc chính thức vào ngày 18-4-2006 và ngày bế mạc Đại hội là ngày 25-4-2006
1.1.2.2 Mức độ hoàn chỉnh của phông
Qua khảo sát chúng tôi thấy về cơ bản tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XI là tương đối đầy đủ Gần như tất cả các tài liệu hình thành từ giai đoạn chuẩn bị, diễn biến và cả sau khi Đại hội kết thúc đều được thu thập đầy đủ
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số tình trạng sau:
- Một số ít tài liệu do xác định ranh giới tài liệu giữa các phông chưa rõ ràng nên tài liệu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng còn ở một số phông khác trong Kho Lưu trữ Trung ương
Ví dụ: Khối tài liệu Đại hội VI hiện còn thiếu khối tài liệu dự thảo sửa đổi Điều
lệ Đảng (vì tiểu ban dự thảo sửa đổi Điều lệ Đảng không thành lập, công việc này giao
Trang 19cho Vụ Điều lệ của Ban Tổ chức TW soạn thảo nên khối tài liệu này đang nằm ở Ban
Tổ chức TW; thiếu khối tài liệu của Tiểu ban tổ chức và nhân sự về phần tài liệu chuẩn
bị nhân sự Đại hội hiện đang nằm ở Phông đồng chí Lê Đức Thọ do đồng chí Thọ hồi
đó là Trưởng Ban tổ chức TW, đồng thời là Trưởng Tiểu ban Tổ chức và nhân sự Đại hội VI; thiếu khối tài liệu tuyên truyền Đại hội hiện đang nằm ở Báo Nhân dân
Hay như tài liệu của phông Đại hội VII còn thiếu một số tài liệu thuộc giai đoạn đầu chuẩn bị nội dung văn kiện Đại hội như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH được xây dựng qua 16 lần dự thảo để xin ý kiến và chỉnh sửa nhưng tài liệu chỉ thu được của 8 lần dự thảo còn tài liệu của 8 lần dự thảo khác không thu được
- Một số ít tài liệu khác do trong quá trình hoạt động của tiểu ban có một số hoạt động không được văn bản hóa nên không hình thành tài liệu
Ví dụ, trong quá trình hoạt động, các tiểu ban họp để bàn từ việc phân công công việc, giao viết từng phần dự thảo các văn kiện… từ những hoạt động này chắc chắn sẽ hình thành tài liệu như biên bản họp, kết luận các cuộc họp, chương trình hoạt động… Tuy nhiên, theo như khảo sát của chúng tôi thì trong Phông Đại hội VII và Phông Đại hội X còn thiếu nhóm tài liệu này
Nguyên nhân của tình trạng thiếu tài liệu trên theo chúng tôi là do cán bộ đi thu tài liệu xác định ranh giới nội dung, thành phần tài liệu giữa các phông chưa chính xác (như ở phông Đại hội VI), mặt khác trong quá trình hoạt động của các Tiểu ban, một
số nội dung không được văn bản hóa do các Tiểu ban, Tổ biên tập chưa thực sự chú ý trong việc ghi biên bản cũng như hoàn chỉnh các Biên bản sau khi cuộc họp kết thúc nên không có tài liệu (như ở phông Đại hội VII, Đại hội X)
Tóm lại: Do nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngay
từ đầu, tiếp đó là có sự chuẩn bị chu đáo về công tác thu thập tài liệu, từ khâu xây dựng kế hoạch đến kiểm tra hướng dẫn nên công tác thu thập tài liệu đạt kết quả tốt
Hầu hết các tiểu ban, cơ quan đã chú ý trong việc tập trung tài liệu và phối hợp tốt với Văn phòng Trung ương trong việc giao nộp tài liệu về Kho Lưu trữ Trung ương So với tài liệu các phông Đại hội trước đó (từ Đại hội I đến Đại hội V) thì tài liệu các Phông Đại hội từ Đại hội VI đến Đại hội XI nhiều hơn về số lượng, đầy đủ về thành phần tài liệu, một số nhóm tài liệu thu triệt để hơn (như khối hồ sơ nhân sự tham gia ứng cử BCHTW các khóa (gồm cả chính thức và dự khuyết), hồ sơ về việc bầu đại biểu đi dự đại hội của các đảng bộ trực thuộc Trung ương)
Trang 201.1.2.3 Về khối lượng tài liệu:
Sau khi các kỳ Đại hội Đảng kết thúc, toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết thúc Đại hội đều được cán bộ của Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương tiến hành thu thập và chỉnh lý hoàn chỉnh
Tính đến nay, tổng số các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XI có gần 80 mét giá tài liệu - với 2.322 hồ sơ/ĐVBQ
1.1.2.4 Về thành phần và nội dung tài liệu
Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng bao gồm toàn bộ tài liệu phản ánh trong quá trình chuẩn bị Đại hội, tiến hành Đại hội và tài liệu về tuyên truyền, phục vụ Đại hội
+ Tài liệu phản ánh trong quá trình chuẩn bị Đại hội
- Tài liệu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, BCHTW và các cơ quan về chỉ đạo công việc chuẩn bị tiến hành Đại hội như Nghị quyết, chỉ thị, quyết định, tờ trình, báo cáo, công văn…
- Tài liệu của các tiểu ban như Tiểu ban văn kiện, Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban phục vụ Đại hội… chuẩn bị văn kiện trình Đại hội, chuẩn bị nhân sự BCHTW khoá sau, chuẩn bị về cơ sở vật chất, bố trí chỗ ăn, ở, đi lại cho đại biểu… bao gồm các tài liệu như các bản dự thảo văn kiện, tờ trình, báo cáo tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình của Tiểu ban về các ý kiến góp ý vào dự thảo các văn kiện tại Đại hội, phương hướng, tiêu chuẩn nhân sự, Hướng dẫn sinh hoạt của đại biểu …
- Các ý kiến đóng góp vào văn kiện trình Đại hội bao gồm: Ý kiến đóng góp của các Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên TW với Tiểu ban dự thảo Báo cáo chính trị về đề cương, nội dung của báo cáo;
- Tài liệu của các ban ngành TW, đảng đoàn, đảng ủy, các hội quần chúng…
chủ yếu là báo cáo, kế hoạch, biên bản, tờ trình đóng góp vào dự thảo văn kiện, kế hoạch nhiệm vụ của ngành mình để tiểu ban dự thảo báo cáo chính trị tham khảo;
- Tài liệu của các Hội nghị cán bộ, đại hội các Đảng bộ tỉnh, thành gửi đến báo cáo tổng kết, phản ánh quá trình tiến hành đại hội các cấp góp ý kiến vào dự thảo văn kiện của Đại hội,
- Tài liệu của các đảng phái trong nước, Việt kiều ở nước ngoài đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội;
Trang 21- Tài liệu của các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước đóng góp ý kiến vào
dự thảo Văn kiện Đại hội
- Tài liệu phản ánh hoạt động nội bộ của Tiểu ban, Tổ biên tập: Quyết định, kế hoạch, công văn của các Tiểu ban về phân công và phương pháp làm việc, về cử cán
bộ dự đại hội một số tỉnh, thành…
- Tài liệu về chuẩn bị nhân sự BCHTW các khoá: Phương hướng, quy trình, kế hoạch triển khai, giới thiệu nhân sự BCHTW các khoá; báo cáo tổng hợp ý kiến về kết quả giới thiệu nhân sự ứng cử, đề cử; hồ sơ các đồng chí đại biểu của Đại hội để bầu
Uỷ viên TW các khoá…
- Tài liệu về đại biểu, khách mời dự Đại hội và hoạt động của các đoàn đại biểu:
Tờ trình, quyết định, công văn của Bộ Chính trị, Ban Tổ chức TW về phân bổ số lượng, định hướng cơ cấu đại biểu; hồ sơ các đoàn đại biểu dự Đại hội
+ Tài liệu phản ánh quá trình tiến hành Đại hội:
- Kế hoạch điều hành từng phiên họp của Đại hội, Danh sách đại biểu, Chương trình, Quy chế làm việc của Đại hội, hướng dẫn sinh hoạt của đại biểu; tài liệu của Ban Thẩm tra tư cách đại biểu,
- Lời chào mừng, điện mừng của các nước,
- Dự thảo các văn kiện trình Đại hội, biên bản thảo luận của các đoàn đại biểu
về các văn kiện trình Đại hội
- Tham luận của các đại biểu
- Tài liệu phản ánh hoạt động của Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký
- Tài liệu xung quanh vấn đề bầu cử nhân sự BCHTW các khoá: danh sách đề
cử, ứng cử, phiếu biểu quyết, biên bản kiểm phiếu, báo cáo, công văn của Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký tổng hợp ý kiến thảo luận tại các đoàn về công tác nhân sự, tổng hợp về việc ứng cử, đề cử và xin rút ứng cử, đề cử nhân sự tham gia BCHTW các khoá…
+ Tài liệu về công tác tuyên truyền, phục vụ Đại hội:
- Tài liệu của Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội như công văn, quyết định, tài liệu trao đổi giữa tiểu ban với các ngành về chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất, y tế,
ăn ở, đi lại cho đại biểu; danh sách cán bộ và công nhân viên phục vụ và khen thưởng;
- Tài liệu về công tác văn thư, tuyên truyền Đại hội
Trang 221.1.2.5 Về đặc điểm của tài liệu
Với mỗi tài liệu bất kỳ thường có đặc điểm về nội dung bên trong và hình thức bên ngoài Đặc điểm của tài liệu thể hiện tài liệu đó được sản sinh vào thời kỳ nào thông qua văn phong, kỹ thuật chế tác, phương tiện mà nó truyền tải… tài liệu đó có thể được viết trên giấy dó, giấy pơluya hay giấy trắng như hiện nay, tài liệu đó cũng có thể được viết trên vỏ cây, lá cây hay được khắc trên đá, viết trên tường như thời xa xưa… Thông qua đặc điểm của tài liệu, người nghiên cứu lịch sử sẽ biết được giá trị nội dung thông tin và giá trị về hình thức bên ngoài của tài liệu đó đến đâu Chẳng hạn như, sau khi các văn kiện đã được thông qua tại các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng thì toàn
bộ các văn kiện này sẽ được xuất bản trên các ấn phẩm như: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc các kỳ Đại hội, Văn kiện Đảng toàn tập, các cuốn Tạp chí, các bài công bố, trên internet… khi đó mọi người chỉ nhìn thấy thành phẩm là những dòng chữ đã được đánh máy và được in sắc nét trên những trang giấy trắng hay những bản điện tử với các kích cỡ đều nhau và với số lượng khác nhau, còn nguyên bản của nó thì rất ít người được tiếp cận Nếu như nghiên cứu những tài liệu này dưới góc độ giá trị thông tin thì đây chính là những thông tin chính thống đã được cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng thông qua Tuy nhiên nếu nghiên cứu những tài liệu này dưới góc độ tính chân thực, độ chính xác của thông tin mà nó phản ánh, hay nghiên cứu về lịch sử quá trình xây dựng và hoàn thiện những tài liệu này thì nó không thể hiện được vì những điều này chỉ có ở trong những bản gốc, bản chính Nhiều văn bản của Đại hội là dạng bản thảo, không phải bản chính, bản gốc do đây là những bản dự thảo để trình Đại hội cho ý kiến thảo luận và quyết định (ví dụ các văn kiện trình Đại hội, quy chế làm việc, phương hướng nhân sự … những bản này chỉ có bút tích sửa trực tiếp, thường không
có dấu, chữ ký của người có thẩm quyền) Và chính những đặc điểm như khổ giấy, chất liệu giấy, cỡ chữ, loại chữ (viết tay, đánh máy), bút tích sửa trực tiếp của người có thẩm quyền, con dấu,… để đảm bảo những tài liệu này là bản gốc, bản chính, bản có
độ tin cậy cao nhất để nghiên cứu, chứng minh sự kiện lịch sử thì không phải ai cũng được tiếp cận Khối tài liệu này chính là các tài liệu lưu trữ hiện đang được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương
Về đặc điểm cụ thể của khối tài liệu các phông ĐHĐBTQ của Đảng từ năm
1986 đến năm 2011 như sau:
Trước hết tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng mang đầy đủ đặc
điểm của tài liệu lưu trữ nói chung đó là:
Trang 23- Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng chứa đựng những thông tin về quá khứ Tài liệu được hình thành trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trong hoàn cảnh lịch sử nhất định và là tấm gương phản chiếu các giai đoạn khác nhau, là những chứng cứ lịch sử hùng hồn, chuẩn xác, phản ánh toàn diện và chân thực toàn bộ công cuộc đổi mới của Đảng; là cơ sở, phương tiện và công cụ không gì thay thế được
để nhận thức lịch sử Vì vậy, tài liệu các phông ĐHĐBTQ của Đảng có giá trị to lớn
và quan trọng về sử liệu khi nghiên cứu lịch sử của Đảng ta
- Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng là bản gốc, bản chính của các văn bản, là những tài liệu chứa đựng thông tin cấp một, mang chứng cứ lịch sử có độ chân thực và có giá trị pháp lý cao vì chúng chứa đựng nhiều bằng chứng thể hiện độ chân thực như bút tích sửa trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chữ ký và con dấu…
- Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng là sản phẩm phản ánh trực tiếp quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với toàn xã hội Việt Nam, là những bằng chứng lịch sử sinh động và đáng tin cậy nhất phản ánh hoạt động của Đảng ta Nhờ có những tài liệu này mà trong công tác nghiên cứu lịch sử Đảng, các nhà sử học có thể nghiên cứu quá khứ một cách đúng đắn và khách quan hơn, loại trừ được những sai lầm không đáng có trong việc đánh giá các sự kiện, hiện tượng hoặc những nhân vật lịch sử
Thứ hai, tài liệu lưu trữ các phông ĐHĐBTQ của Đảng mang một số đặc điểm
riêng như sau:
- Về vật mang tin và kỹ thuật chế tác: Tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của
Đảng được đánh máy trên giấy pơluya, in roneo, bản in tipô, viết tay, có một số ít tài liệu (chủ yếu là khối tài liệu Phông Đại hội VI) được đánh máy trên giấy dó hoặc một
số loại giấy khác có màu nâu, màu xanh, màu hồng, màu vàng bởi đây là những tài liệu được hình thành từ những năm 80 của thế kỷ XX Bắt đầu từ Đại hội VII có thêm tài liệu được chế bản điện tử và được in trên chất liệu giấy tốt, có thêm các bản photocoppy, chữ rõ, dễ đọc, không có tài liệu rách nát, ố vàng Riêng khối đơn thư,
hầu hết là tài liệu viết tay
Đối với tài liệu là bản gốc thường có bút tích của các đồng chí lãnh đạo Đảng
Có tài liệu cùng lúc có bút tích của nhiều đồng chí lãnh đạo, ví dụ như các bản góp ý
Trang 24vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội, bút tích ấy có thể được viết bằng bút chì hoặc bút mực và bằng nhiều màu chì, mực khác nhau
- Về tình trạng vật lý: Tài liệu thuộc các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng về
cơ bản chất lượng tương đối tốt Sau khi kết thúc Đại hội, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, Cục Lưu trữ đã cử cán bộ đi thu thập toàn bộ tài liệu hình thành từ quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết thúc Đại hội Sau khi đã thu thập đầy đủ tài liệu, Cục Lưu trữ tiếp tục chỉ đạo cho phòng chức năng tiến hành khảo sát và lên kế hoạch chỉnh lý Khi đã hoàn thiện về mặt nghiệp vụ, trước khi đưa tài liệu vào bảo quản cố định trong Kho, tài liệu đã được khử trùng và vệ sinh sạch sẽ, được làm phẳng, tháo bỏ ghim, kẹp để tránh làm hư hỏng tài liệu, sau đó cho vào cặp, hộp, đưa lên giá đựng tài liệu và được bảo quản trong kho lưu trữ chuyên dụng, luôn đảm bảo môi trường ổn định như nhiệt độ, độ ẩm, chế độ vệ sinh tài liệu
- Về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản: Do thời gian diễn ra các kỳ Đại hội là
khác nhau, khoảng cách từ Đại hội VI đến Đại hội XI là 25 năm, 25 năm qua có sự thay đổi về chất liệu in, thay đổi về ngôn ngữ, văn phong và cả thay đổi về thể thức và
kỹ thuật trình bày Qua khảo sát có thể thấy các tài liệu cũng dần được hoàn thiện hơn
về thể thức và kỹ thuật trình bày
Các tài liệu thuộc phông lưu trữ Đại hội VI: nhìn chung không có dấu và chữ
ký Khối tài liệu trước Đại hội chủ yếu không có dấu, chữ ký, ngày tháng, số kí hiệu vì khối tài liệu này nhiều bản dự thảo, thư gửi đến góp ý cho văn kiện Đại hội Khối tài liệu trong Đại hội có số văn bản, ngày tháng nhưng lại không có dấu và chữ ký vì khối tài liệu này chủ yếu là các văn kiện trình Đại hội (bản in tipô và in roneo) Chỉ có một
số ít tài liệu của Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội, báo cáo của các cơ quan TW là có đầy đủ thể thức văn bản
Đến khối tài liệu phông Đại hội VII: Một số văn bản của Trung ương, tỉnh, thành, huyện, quận ủy, cơ quan Đảng, nhà nước gửi đến có đầy đủ thể thức văn bản
Một số tài liệu Đại hội có dấu của Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội Đoàn Chủ tịch có dấu (hai loại dấu nổi và dấu ướt) và Đoàn thư ký có dấu riêng là một tiến bộ và tăng thêm giá trị pháp lý tin cậy của tài liệu Tuy nhiên, vẫn còn một số tài liệu không có dấu, chữ ký, hoặc chỉ có chữ ký
Từ Đại hội VIII trở đi: Đối với nhóm tài liệu chính thức trình tại Đại hội nhìn chung có thể thức tương đối hoàn chỉnh, thống nhất Trước khi diễn ra Đại hội, Văn phòng Trung ương đã nghiên cứu và ban hành Hướng dẫn về thể thức tài liệu, văn kiện Đại hội
Trang 25Qua khảo sát thực tế, hầu hết các tài liệu sản sinh trong quá trình diễn biến của Đại hội đều có thể thức và đóng dấu Đại hội, dấu Đoàn Chủ tịch hoặc dấu Đoàn thư ký theo đúng quy định Các biên bản thảo luận tổ, thảo luận tại hội trường, nhật ký Đại hội đều được đóng dấu giáp lai Khối tài liệu dự thảo các văn kiện, do tính chất và quy trình hình thành văn bản phải xin ý kiến nhiều lần, nhiều đối tượng nên việc xác định
rõ số lần dự thảo ngay trên văn bản vẫn chưa thực hiện được
- Đối với nhóm tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các tiểu ban Đại hội (trừ tiểu ban tổ chức và phục vụ đại hội) thể thức chưa được thống nhất như:
tên cơ quan ban hành sai với quy định; hầu hết văn bản không có số, ký hiệu; có trường hợp sử dụng con dấu không đúng
Ví dụ: tài liệu của Tiểu ban nhân sự, người ký là Trưởng Tiểu ban Nông Đức Mạnh và đóng dấu treo Ban chấp hành Trung ương, hay như tài liệu của Tổ giúp việc của Tiểu ban nhân sự thể thức đề ký không đúng với quy định…
1.2 Tổng quan về các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
1.2.1 Khái quát về Đảng Cộng sản Việt Nam và các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
Như chúng ta đã biết, vào tháng 02 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra bước ngoặt căn bản trong sự phát triển của dân tộc ta Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam
đã có một chính đảng mang bản chất cách mạng và khoa học, có đủ sức lãnh đạo nhân dân giành quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và các quyền dân tộc
cơ bản khác để xây dựng và phát triển đất nước Hội nghị hợp nhất này mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị đã đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, vạch ra đường lối giải phóng dân tộc và đi theo con đường CNXH của Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam);
đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiếp tục xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Sau khi bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH (bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam), cách mạng Việt Nam có những thuận
lợi, song cũng có không ít những khó khăn Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế sản xuất
Trang 26nhỏ, năng suất lao động thấp và nhiều hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại Trong quan hệ quốc tế, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động bên ngoài tìm mọi cách phá hoại, bao vây, cấm vận, gây khó khăn cho cách mạng Việt Nam Trên thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua nhiều diễn biến phức tạp: CNXH gặp những khó khăn, lâm vào khủng hoảng, thoái trào Trước tình hình đó, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn, trở ngại, thu được những thành tựu quan trọng Chúng ta đã nhanh chóng hoàn thành việc thống nhất đất nước về
mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN
Trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, nhân dân ta đã có những cố gắng to lớn trong công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu bình ổn sản xuất và đời sống nhân dân
Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, ngoại giao…
gần tiến kịp các nước phát triển trong Khu vực và trên thế giới Điều này chứng tỏ công cuộc đổi mới của nước ta do Đảng lãnh đạo là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn nước ta
Từ khi thành lập đến năm 2011, Đảng ta đã tổ chức 11 kỳ Đại hội, mỗi kỳ Đại hội đều để lại dấu ấn riêng và thể hiện được sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự định hướng đúng đắn của Đảng đối với đất nước
Ở kỳ ĐHĐBTQ lần thứ I (03/1935) Đại hội đánh dấu sự khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng, thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân
Ở kỳ ĐHĐBTQ lần thứ II (02/1951), Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cải cách ruộng đất ngay trong chiến tranh, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, giành nhiều thắng lợi trên các chiến trường cả nước trong chiến dịch Đông-Xuân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đưa đến thắng lợi Hội nghị Geneve, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Ở kỳ ĐHĐBTQ lần thứ III (09/1960), Đại hội đã tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Đại hội đã phân tích kỹ những đặc điểm của cách mạng Việt Nam và quyết định đường lối cách mạng XHCN và xây dựng CNXH ở miền Bắc
và đường lối cách mạng miền Nam nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước;
đề ra nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Trang 27ĐHĐBTQ lần thứ IV của Đảng (11, 12/1976) diễn ra trong bối cảnh cuộc Kháng chiến chống Mỹ đã giành thắng lợi Đất nước được hoàn toàn thống nhất Đại hội đã thảo luận, đánh giá quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội trên toàn đất nước Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng CNXH trong phạm vi cả nước Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng Đại hội đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội còn bổ sung Điều lệ Đảng, thay chức danh Bí thư thứ nhất là Tổng Bí thư, bỏ chức danh Chủ tịch Đảng
ĐHĐBTQ lần thứ V của Đảng (03/1982) là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, tập hợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ, phương hướng nhằm giải quyết những vấn đề gay gắt nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh "Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân"
ĐHĐBTQ lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm, khẳng định những mặt làm được, phân tích rõ những sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế Đại hội đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy đặc biệt là tư duy kinh tế, đổi
mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác Đại hội đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn, toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên
ĐHĐBTQ lần thứ VII của Đảng (tháng 06/1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2000 và Nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 1991 - 1995 Đại hội đưa
ra quan niệm tổng quát về xã hội XHCN ở Việt Nam và phương hướng cơ bản để xây
dựng xã hội đó; Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN
Là Đại hội của Trí tuệ - Đổi mới - Dân chủ - Kỷ cương - Đoàn kết, Đại hội VII
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ quyết định những nhiệm vụ chính trị nặng nề trước mắt, mà cả con đường, bước đi của cách mạng nước ta trong những thập niên
Trang 28tiếp theo Đó là quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, đất nước ta đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay
go Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 06/1996) đã nhận định:
“Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991-1995 đã được hoàn thành về cơ bản” [9, tr.10] Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng
một số mặt còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá
độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đại hội VIII khẳng định: “Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước đi lên CNXH'' [7, tr.7] và đề ra nhiệm vụ kinh tế - xã hội từ năm 1996 đến năm
2000 là: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào thế kỷ XXI Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu cột mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 04/2001) đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII và khẳng định, trong 5 năm 1996 - 2000, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được những
thành tựu quan trọng Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội đã khẳng định: “Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên CNXH ở nước ta… Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [8, tr.20] Thế kỷ XX là thế kỷ đấu tranh oanh
liệt và chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ nhân dân ta tiếp tục
giành thêm nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc,
đưa nước ta sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới
Đại hội IX của Đảng có ý nghĩa trọng đại mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 29Tại Đại hội X của Đảng (tháng 04/2006), trên cơ sở thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Đại hội khẳng định: Nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử, rút ra 5 bài học lớn của công cuộc đổi mới [9, tr.70, 71, 72] Nhận thức
về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản Đại hội đã nêu
lên tám đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng; tám phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH [9, tr.68, 69] Kế thừa và phát triển tư duy của Đại
hội IX, Đại hội X đã làm sáng tỏ hơn một bước những nội dung cơ bản về định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta Đại hội đã có một số quyết định quan
trọng, như cho phép “đảng viên làm kinh tế tư nhân” [9, tr.302]
Những thành tựu và bài học đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Qua 20 năm, hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
đã hình thành trên những nét cơ bản, ngày càng sáng tỏ hơn
Đại hội XI của Đảng (tháng 01/2011) đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển về nhận thức lý luận và thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, sự kế thừa và phát triển tư duy từ Báo cáo chính trị tại Đại hội X, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên CNXH
(bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định tám đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN
mà nhân dân ta xây dựng [10, tr.70], tám phương hướng cơ bản [10, tr.72] và bổ sung thêm tám mối quan hệ lớn cần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt [10,
tr.72, 73] Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng, trong nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta Thực hiện Cương lĩnh, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước[10, tr.64], phấn đấu tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN Đại hội đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, xác định
ba đột phá chiến lược: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; Xây dựng hệ thống kết cấu
Trang 30hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và
hạ tầng đô thị lớn” [10, tr.106]
Đại hội XI đánh dấu bước tiến trong đổi mới tư duy phát triển, phương thức phát triển, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững, gắn đổi mới mô hình tăng trưởng với cơ cấu lại nền kinh tế Đại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân
ta tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới
Đại hội XI không những có ý nghĩa quan trọng đối với Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc Đảng ta đã thể hiện tầm nhìn có tính nguyên tắc, sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đồng thời khẳng định và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phấn đấu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Những thành tựu và đường lối đổi mới
đó là bài học và kinh nghiệm quý báu góp phần vào kho tàng lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội của những người cộng sản trên thế giới
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là
cả một pho lịch sử bằng vàng Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện lịch sử oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà điều có ý nghĩa lớn lao là những kinh nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được tổng kết từ hiện thực lịch sử với những sự kiện oanh liệt hào hùng Và pho lịch
sử bằng vàng đó sẽ được tái hiện lại một cách chân thực nhất, sinh động và chính xác nhất qua chính những tài liệu mà trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Đảng ta đã hình thành Trong số những tài liệu thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng có tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng hiện đang được bảo quản tại Kho Lưu trữ Trung ương và có thể khẳng định đây là nguồn sử liệu vô cùng có giá trị về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp là lịch sử các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các ĐHĐBTQ của Đảng
1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV thông qua đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và lần thứ VI bổ sung có
ghi: “Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, do Ban
Trang 31Chấp hành Trung ương triệu tập, thường lệ năm năm một lần Khi có tình hình đặc biệt, Ban Chấp hành Trung ương có thể triệu tập Đại hội sớm hơn hoặc chậm lại một thời gian, không quá 1 năm Trong trường hợp phải chậm lại, Ban Chấp hành Trung ương thảo luận tập thể, thông tri rõ lý do cho các cấp bộ đảng biết” [12, tr 46]
Đến bản Điều lệ do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII thông qua ngày
27/6/1991, tại Điều 16 có ghi “Đại hội đại biểu toàn quốc do BCHTW triệu tập thường lệ năm năm một lần, khi có tình hình đặc biệt, có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, và thông báo rõ lý do cho toàn Đảng biết; thời gian triệu tập chậm không quá một năm” [13, tr.24]
Đến bản Điều lệ được thông qua tại Đại hội VIII đến Đại hội XI được sửa đổi
như sau: “Đại hội đại biểu toàn quốc do BCHTW triệu tập thường lệ năm năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm” [15, tr.24]
Đại hội có nhiệm vụ chung là: “đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ vừa qua; quyết định đường lối, chính sách của Đảng nhiệm kỳ tới; bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng khi cần; bầu BCHTW” [16, tr.26, 27]
Và trong từng thời điểm diễn ra các kỳ Đại hội, để phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội, mỗi kỳ Đại hội lại có thêm một số nhiệm vụ riêng nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt và định hướng phát triển lâu dài trong tương lai Cụ thể:
Đại hội VI của Đảng là Đại hội đặt nền móng cho công cuộc đổi mới của nước
ta hiện nay Đại hội diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá – lương – tiền cuối năm 1985 làm cho nền kinh tế Việt Nam càng trở nên khó khăn Nước ta đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn Nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng Tình hình này làm cho trong Đảng Cộng sản Việt Nam và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh 3 vấn đề lớn: cơ cấu kinh tế; cải tạo XHCN; cơ chế quản lý kinh tế Trước tình hình đó, Đại hội VI đã diễn ra nhằm giải quyết về cơ bản các vấn đề trên Để làm chuyển biến tình hình, Đại hội VI phải đánh dấu sự đổi mới của Đảng ta về tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác, đó là đòi hỏi bức thiết của đất nước
Đại hội có nhiệm vụ: Thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị của BCHTW,
về kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V (chủ yếu là thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội) và bản phương hướng nhiệm vụ các mặt công tác trong thời gian tới (chủ yếu là phương hướng chiến lược kinh tế - xã hội) và nhiệm vụ
Trang 32của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1986 – 1990; Quyết định một số điểm sửa đổi trong Điều lệ Đảng
Sau khi công cuộc đổi mới của nước ta được thực hiện, tình hình kinh tế nước
ta bước đầu có kết quả Tuy nhiên Đảng ta đặt ra mục tiêu “trong thập kỷ 90, phải khắc phục những khó khăn, thử thách gay gắt, ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu của những năm
90 và chuẩn bị cho tương lai; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội; bảo đảm môi trường hoà bình, ổn định hợp tác cho sự phát triển kinh tế” [4, tr.115] Trước tình hình đó Đại hội VII đã diễn ra để thực hiện các mục tiêu
trên Đại hội lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH ở nước ta Đại hội cũng đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng (Điều
lệ Đảng sửa đổi) Đại hội một lần nữa khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản
Đại hội VIII có nhiệm vụ: tổng kết 10 năm đổi mới; đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020 và trước mắt đến năm 2000; bổ sung và sửa đổi Điều lệ Đảng, đưa sự nghiệp đổi mới lên tầm cao mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH
Là Đại hội của Trí tuệ - Dân chủ - Đoàn kết – Đổi mới, Đại hội IX của Đảng có nhiệm vụ lịch sử: nhìn lại chặng đường 71 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đi sâu tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát triển
và hoàn thiện đường lối, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI
Đại hội X: Đây là Đại hội của Trí tuệ - Đổi mới - Đoàn kết - Phát triển bền vững Đại hội X của Đảng có nhiệm vụ nhìn thẳng vào sự thật để kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện thành tựu và những yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, thực
Trang 33hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2001 - 2005), chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 10 năm (2001-2010) và nhìn lại 20 năm đổi mới; từ đó tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm, định ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm tới (2006-2010); phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng… Đại hội
X không chỉ nhìn lại 5 năm sau Đại hội IX mà còn tổng kết cả 20 năm thực hiện đường lối đổi mới về mọi mặt, trong đó có lĩnh vực đối ngoại Đại hội đã khẳng định đường lối đó "đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam", vì vậy đã kế tục đường lối, chính sách đối ngoại được khởi xướng và kiên trì thực hiện trong suốt thời kỳ đổi mới
đó là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế
Đại hội XI của Đảng diễn ra vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội X và đã trải qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001 - 2010 Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội
X của Đảng, đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (2011 – 2015); tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 – 2010), xác định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 – 2020); tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991
Từ những quy định trên tại các Điều lệ Đảng, chúng ta thấy, Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, cơ quan này do BCHTW các khoá triệu tập Khác với các kỳ Đại hội trước (từ Đại hội lần thứ nhất đến Đại hội lần thứ tư) từ Đại hội lần thứ V, VI đến Đại hội lần thứ XI, thường lệ 5 năm Đảng ta tổ chức Đại hội một lần và duy trì cho đến ngày nay Về cơ bản, các kỳ Đại hội không thay đổi
về chức năng, còn về nhiệm vụ có thay đổi đôi chút để phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn
1.2.2.2 Các cơ quan của các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
- Các cơ quan chuẩn bị cho Đại hội:
Để chuẩn bị cho Đại hội về mọi mặt từ việc chuẩn bị văn kiện đến nhân sự, đến việc tổ chức phục vụ Đại hội, BCHTW các khoá đã thành lập các tiểu ban phục vụ Đại hội Mỗi kỳ Đại hội thường được thành lập các tiểu ban như: Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban phục vụ Đại hội, Tiểu ban văn kiện (mỗi một văn kiện cụ thể có thể lập một Tiểu ban riêng) và một số tiểu ban khác (do BCHTW quyết định)
Trang 34+) Về nhiệm vụ của các tiểu ban: tùy theo nhiệm vụ cụ thể của từng kỳ Đại hội
mà BCHTW các khoá sẽ quyết định số lượng, tên gọi cũng như nhiệm vụ của từng tiểu ban Theo nghiên cứu của chúng tôi, cùng một tiểu ban nhưng ở kỳ Đại hội này nhiệm
vụ khác và đến kỳ Đại hội sau nhiệm vụ có sự thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn
và do BCHTW quyết định
Chẳng hạn, các kỳ Đại hội đều lập Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội nhưng ở
Đại hội VI nhiệm vụ của Tiểu ban này khác và đến các kỳ Đại hội sau nhiệm vụ lại có
sự thay đổi cho phù hợp hơn Ở Đại hội VI, Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội có các nhiệm vụ sau:
“- Đón tiếp các đại biểu Đại hội và bảo đảm sinh hoạt, phương tiện đi lại và làm việc của đại biểu
- Tổ chức việc đón tiếp, phục vụ sinh hoạt và hoạt động của khách mời trong nước và ngoài nước
- Chuẩn bị hội trường Đại hội
- Tổ chức việc in, phân phối, thu hồi các văn kiện, tài liệu của ĐHĐBTQ của Đảng
- Tổ chức việc quay phim, chụp ảnh Phối hợp với Ban Tuyên huấn Trung ương
để chỉ đạo công tác tuyên truyền về Đại hội
- Quản lý việc chi tiêu” [58, tr.1]
Đến Đại hội VII, Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội này có thêm nhiệm vụ:
“Lập kế hoạch tổ chức phục vụ Đại hội lần thứ VII theo tinh thần đổi mới, thiết thực, chu đáo, tiết kiệm, để trình Ban Bí thư” [60, tr 13]
Ngoài ra nhiệm vụ “Quản lý việc chi tiêu” của Tiểu ban ở Đại hội VI được quy định rõ hơn tại Đại hội VII, cụ thể: “Quản lý việc chi tiêu cho ĐHĐBTQ của Đảng theo đúng chế độ do Ban Bí thư quyết định” [60, trang 13, 14]
Cũng là Tiểu ban trên nhưng đến Đại hội VIII được quy định ngắn gọn hơn và được phát huy tính chủ động trong công việc hơn chứ không cụ thể và bị động như ở Đại hội VI và Đại hội VII Trong Quyết định số 102-QĐ/TW ngày 25/10/1995 của Ban Bí thư về thành lập Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII Đảng CSVN có quy định rõ:“Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội có nhiệm vụ xây dựng, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế hoạch phục vụ đại hội; tổ chức thực hiện kế hoạch phục vụ Đại hội; Báo cáo tổng kết công tác phục vụ Đại hội” [62, tr 18, 19]
Đặc biệt, đến Đại hội XI, Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội được Ban Bí thư
Trang 35này được thể hiện thông qua việc giao quyền chỉ đạo việc tổ chức phục vụ Đại hội cho Tiểu ban chứ không phải làm các công việc cụ thể như các Đại hội trước đó Và giúp
việc cho Tiểu ban là bộ phận thường trực và tổ giúp việc giúp quán xuyến công việc [64, tr 29, 30]
Có sự thay đổi trên theo chúng tôi là do trong quá trình diễn ra Đại hội tuy đã
có quy định nhiệm vụ cụ thể cho từng Tiểu ban, nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao phát sinh thêm một số việc mà khi đó Ban Bí thư chưa dự tính hết được Do đó, rút kinh nghiệm từ một số kỳ Đại hội trước, đến các Đại hội gần đây, Đảng ta quyết định giao quyền tự chủ cho các Tiểu ban để có thể hoàn thành công việc kịp thời, hiệu quả
+) Về số lượng và tên gọi của các Tiểu ban: Như chúng tôi đã nói ở trên, số lượng và tên gọi các Tiểu ban có sự khác nhau tuỳ thuộc vào nhiệm vụ cụ thể của từng
kỳ Đại hội Qua khảo sát, chúng tôi thấy các kỳ Đại hội có số lượng và tên gọi các Tiểu ban như sau:
Đại hội VI: bao gồm 5 tiểu ban [37, tr 3, 4, 5], đó là:
- Tiểu ban dự thảo Báo cáo chính trị Tiểu ban này thành lập theo Quyết định số 64/QĐ-TW của Bộ Chính trị ngày 04/12/1985, do đồng chí Hoàng Tùng làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban tổ chức và nhân sự (thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10, khoá V, Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 81/TB-TW ngày 20/06/1985 về việc thành lập Tiểu ban và do đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng tiểu ban)
- Tiểu ban thẩm tra dự án kế hoạch 5 năm (1986 – 1990) Được thành lập theo Quyết định số 81/QĐ-TW của Bộ Chính trị, do đồng chí Đỗ Mười làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban tổ chức, phục vụ Đại hội Tiểu ban được thành lập theo Quyết định
số 61/QĐ-TW ngày 20/11/1985 của Bộ Chính trị, do đồng chí Võ Chí Công làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban sửa đổi và bổ sung Điều lệ Đảng1
Đại hội VII: bao gồm 6 tiểu ban [38, tr.34]:
Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCHTW khoá VI, ngày 04/04/1990 Bộ Chính trị đã ra thông báo số 175-TB/TW về việc thành lập 5 tiểu ban:
1 Hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy Quyết định chính thức của Tỉểu ban này [37, tr.05]
Trang 36- Tiểu ban dự thảo Cương lĩnh chính trị, do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban dự thảo Chiến lược kinh tế - xã hội, do đồng chí Đỗ Mười làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban dự thảo Báo cáo chính trị, do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban dự thảo Báo cáo Xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, do đồng chí Nguyễn Đức Tâm làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Chuẩn bị nhân sự, do đồng chí Võ Chí Công làm Trưởng tiểu ban
- Riêng Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội thành lập theo Quyết định số QĐ/TW ngày 10/09/1988 của Bộ Chính trị, do đồng chí Nguyễn Khánh làm Trưởng tiểu ban
66-Đại hội VIII: bao gồm 5 tiểu ban [39, tr.9] :
Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá VII ngày 30-7-1994, Bộ Chính trị đã ra thông báo số 82-TB/TW ngày 13/08/1994 về việc thành lập 4 tiểu ban sau:
- Tiểu ban văn kiện, do đồng chí Đỗ Mười làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Kinh tế - xã hội, do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban nhân sự, do đồng chí Đỗ Mười làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Điều lệ Đảng, do đồng chí Lê Phước Thọ làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban tổ chức, phục vụ Đại hội được thành lập theo Quyết định số QĐ/TW ngày 25/10/1995 của Ban Bí thư, do đồng chí Nguyễn Hà Phan làm Trưởng tiểu ban
102-Đại hội IX: bao gồm 5 tiểu ban [40, tr.04, 05]
Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá VIII ngày 16-8-1999, Bộ Chính trị đã ra thông báo số 245-TB/TW ngày 20/08/1999 về việc thành lập 04 tiểu ban sau:
- Tiểu ban Báo cáo chính trị, do Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu làm Trưởng Tiểu ban
- Tiểu ban Kinh tế - xã hội, do đồng chí Phan Văn Khải, Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Tiểu ban
Trang 37- Tiểu ban Điều lệ, do đồng chí Nguyễn Văn An, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Nhân sự, do Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu làm Trưởng Tiểu ban
- Còn Tiểu ban Tổ chức, phục vụ Đại hội được thành lập theo Quyết định số QĐ/TW ngày 01/09/1999, do đồng chí Phạm Thế Duyệt làm Trưởng tiểu ban
64-Đại hội X: bao gồm 5 tiểu ban [41, tr.02, 03]
Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 BCHTW khoá IX, ngày 15-7-2004 Bộ Chính trị đã ra thông báo số 146-TB/TW về thành lập 04 tiểu ban của Trung ương chuẩn bị Đại hội X của Đảng gồm:
- Tiểu ban Văn kiện, do đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Kinh tế - xã hội, do đồng chí Phan Văn Khải, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Xây dựng Đảng và Sửa đổi Điều lệ Đảng, do đồng chí Trần Đình Hoan, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Nhân sự, do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh làm Trưởng tiểu ban
- Đối với Tiểu ban Tổ chức và Phục vụ Đại hội được thành lập theo Quyết định
số 119-QĐ/TW ngày 01/09/2004 của Bộ Chính trị, do đồng chí Phan Diễn, Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng tiểu ban
Đại hội XI: bao gồm các tiểu ban sau [42, tr.02]
- Tiểu ban Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Tiểu ban được thành lập theo Quyết định số 133-QĐ/TW ngày 04/02/2008 của BCHTW, do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 – 2010) và xây dựng Chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội 2011 – 2020 Tiểu ban được thành lập theo Quyết định số 134-QĐ/TW ngày04/02/2008 của BCHTW, do đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng tiểu ban
Trang 38- Tiểu ban nhân sự được thành lập theo Quyết định số 247-QĐ/TW ngày 21/07/2009 của BCHTW, do đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư BCHTW Đảng làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban tổng kết việc thực hiện Điều lệ Đảng và bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng Tiểu ban được thành lập theo Quyết định số 248-QĐ/TW ngày 21/07/2009 của BCHTW, do đồng chí Hồ Đức Việt, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương làm Trưởng tiểu ban
- Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội được thành lập theo Quyết định số QĐ/TW ngày 21/07/2009 của BCHTW do đồng chí Trương Tấn Sang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng tiểu ban
249-Ngoài các tiểu ban, Đại hội XI còn thành lập thêm Ban Chỉ đạo xây dựng Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) trình Đại hội XI
và Báo cáo tình hình thực hiện Quy chế làm việc của BCHTW, BCT, BBT (khoá X)
Các Tiểu ban này đều có bộ phận thường trực và được thành lập các tổ giúp việc, tổ nghiên cứu
Các tiểu ban này được thành lập trước khi Đại hội diễn ra nhằm chuẩn bị trước các công việc phục vụ cho Đại hội và sẽ tiếp tục hoạt động trong quá trình Đại họi diễn ra và cả sau khi Đại hội kết thúc
- Các cơ quan khi Đại hội diễn ra:
Nếu như các tiểu ban được thành lập trước khi Đại hội diễn ra để đảm bảo mọi
điều kiện cần thiết cho Đại hội thì tại phiên họp trù bị2 của Đại hội đã thảo luận, biểu quyết về số lượng và thông qua từng danh sách: Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu, Ban Kiểm phiếu Đây là những cơ quan điều hành và giúp
việc cho Đại hội, đảm bảo cho hoạt động của Đại hội diễn ra thông suốt
Đoàn Chủ tịch Đại hội là cơ quan điều hành công việc của Đại hội Đoàn Chủ
tịch có nhiệm vụ điều hành công việc của Đại hội theo Chương trình, Quy chế làm việc đã được Đại hội thông qua; phân công các thành viên điều hành các phiên họp của Đại hội; chuẩn bị các vấn đề để Đại hội thảo luận và biểu quyết; điều hành việc bầu cử theo Quy chế bầu cử tại Đại hội; tổ chức lấy phiếu giới thiệu chức danh Tổng Bí thư, điều hành các bộ phận giúp việc của Đại hội; tiếp nhận và xử lý kiến nghị của các đại
Trang 39
biểu và đoàn đại biểu về những việc liên quan đến Đại hội; ký các văn bản của Đại hội [42, tr.3]
Đoàn Thư ký, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu và Ban Kiểm phiếu hoạt động dưới sự điều hành trực tiếp của Đoàn Chủ tịch
Đoàn Thư ký Đại hội là cơ quan giúp việc của Đại hội Đoàn Thư ký có nhiệm
vụ ghi biên bản các buổi thảo luận, tổng hợp đầy đủ và trung thực ý kiến thảo luận của các đại biểu và các đoàn đại biểu; soạn thảo các văn bản kết luận, nghị quyết của Đại hội và thông báo của Đoàn Chủ tịch gửi tới các đoàn đại biểu; phát hành tài liệu, ấn phẩm của Đại hội theo sự phân công của Đoàn Chủ tịch; thu nhận và nộp về Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng hồ sơ, tài liệu của Đại hội sau khi Đại hội kết thúc
[42, tr.3]
Ban Thẩm tra tư cách đại biểu là cơ quan giúp việc của Đại hội Ban có
nhiệm vụ xem xét báo cáo của các cấp uỷ trực thuộc Trung ương về tình hình và kết quả bầu cử đại biểu dự Đại hội; những vấn đề liên quan đến tư cách đại biểu; xem xét việc giải quyết, kết luận các đơn, thư tố cáo và khiếu nại về tư cách đại biểu; báo cáo Đoàn Chủ tịch để trình Đại hội xem xét quyết định những trường hợp không được công nhận tư cách đại biểu (nếu có); báo cáo kết quả thẩm tra tư cách đại biểu để Đại
hội xem xét, biểu quyết công nhận [42, tr.3]
Ban Kiểm phiếu là cơ quan giúp việc bầu cử của Đại hội Ban Kiểm phiếu có
nhiệm vụ hướng dẫn cách thức bỏ phiếu; kiểm tra thùng phiếu; phát phiếu trực tiếp cho đại biểu (hoặc đoàn đại biểu); kiểm phiếu bầu; lập biên bản kiểm phiếu; báo cáo Đoàn Chủ tịch, công bố kết quả bầu cử; ký biên bản bầu cử [42, tr 3]
Như vậy, tổ chức của Đại hội bao gồm: Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Ban
Thẩm tra tư cách đại biểu, Ban Kiểm phiếu và các tiểu ban giúp việc
1.3 Giới thiệu một số nét về cơ quan quản lý tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng
Theo Quy định số 270-QĐ/TW ngày 06 tháng 12 năm 2014 của Ban Bí thư Trung ương về Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam3, cơ quan được giao nhiệm vụ
quản lý tài liệu các phông lưu trữ ĐHĐBTQ của Đảng Quyết định nhấn mạnh “Cục Lưu trữ có chức năng giúp Chánh Văn phòng Trung ương Đảng tham mưu cho Trung
3 Thay thế cho Quyết định số 20-QĐ/TW ngày 23/9/1987 và Quy định số 210-QĐ/TW ngày 06/03/2009 của Ban
Bí thư về Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 40ương Đảng quản lý tập trung thống nhất tài liệu thuộc Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam; trực tiếp quản lý Lưu trữ lịch sử của Trung ương Đảng” [68, tr.2] trong đó
có tài liệu các kỳ ĐHĐBTQ của Đảng
Từ khi được thành lập đến nay4 Cục Lưu trữ luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo vệ, bảo quản an toàn và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ tại Kho Lưu trữ Trung ương Hiện nay, Cục Lưu trữ có chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức được quy định tại Quyết định số 176-QĐ/VPTW ngày 24/03/2016 của Văn phòng Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và chế độ làm việc của Cục Lưu trữ
Theo Quyết định trên, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng có chức năng, nhiệm vụ giúp Chánh Văn phòng Trung ương Đảng tham mưu cho Trung ương Đảng quản lý Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam; nghiên cứu, soạn thảo các văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng về công tác văn thư, lưu trữ và kiểm tra việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương; trực tiếp quản lý Kho Lưu trữ Trung ương; chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất khoa học nghiệp vụ văn thư và lưu trữ đối với các cơ quan,
tổ chức đảng và tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện nhiệm vụ Lưu trữ cơ quan của
Trung ương Đảng và Văn phòng Trung ương Đảng
Để đảm bảo thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ trên, Cục Lưu trữ đã thành lập các phòng chức năng giúp thực hiện từng mảng việc Đến nay tổ chức bộ
máy Cục Lưu trữ như sau:
+) Lãnh đạo Cục Lưu trữ gồm Cục trưởng, một số Phó Cục trưởng
+) Cục Lưu trữ có 7 đơn vị trực thuộc sau đây :
Thành lập theo Quyết định số 21-QĐ/TW ngày 23/9/1987 của Ban Bí thư TW trên cơ sở sáp nhập Vụ Lưu trữ Văn phòng TW và Cục Lưu trữ thuộc Viện Mác-lênin