(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cố vấn học tập tại trường cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi, Đồng Nai
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 3 năm 2019
Nguyễn Thị Nụ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lới cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Giảng viên hướng dẫn, đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức, phương pháp nghiên cứu cũng như hỗ trợ chỉnh sửa những thiếu sót của tôi trong quá trình làm luận văn
Hảo-Có được kết quả nghiên cứu này tôi đã nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô Giảng viên tham gia giảng dạy Sau Đại học, sự quan tâm tạo điều kiện của Ban Giám hiệu, sự tận tình cung cấp thông tin số liệu của lãnh đạo Phòng TS&CTSV, sự đánh giá nhiệt tình của Quý Thầy/Cô, sinh viên đang giảng dạy/theo học tại Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi Tôi xin ghi nhận và cám ơn những giúp đỡ này
Tôi cũng xin cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn thường xuyên quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, nhưng do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ dẫn, đánh giá của Quý thầy cô và tất cả bạn bè, đồng nghiệp
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 3 năm 2019
Nguyễn Thị Nụ
Trang 3TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và quá trình hội nhập sâu rộng do đó nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở nên cấp bách Học chế Tín chỉ ra đời đòi hỏi sự ra đời của chức danh
Cố vấn học tập nhằm hỗ trợ SV có thể làm chủ hoạt động học tập của mình, đặc biệt hạn chế những khó khăn khi chuyển từ môi trường giáo dục phổ thông sang bậc ĐH, CĐ Xuất phát từ nhu cầu thực tế, người nghiên cứu nhận thấy,
đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động Cố vấn học tập tại trường Cao đẳng Sonadezi” hướng tới việc nâng cao nhận thức, thái độ, kiến
thức và kỹ năng của Cố vấn học tập và Sinh viên, đặc biệt khi sinh viên tham gia hoạt động Cố vấn học tập trong nhà trường Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động CVHT Nội dung chương này tập
trung vào việc tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động CVHT, làm rõ các khái niệm cơ bản và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động CVHT
Chương 2: Thực trạng hoạt động CVHT tập tại trường CĐ Sonadezi Đề
tài đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hoạt động CVHT
Nhìn chung, hoạt động CVHT diễn ra đúng quy trình và đạt mục tiêu đào tạo của trường CĐ Sonadezi Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số vấn đề sau: 1/ Đội ngũ CVHT trong nhà trường còn thiếu nhiều kinh nghiệm nên việc tổ chức, thực hiện tư vấn, hỗ trợ, định hướng cho SV chưa đạt hiệu quả cao, chưa đáp ứng yêu cầu của SV và đào tạo theo HCTC; và 2/ Nguyên nhân hoạt động CVHT tại trường chưa đạt hiệu quả cao là do hoạt động CVHT còn khá mới
mẻ đối với CVHT và SV tại trường, CVHT phải kiêm nhiệm nhiều vai trò khác nhau, nhà trường chưa có những hỗ trợ cần thiết cho CVHT trong quá
Trang 4trình thực hiện, mặc khác, công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động còn chưa hiệu quả, chưa đánh giá đúng thực chất
Chương 3: Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động Cố vấn học
tập tại trường CĐ Sonadezi Đề tài đã đề xuất 6 biện pháp, gồm:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác CVHT cho các lực lượng giáo dục trong nhà trường;
Biện pháp 2: Tăng cường tổ chức các hoạt động bồi dưỡng phẩm chất năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CVHT;
Biện pháp 3: Quy hoạch, tuyển chọn, phân công, bố trí đội ngũ CVHT; Biện pháp 4: Nâng cao nhận thức của Sinh viên về hoạt động CVHT; Biện pháp 5: Tăng cường các hoạt động hỗ trợ cho công tác CVHT ở trường CĐ
Biện pháp 6: Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch của đội ngũ CVHT;
Đề tài này đã tiến hành khảo sát Cán bộ QL và CVHT để đánh giá sự phù hợp và tính khả thi của 6 biện pháp được đề xuất Kết quả đánh giá của Cán
bộ quản lý và CVHT cho thấy các biện pháp này rất phù hợp, rất khả thi và có hiệu quả tích cực đối với mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại trường CĐ Sonadezi
Trang 5SUMMARY
In recent years, the development of science and technology's powerful and reaching integration process so that the demand for high quality human resources becomes more urgent Education birth requires the introduction of title advising to assist SV can master its learning activities, in particular limiting the disadvantages when transferred from environmental education to University level ,
far-College Derived from actual needs, the study found, the subject "solutions to improve the quality of academic advising activities in Sonadezi College" aims
to raise awareness, attitudes, knowledge and skills of academic advisors and students , especially when students taking academic counseling activities in the school Subject content includes three chapters:
Chapter 1: the basis of arguments about academic advising activities The content
of this chapter focuses on the synthesis and analysis of domestic and foreign research on academic advising activities, to clarify the basic concepts and identify the factors that influence quality academic advising activities
Chapter 2: Active status academic advisor in Sonadezi College The subject going
into active status learn learning Advisor
Overall, the academic advising activities taking place in the right process and achieving the goal of Sonadezi college training However, there exist some problems: 1/CVHT team in the school's lack of experience should the Organization, practical advice, support, oriented to the SV yet highly effective, yet meet the requirements of the SV and the HCTC training; and 2/active CVHT cause at school yet is effective because the operations CVHT also quite new to CVHT and SV at CVHT have to cum, many different roles, the school has not had the necessary support for the implementation process in CVHT , on the other hand, inspection, evaluation of activities was not effective, not yet appreciated substantially
Trang 6Chapter 3: to propose measures for improving the quality of academic advising
activities in Sonadezi College The subject has proposed six measures, including:
Measure 1: raising awareness about the importance of the work of educational
forces CVHT in school;
Measure 2: organizing the activities fostered quality professional capacity service
for CVHT team;
Measure 3: planning, recruitment, assignment, disposition CVHT team;
Measure 4: measures to raise the awareness of students about CVHT activities;
Measure 5: strengthen the active support for the work in College CVHT Measure 6: strengthen checks, reviews the implementation of the plan, task team
CVHT;
This topic has conducted surveys of managers and academic advisors to assess the suitability and feasibility of the proposed measures 6 Results of reviews of the management and staff of academic advisors showed that these measures are very fit, very feasible and effective for positive with the goal of improving the quality of
academic advising activities in Sonadezi College
Trang 7MỤC LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI ii
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
TÓM TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Kế hoạch nghiên cứu: 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP 7
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 16
1.2.1 Khái niệm cố vấn học tập 16
1.2.2 Khái niệm chất lượng 20
1.2.3 Khái niệm nâng cao chất lượng của hoạt động Cố vấn học tập 21
1.2.4 Khái niệm biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động Cố vấn học tập 21
1.3 Những vấn đề lý luận về hoạt động cố vấn học tập 22
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập 22
1.3.2 Đối tượng của hoạt động cố vấn học tập 24
Trang 81.3.3 Nội dung hoạt động cố vấn học tập 24
1.3.4 Phương tiện thực hiện hoạt động cố vấn học tập 25
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CVHT 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN TRỊ SONADEZI 30
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục của trường CĐ Sonadezi 30
2.1.1 Giới thiệu chung về Nhà trường 30
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà trường 31
2.1.3 Hoạt động đào tạo của Nhà trường 32
2.2 Mẫu khảo sát và công cụ đo lường 33
2.3 Thực trạng hoạt động CVHT tại trường CĐ Sonadezi 36
2.3.1 Nhận thức của CVHT và SV về hoạt động CVHT 36
2.3.2 Nội dung, hình thức, thời gian thực hiện hoạt động CVHT 40
2.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động CVHT 46
2.3.4 Mức độ hài lòng đối với hoạt động CVHT 50
2.3.5 Mức độ tích cực của SV đối với hoạt động CVHT 50
2.3.6 Tiêu chí lựa chọn đội ngũ CVHT 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59
Chương 3: 60
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN TRỊ SONADEZI 60
3.1 Tầm quan trọng trong việc xây dựng biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại trường Cao đẳng Sonadezi 60
3.2 Cơ sở đề xuất các biện pháp 60
3.3 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại trường CĐ Sonadezi 61
3.4 Các Biện pháp nâng cao chất lượng Hoạt động CVHT tại trường CĐ Sonadezi 63
Trang 93.4.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác
CVHT cho các lực lượng giáo dục trong nhà trường 63
3.4.2 Nhóm biện pháp bồi dưỡng phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cố vấn học tập 65
3.4.3 Nhóm biện pháp quy hoạch, tuyển chọn, phân công, bố trí đội ngũ CVHT 67
3.4.4 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức của SV về hoạt động CVHT 71
3.4.5 Nhóm biện pháp tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho công tác CVHT 72
3.4.6 Nhóm biện pháp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch của đội ngũ cố vấn học tập 76
3.5 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp 78
3.6 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 101
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng SV khảo sát theo khoa 34
Bảng 2.2 Thông tin khảo sát CVHT 34
Bảng 2.3 Quy ước mức độ thang đo câu hỏi 35
Bảng 2.4 Nhận thức về khái niệm CVHT 36
Bảng 2.5 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động CVHT 37
Bảng 2.6 Nhận thức về vai trò, mục đích cụ thể của hoạt động CVHT 39
Bảng 2.7 Mức độ thực hiện các nội dung hoạt động CVHT 41
Bảng 2.8 Nhu cầu tư vấn của SV theo năm học 42
Bảng 2.9 Thời gian thực hiện hoạt động CVHT 45
Bảng 2.10 Các yếu tố thuận lợi trong hoạt động CVHT 47
Bảng 2.11 Các yếu tố khó khăn trong hoạt động CVHT 48
Bảng 2.12 Mức độ hài lòng của SV về hoạt động CVHT 51
Bảng 2.13 So sánh các tiêu chí để lựa chọn CVHT giữa CVHT và SV 56
Bảng 3.1 Mức độ cần thiết, khả thi của biện pháp 1 81
Bảng 3.2 Mức độ cần thiết, khả thi của biện pháp 2 82
Bảng 3.3 Mức độ cần thiết, khả thi của biện pháp 3 83
Bảng 3.4 Mức độ cần thiết, khả thi của biện pháp 4 84
Bảng 3.5 Mức độ cần thiết, khả thi của biện pháp 5 85
Bảng 3.6 Mức độ cần thiết, khả thi của biện pháp 6 86
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Mức độ thực hiện các hình thức hoạt động CVHT 44
Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của CVHT về hoạt động CVHT 50
Biểu đồ 2.3 Mức độ tích cực của SV khi tham gia các hoạt động CVHT 54
Biểu đồ 3.1 Đánh giá chung về 6 biện pháp 89
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 80
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật trên toàn thế giới, Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn Đặc biệt là sự cạnh tranh
về nguồn tri thức chất lượng cao
Trước bối cảnh đó, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Với vai trò chủ đạo, nhiều năm qua giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đã tiên phong đổi mới chất lượng Một trong những hướng quan trọng của lộ trình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học (ĐH) Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 là chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) Chỉ thị năm học số 56/2008/CT-BGDĐT ngày 03/10/2008 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục ĐH năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT đã chính thức yêu cầu các trường ĐH và cao đẳng (CĐ) “chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ vào năm học 2009 –2010 hoặc muộn nhất là năm học 2010
Phương thức đào tạo theo tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Chính phương thức này buộc người học phải nắm vững tất cả quy định, nội dung liên quan đến
Trang 13chương trình đào tạo để lựa chọn và đăng ký môn học phù hợp, định hướng nghề nghiệp đúng đắn trong tương lai,…Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi phải có sự giúp
đỡ, tư vấn và hướng dẫn để sinh viên (SV) có thể làm chủ hoạt động học tập của mình, đặc biệt hạn chế những khó khăn khi chuyển từ môi trường giáo dục phổ thông sang bậc ĐH, CĐ Đó là lý do xuất hiện chức danh cố vấn học tập (CVHT) CVHT người tư vấn và hỗ trợ sinh viên phát huy tối đa khả năng học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học, lựa chọn tiến trình học tập, đăng ký học phần phù hợp nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra và tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp Bên cạnh
đó, CVHT còn hỗ trợ tư vấn cho người học trong việc tìm ra các biện pháp khắc phục những khó khăn khi chuyển đổi từ môi trường gia đình vào môi trường xã hội rộng lớn Có thể khẳng định rằng, CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng trong đào tạo tín chỉ và ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập, rèn luyện của SV CVHT còn là cầu nối giữa sinh viên với nhà trường, sinh viên với xã hội, hướng sinh viên đến mục tiêu đào tạo chung của nhà trường và đáp ứng chuẩn nghề nghiệp trong tương lai
Từ năm 2014, Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi (Trường CĐ Sonadezi) đã bắt đầu áp dụng HCTC vào trong đào tạo Đồng thời chức danh CVHT cũng được hình thành trong năm học này Trường đã ban hành quyết định số 44/QĐ-CDS quy định về công tác CVHT Sau hơn 4 năm thực hiện, công tác CVHT đã phần nào hoàn thành được mục tiêu tư vấn và hỗ trợ cho SV Tuy nhiên,
do công tác CVHT còn mới mẻ nên hoạt động CVHT vẫn chưa phát huy hết chức năng, nhiệm vụ, đặc biệt là tình trạng SV không được tư vấn kịp thời dẫn đến tình trạng nghỉ học nhiều trong thời gian qua
Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết trong công tác CVHT, chúng tôi đã
mạnh dạn lựa chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động Cố vấn học
tập tại trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi” cho nghiên cứu của
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hoạt động CVHT tại Trường CĐ Sonadezi, trên cơ sở
đó, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại trường
Trang 143 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động CVHT
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng hoạt động CVHT tại trường CĐ Sonadezi
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại trường
CĐ Sonadezi
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động CVHT tại Trường CĐ Sonadezi
Khách thể khảo sát: Đội ngũ CBQL, CVHT, SV đang theo học tại Trường CĐ Sonadezi
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng hoạt động CVHT tại Trường CĐ Sonadezi
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động CVHT tại trường CĐ Sonadezi hiện nay đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường Tuy nhiên hoạt động CVHT vẫn còn một số bất cập trong việc đáp ứng nhu cầu tư vấn của SV Một trong những biện pháp giúp nhà trường nâng chất lượng hoạt động CVHT là tăng cường các hoạt động hỗ trợ công tác CVHT
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động CVHT đòi hỏi phải xem xét nhiều ở khía cạnh, góc độ, với nhiều nội dung phong phú, song do hạn chế về thời gian nên đề tài nghiên cứu
sẽ giới hạn một số vấn đề sau:
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động CVHT ở các
khoa chuyên môn thuộc trường CĐ Sonadezi
- Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài tổ chức nghiên cứu hoạt động CVHT ở bậc
CĐ chính quy của trường, với 3 khoa chuyên môn gồm: khoa Ngoại ngữ, khoa Kỹ thuật – Công nghệ, khoa Quản trị
- Về đối tượng khảo sát: CBQL, CVHT, SV
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng hoạt động CVHT trong năm học 2017 –
2018 tại hệ CĐ chính quy của trường CĐ Sonadezi
Trang 157 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau: nghiên cứu lý luận, quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn sau, thống kê toán học Trong đó phương pháp nghiên cứu lý luận và điều tra bằng phiếu hỏi là phương pháp nghiên cứu chủ đạo, các phương pháp còn lại bổ trợ thông tin để kết quả nghiên cứu đề tài đầy đủ và khoa học hơn
Do đề tài nghiên cứu còn hạn chế về thời gian nên chúng tôi xin phép không tổ chức thực nghiệm nghiên cứu sản phẩm hoạt động mà chỉ lấy ý kiến chuyên gia thông qua hoạt động phỏng vấn sâu những nội dung về hoạt động CVHT nhằm bổ sung thông tin cho các kết quả nghiên cứu bằng bẳng hỏi
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề
tài
Phương pháp được sử dụng để thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài như sách, báo, tạp chí chuyên ngành, báo cáo, luận văn, luận án, tài liệu, kỷ yếu hội thảo, các văn bản pháp lý,… Những thông tin quan trọng liên quan đến đề tài sẽ được trích dẫn làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và tìm các biện pháp cho vấn
đề đang tìm hiểu
7.2 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương thức cơ bản để thu thập thông tin thực tiễn nhằm xây dựng
lý thuyết và kiểm chứng các giả thuyết đã có Ngoài ra, quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu cụ thể, cảm tính trực quan để so sánh, đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn Đề tài này tập trung quan sát các hoạt động CVHT trong môi trường thực tế để tổng hợp, đánh giá kết quả
Quan sát hoạt động của sinh viên để xác định nhu cầu của SV tại trường Cao đẳng Sonadezi
Quan sát các hoạt động của CVHT để tìm hiểu xem hoạt động có khó khăn gì
và cần cải tiến vấn đề nào
Trang 16Quan sát quá trình CVHT sinh hoạt với SV để tìm hiểu xem CVHT tổ chức các hoạt động nào, sử dụng các phương pháp nào khi tham gia các hoạt động CVHT
7.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: đây là phương pháp nghiên cứu chính
của đề tài
Mục đích: Có những kết quả số liệu thực tế về hoạt động CVHT tại trường CĐ
Sonadezi Ghi nhận những ý kiến đóng góp của các khách thể nghiên cứu về những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại trường
Đề tài sử dụng 3 bộ phiếu câu hỏi:
Bộ phiếu câu hỏi thứ nhất: Khảo sát ý kiến của CVHT
Bộ phiếu câu hỏi thứ hai: Khảo sát ý kiến của SV chia đều cho 3 khoa năm 2017 - 2018, thuộc hệ CĐ chính quy
Bộ phiếu câu hỏi thứ ba: Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CVHT tại Trường
7.5 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học sử dụng các lý thuyết toán học như xác suất, thống kê và logic toán học để phục vụ cho việc nghiên cứu Xác suất là số đo khả năng xuất hiện khách quan của một sự vật, hiện tượng trong những điều kiện nhất định có thể lặp đi lặp lại đến vô hạn Thống kê là dùng các phép tính để kết nối, thiết lập mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng Để có sự tin cậy, số lượng các thống kê phải đủ mức cần thiết để bộc lộ tính chất được lặp đi lặp lại, ổn định ở đối tượng nghiên cứu
Trang 17Đề tài này ứng dụng quy trình xử lý dữ liệu bằng phương pháp thống kê toán học để đánh giá chính xác kết quả thực nghiệm; từ đó rút ra kết luận và khẳng định tính khả thi của đề tài
8 Kế hoạch nghiên cứu:
1 Xây dựng cơ sở lý luận, lập đề cương nghiên cứu 11/2017- 3/2018
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Từ cuối thế kỷ 18, hoạt động CVHT trong trường học xuất hiện tương đối sớm khi các trường ĐH, CĐ đầu tiên được thành lập ở Mỹ như Harvard, William, Mary, Yale,… hoạt động CVHT đã bắt đầu được hình thành [45]
Các tác giả John H Borgard (1981), Creamer (2000), Hagen (2005) cho rằng,
để hoạt động CVHT được tiến hành bài bản và trở thành một phần quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu, đòi hỏi phải có một nền tảng lý luận cụ thể [53, tr.50] Theo
đó, các quan điểm, lý thuyết về sự phát triển của người học đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động CVHT, cụ thể:
Lý thuyết hình thành tâm lý xã hội của Erikson (1963) dựa trên 8 giai đoạn phát triển của con người để chỉ ra 8 giai đoạn khủng hoảng mà SV phải đối mặt trong quá trình học tập Theo đó, nếu có những hỗ trợ tích cực sẽ giúp SV giải quyết được khủng hoảng trong giai đoạn hiện tại, phát triển sang giai đoạn kế tiếp Ngược lại, khi khủng hoảng chưa được giải quyết, có thể làm gián đoạn sự phát triển của
SV [53, tr.53]
Lý thuyết 7 vector của Chickering và Reisser (1993) cho thấy sự thay đổi về mặt tâm lý xã hội của SV Trong những năm đầu ĐH là thời gian để khám phá 3 vector đầu tiên, những năm học tiếp theo SV có thể đối mặt với vector thứ 4, 5 và
có thể là thứ 6, 7 ở bậc học cao hơn Lý thuyết của Chickering và Reisser cho thấy vai trò CVHT là nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ, giúp SV phát triển thông qua hỗ trợ giải quyết những vấn đề trong quá trình trải nghiệm 7 vector: Phát triển cạnh tranh;
QL cảm xúc; Hoạt động tự giác để đạt được sự độc lập; Phát triển mối quan hệ liên
cá nhân; Nhận diện bản thân; Phát triển mục tiêu; Phát triển toàn diện [53, tr.53-56] Dựa trên sự khác biệt của mỗi cá nhân thông qua xu hướng phản ứng trước kích thích từ môi trường bên ngoài và xu hướng sử dụng những nguồn hỗ trợ sẵn
có, nhóm tác giả Myers-Briggs (Myers & McCauley, 1985) phân loại cá nhân theo
Trang 19các cặp đặc điểm tính cách cơ bản: hướng ngoại hay hướng nội; cảm giác hay trực giác; lý tính hay cảm tính; nguyên tắc hay linh hoạt [46, tr.59]
Kolb (1984) cho rằng có 4 phong cách học tập của người học, đó là kiểu hội tụ (Converging), kiểu phân kì (Diverging), kiểu đồng hóa (Assimilating), kiểu điều chỉnh (Accomondating) Đề xuất này của Kolb không chỉ giúp người dạy có định hướng rõ ràng trong việc giáo dục SV, vì không phải tất cả các SV đều có cùng một phong cách học tập, mà còn rất quan trọng trong cách tiếp cận của người cố vấn đối với vấn đề học tập, định hướng nghề nghiệp và các vấn đề về cá nhân của SV [53, tr.59]
Có thể thấy, các lý thuyết trên đây tập trung vào phân loại cá nhân theo từng khía cạnh tâm lý (bên trong), mỗi khía cạnh sẽ quy định tính chất hành động cũng như sự phát triển của cá nhân Khi đó, yếu tố xã hội (bên ngoài) giữ vai trò là nhân
tố tác động lên các khía cạnh này, gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực trong quá trình phát triển của người học Hoạt động CVHT thuộc yếu tố bên ngoài tác động đến quá trình học tập của SV, do đó, CVHT phải luôn dựa trên những nhu cầu, đặc điểm riêng có, tôn trọng sự khác biệt của từng người học để xem xét, quyết định nội dung tư vấn, hỗ trợ cho phù hợp
Phát triển nội dung các quan điểm, Crookston (1972) cho rằng hoạt động tư vấn phải tạo điều kiện cho người học tương tác với môi trường xung quanh, giữa các cá nhân với nhau, hình thành kỹ năng về nhận thức, đánh giá hành vi, ra quyết định và giải quyết vấn đề cho người học [53, tr.52]
Chickering (2006) cũng thống nhất rằng, để đảm bảo về sự cam kết thành công của SV, CVHT phải hướng tới sự phát triển của SV về nhiều mặt bao gồm phát triển học thuật, cá nhân, trí tuệ và xã hội [53, tr.52]
Bên cạnh việc xây dựng nền tảng lý luận, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến những vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạt động CVHT
Theo Brian Gillispie (2009), với sự gia tăng của các trường ĐH trong suốt thế
kỷ 19, hoạt động CVHT đã được định hình rõ ràng hơn trong việc CVHT hướng
dẫn SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực, SV cũng tìm đến CVHT để tìm hiểu các vấn đề về sự công bằng, trách nhiệm xã hội, ngành
Trang 20nghề, (theo Gordon, 1992) Đặc biệt, chức danh CVHT chính thức xuất hiện khi hình thức đào tạo theo HCTC ra đời [45]
Nhà nghiên cứu Lee, Courtland C (2001) cũng đã có bài viết về hoạt động CVHT trong sự đa dạng văn hóa tại Hoa Kỳ hiện nay Theo tác giả, trong số các vấn đề mà CVHT phải đối mặt, việc đáp ứng số lượng ngày càng tăng của SV từ các nền văn hóa khác nhau có lẽ là thách thức lớn nhất Nguyên nhân một phần là
do các dịch vụ tư vấn trường học hiện nay thường không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học [47]
Bài viết của tác giả L DiAnne Borders (2002) đã đặt ra các câu hỏi xoay quanh vai trò của CVHT là Who? What? When? Where? và How? Theo đó, nhiệm vụ của một người cố vấn, một mặt, sử dụng những kỹ năng tư vấn hướng tới mục tiêu tăng cường sự thành công trong học tập và kế hoạch nghề nghiệp cho tất cả SV; mặc khác, CVHT cũng góp phần tạo ra những sự thay đổi về môi trường (lớp học, trường học, gia đình, xã hội), vì họ tin rằng, muốn thay đổi một cá nhân thì trước hết cần phải thay đổi các mối quan hệ xung quanh cá nhân đó [46] Nhóm tác giả Carlson, Laurie A; Portman, Tarrell Awe Agahe; Bartlett, Jan R (2006) tiến hành một cuộc khảo sát với 381 CVHT trong trường học ở các bang Colorado, Iowa và New York về việc sử dụng công nghệ vào công tác tư vấn cho
SV ở Mỹ Kết quả cho thấy, việc tiếp cận công nghệ vào công tác tư vấn ở trường chuyên nghiệp rất hiệu quả đồng thời được sự ủng hộ cao của các cố vấn [43]
Lý thuyết nhân cách của John Holland (1919-2008) nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa kiểu nhân cách của cá nhân và kiểu nghề nghiệp trong xã hội Chúng bao gồm 6 kiểu người trong xã hội; 1/Kỹ thuật (Realistic-R): đó là người thực tế 2/Nghiên cứu (Investigative-I): người có cá ính độc lập, ham hiểu biết, có khả năng định hướng, tự học, tự tổ chức nghiên cứu, khả năng phân tích, viết, toán học 3/Nghệ thuật (Artistic-A): đó là người sáng tạo, độc lập, độc đáo, sức tưởng tượng phong phú, khả năng âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật 4/Xã hội (Social-S) là người thích hợp tác, rộng lượng, ưa phục vụ người khác, có kỹ năng nghe, nói, giảng giải và các kỹ năng làm việc với người khác 5/Chỉ đạo (Enterprising-E) là kiểu người quyết đoán, tự tin, năng động, thích giao lưu, ưu mạo hiểm, có khả năng
Trang 21gây ảnh hưởng đến người khác 6/Tổ chức (Conventional-C): là người có tổ chức, ngăn nắp, tỉ mỉ, chính xác, tin cậy, ổn định, hiệu quả, có khả năng làm việc với các
dữ liệu, số liệu Lý thuyết về kiểu nhân cách theo nghề nghiệp của John Holland rất thích hợp với hoạt động CVHT Việc CVHT nắm được các đặc điểm nghề nghiệp trong xã hội và đặc điểm nhân cách của SV có hiệu quả về việc luwacj chọn nghề nghiệp cho SV
Có thể thấy, hoạt động CVHT đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ khá sớm và đã hình thành một nền tảng lí luận cho hoạt động, tuy nhiên chỉ đến khi HCTC xuất hiện thì những tên gọi và các yêu cầu, quy định liên quan đến hoạt động này mới dần được hoàn thiện Đó là một chặng đường dài để nghiên cứu
và phát triển Hiện nay, các tác giả cũng đã mở rộng việc tìm hiểu những vấn đề hoạt động CVHT phải đối mặt như sự đa dạng trong văn hóa, những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của SV, hay là việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động CVHT,…
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây, hoạt động CVHT được các trường ĐH, CĐ tại Việt Nam quan tâm thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình đào tạo theo HCTC Đã có nhiều bài viết điển hình trên các sách, báo, tạp chí, websites, kỷ yếu hội thảo,… liên quan đến hoạt động CVHT Tuy nhiên, do còn khá mới mẻ nên các nghiên cứu được giới thiệu sau đây chủ yếu tập trung về vai trò và nhiệm vụ CVHT trong công tác hỗ trợ,
tư vấn cho SV, ngoài ra, còn có một vài công trình nghiên cứu về thực trạng hoạt động này tại các trường
1.1.2.1 Nghiên cứu về vai trò và nhiệm vụ của CVHT trong nhà trường
Tác giả Trần Văn Hùng (2010) đã khẳng định CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của SV, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập Tác giả cho rằng, đội ngũ CVHT cần có các chức năng: tư vấn, định hướng, giám sát hoạt động học tập và hướng nghiệp của SV; tham mưu cho lãnh đạo trường, khoa và bộ môn các vấn đề liên quan đến công tác QL đào tạo, nghiên cứu khoa học [20]
Trang 22Bàn về nội dung của công tác CVHT tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã đi sâu vào phân tích vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ làm công tác tư vấn đó là:
Giúp sinh viên chọn chuyên ngành chính Tác giả cho rằng vai trò của đội ngũ làm công tác tư vấn học tập rất quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên thấy được điểm mạnh, điểm yếu của mình để lựa chọn các chuyên ngành phù hợp
Giúp sinh viên lựa chọn, bổ sung hoặc thay thế hoặc bỏ các môn học Tác giả cho rằng sinh viên không có đủ kiến thức và kinh nghiệm để chọn các môn học phù hợp cho chuyên ngành của mình vì vậy sự tư vấn của cố vấn học tập trong trường hợp nầy rất cần thiết
Để sinh viên tích lũy đủ số tính chỉ và tốt nghiệp đúng thời hạn cố vấn học tập phải lưu trữ hồ sơ, kiểm tra chương trình học của sinh viên đại học năm thứ ba
và nhắc nhở các em các môn học còn lại mà các em phải học
Đồng thời cố vấn học tập còn phải giúp sinh viên tiếp cận với các nguồn lực để gặt hái thành công cả trong và ngoài giảng đường [14, tr.26-28]
Nhấn mạnh về nhiệm vụ tư vấn cho người học, Huỳnh Xuân Nhựt (2010) khẳng định tư vấn cho sinh viên trong quá trình học tập tại trường ĐH, CĐ là khâu
vô cùng quan trọng và cần thiết trong quy trình đào tạo theo học chế tín chỉ Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, khâu này chỉ có thể thực hiện tốt ở cấp khoa với sự tham gia của Ban Chủ nhiệm khoa và đội ngũ giảng viên cơ hữu vì đây là đội ngũ hiểu rõ nhất và có chuyên môn nhất đối với các môn học và chương trình đào tạo của khoa [24] Tác giả cũng chỉ rõ để thực hiện tốt khâu này, nhà trường cần có những quy định và chính sách thích hợp cho đội ngũ tư vấn và phải xem công tác này là khâu không thiếu trong quy trình đào tạo tại trường Bên cạnh đó tác giả đề xuất đơn vị tổ chức tư vấn, cách thức tổ chức đội ngũ tư vấn và hoạt động tư vấn học tập trong trường ĐH, CĐ
Tương tự, tác giả Nguyễn Văn Thu (2011) đã nhấn mạnh vai trò của đội ngũ CVHT trong việc phát huy tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập theo học chế tín chỉ Tác giả cho rằng thông qua hoạt động CVHT đội ngũ làm công tác
tư vấn cần rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng học tập cần thiết như:
Trang 23Tổ chức hướng dẫn sinh viên lớp mình phụ trách nghiên cứu tìm hiểu sổ tay sinh viên nhằm giúp SV tìm hiểu nắm vững quá trình phát triển, hệ thống tổ chức và
bộ máy quản lý của nhà trường, nắm vững chức năng cụ thể của các bộ phận quản
lý tạo điều kiện thuận lợi cho các em trong việc liên hệ các công việc liên quan tới học tập và sinh hoạt
Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu, tìm hiểu các quy chế, quy định về công tác học sinh, sinh viên của Bộ, của trường; các loại mẫu đơn, …nhằm giúp cho sinh viên định hướng và lập kế hoạch hoạt động học tập và rèn luyện của bản thân Thực hiện sinh hoạt lớp định kì, nội dung chủ yếu là tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo của nhà trường, các hoạt động đoàn thể chính trị, đặc biệt quan tâm tới công tác tư vấn, hướng dẫn sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học tập, hướng dẫn và rèn luyện các kỹ năng lập kế hoạch tự học….[32]
Bàn về những khó khăn trong công tác CVHT, tác giả Trương Thị Thu Hà (2011) đã chỉ ra công tác này đang phải đối mặt như thiếu đội ngũ làm công tác tư vấn vì vậy việc duyệt kế hoạch học tập của đội ngũ này ở nhiều trường chỉ mang tính chất hình thức Những người đảm nhiệm công tác trên không thể kiểm soát được tình hình học tập của sinh viên dẫn đến tình trạng không hiếm trường hợp khi đến đợt xét tốt nghiệp thì sinh viên mới biết mình quên còn vài học phần chưa đăng
ký hoặc sinh viên học những môn chưa thỏa mãn điều kiện tiên quyết [17]
Nhằm cụ thể mục đích và ý nghĩa của việc tư vấn cho sinh viên, tác giả Phạm Minh Hùng cho rằng giờ tư vấn học tập là một trong những hình thức tổ chức dạy học được sử dụng phổ biến trong đào tạo theo HCTC Đồng thời, tác giả đã đề cập đến mục đích và ý nghĩa của giờ tư vấn học tập Theo tác giả mục đích chính của giờ tư vấn là tạo cơ hội hỗ trợ cho sinh viên trao đổi, giải đáp thắc mắc, hệ thống hóa, cũng cố những vấn đề lý thuyết mà sinh viên chưa nắm vững Tác giả cũng đã khẳng định rằng giờ tư vấn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đào tạo theo HCTC khi trong quá trình học tập có rất nhiều vấn đề sinh viên cần được tư vấn: từ đăng
ký học đến xác định lộ trình tích lũy các môn học, học thêm ngành hai, học tích lũy lại để cải thiện kết quả học tập [19]
Trang 24Bên cạnh các bài viết đăng trên sách, báo, tạp chí, nhiều trường ĐH, CĐ đã tổ chức các buổi hội thảo, tổng kết công tác CVHT, một trong số đó là Hội nghị nâng cao vai trò CVHT được tổ chức vào tháng 06/2011 tại trường ĐH Cần Thơ với một
số bài tham luận đáng chú ý được đề cập sau đây:
Với bài tham luận về “Vai trò và trách nhiệm của cố vấn học tập ảnh hưởng đến sự thành công của sinh viên” của Trần Thị Xuân Mai (2011) Tác giả đã đưa ra rất cụ thể nhiệm vụ trọng tâm của cố vấn học tập cần thực hiện qua từng năm học như sau:
Đối với sinh viên năm thứ nhất CVHT cần: Giới thiệu khung chương trình đào tạo; thành lập ban cán sự lớp; nắm rõ sơ yếu lý lịch của từng sinh viên; lắng nghe sinh viên; Dự họp lớp với sinh viên thường xuyên
Nhiệm vụ trọng tâm của CVHT đối với SV năm thứ hai và năm thứ ba: tư vấn học tập - nghiên cứu khoa học; tư vấn kỹ năng giao tiếp; tư vấn hướng làm luận văn tốt nghiệp – Báo cáo luận văn tốt nghiệp
Nhiệm vụ trọng tâm của CVHT đối với sinh viên năm cuối là tư vấn hướng nghiệp và việc làm cho sinh viên [23, tr.14]
Không chỉ đưa ra những nhiệm vụ cụ thể cho đội ngũ làm công tác tư vấn học tập mà tác giả còn đưa ra kế hoạch để thực hiện hoạt động tư vấn học tập một cách khả thi Đồng thời tác giả cũng phân tích hiệu quả của việc thực hiện các công việc trên giúp nâng cao chất lượng của hoạt động tư vấn học tập nói riêng và nâng cao chất lượng của hoạt động đào tạo theo hình thức tín chỉ nói chung
Trong bài tham luận về “Nâng cao vai trò của cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ” của Đào Ngọc Cảnh (2011) cũng đưa ra nhiệm vụ của đội ngũ CVHT nhưng tác giả tiếp cận một cách tổng quát Tác giả cho rằng CVHT có ba nhiệm vụ
đó là: tư vấn sinh viên trong lĩnh vực học tập, thực hiện việc đánh giá kết quả rèn luyện sinh viên từng học kỳ, tư vấn sinh viên các lĩnh vực khác Trong ba nhiệm vụ trên, tác giả đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ tư vấn cho sinh viên trong học tập Tác giả cho rằng tư vấn, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập và đăng ký học phần một cách hợp lý, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng sinh viên là công việc khó khăn và phức tạp [5, tr.34]
Trang 25“Cố vấn học tập trong học chế tín chỉ - Vai trò và một số đề xuất” của Trần Ngân Bình (2011), Khoa Công nghệ Thông tin &Truyền thông, Trường Đại học Cần Thơ Tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò của một CVHT trong năm đầu tiên là hết sức quan trọng để giúp sinh viên bước vào ngưỡng cửa đại học không phải bâng khuâng và bỡ ngỡ Đồng thời vai trò của cố vấn học tập cũng thể hiện rõ trong việc giúp các em nhanh chóng làm quen với môi trường mới, thầy cô, bạn bè mới mà quan trọng hơn là phải nhanh chóng nắm bắt và làm quen với cách học mới, với những kỹ năng mới [4]
Bài viết về “Vai trò của cố vấn học tập đối với hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên”, Nguyễn Thị Thu Thủy (2011) đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của đội ngũ tư vấn học tập về việc giới thiệu cơ hội nghề nghiệp trong tương lai cho sinh viên là điều cần thiết, giúp các em có “cái nhìn” tổng quát về ngành nghề mình theo học Lòng yêu nghề, sự am hiểu chuyên môn của cố vấn sẽ giúp sinh viên
có thêm nhiệt huyết, đam mê trong học tập Đồng thời cố vấn học tập phải là người
am hiểu về quá trình, kế hoạch đào tạo của ngành học để tư vấn cho sinh viên kế hoạch học tập hợp lý [34]
Tác giả Trần Kim Định (2011) lại chủ yếu nhấn mạnh đến nhiệm vụ nghiên cứu các văn bản, tài liệu có liên quan đến SV như:
Quy định về công tác học vụ dành cho SV
Văn bản liên quan đến công tác SV, đánh giá hoạt động rèn luyện của SV
Các văn bản quy định về SV nội trú, ngoại trú
Các chế độ chính sách, tín dụng SV
Một số quy trình xử lý công việc về công tác SV
Một số mẫu biểu mẫu QLSV [9, tr.61]
Ngoài việc khẳng định vai trò CVHT là nhân tố then chốt trong mối quan hệ giữa Nhà trường – SV – Thị trường lao động, bài viết “Vai trò của CVHT trong đào tạo theo HCTC” của Tô Thiện Hiền đã đề xuất rằng, CVHT phải luôn phối hợp và
hỗ trợ các phòng ban chức năng, các khoa, bộ môn trong việc tổ chức các phong trào, hoạt động ngoại khóa và tham gia các hoạt động đoàn thể cùng SV Đồng thời,
Trang 26tác giả kiến nghị xây dựng bảng công việc cụ thể để hướng dẫn và đo lường kết quả công tác CVHT [16]
1.1.2.2 Nghiên cứu thực trạng hoạt động CVHT tại các trường Đại học, Cao đẳng
Nghiên cứu “Văn bản quy định và hoạt động thực tế của cố vấn học tập” của tác giả Trần Thị Minh Đức (2010) Nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát trên 1564 sinh viên của 17 trường đại học trong cả nước và 244 giảng viên đang đảm nhiệm công tác tư vấn học tập tại các trường Nghiên cứu đã tiến hành đối chiếu các quy chế được ghi trong các văn bản với thực tế hoạt động tư vấn học tập tại các trường, tập trung vào các vấn đề như: Những quy định về chức danh của đội ngũ tư vấn học tập; Tiêu chí lựa chọn đội ngũ tư vấn học tập và hướng dẫn nhiệm vụ cho đội ngũ này; Điều kiện hỗ trợ hoạt động và quyền lợi cho những người làm công tác tư vấn học tập[10, tr.23-32]
“Thực trạng hoạt động cố vấn học tập ở các trường đại học” của Trần Thị Minh Đức, Lê Thị Thanh Thủy, nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề như: nhu cầu tư vấn của sinh viên đại học; kỹ năng tư vấn của đội ngũ tư vấn; đánh giá của đội ngũ tư vấn, của sinh viên và những người có liên quan về kết quả của hoạt động
tư vấn học tập [11]
“Hoạt động cố vấn học tập tại một số trường đại học trực thuộc Đại học Huế” của tác giả Hoàng Thị Nam Phương đã tiến hành điều tra trên 50 giảng viên và 100 sinh viên trực thuộc ba trường Đại học Sư Phạm Huế, Đại học Ngoại Ngữ Huế và Đại học Kinh Tế Huế Trong nghiên cứu nầy tác giả đã đánh giá một số nội dung sau: khối lượng công việc của đội ngũ tư vấn; đánh giá tính chủ động của sinh viên trong hoạt động tư vấn học tập; cơ sở vật chất và điều kiện làm việc hiện nay tại các trường trực thuộc ĐH Huế [26]
Trong bài tham luận “Cố vấn học tập” của Trần Thị Kim Hồng, tác giả tiến hành khảo sát hơn 70 sinh viên, kết quả cho thấy: đa số các cố vấn học tập trong khoa có đầu tư cho công việc của mình thể hiện qua 85.71% ý kiến nhận xét vấn đề
tổ chức quản lý lớp là hợp lý Song song đó vấn đề về kế hoạch học tập có 61.43%
ý kiến sinh viên cho rằng gặp nhiều thuận lợi trong việc lập kế hoạch học tập từng học kỳ là do có sự giúp đỡ của cố vấn học tập và các bạn trong lớp Vấn đề đăng ký
Trang 27học phần có tới 67.14% sinh viên gặp khó khăn trong việc đăng ký học phần do nhiều nguyên nhân khác nhau [18, tr.38]
Nhận xét về thực trạng thực hiện nhiệm vụ của CVHT, trong báo cáo “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Kim Dung đã nhận định “đội ngũ tư vấn còn chưa chuyên nghiệp, chưa phát huy hết vai trò cố vấn cho người học”, chưa có kỹ năng trong thực hiện nhiệm vụ của mình [6, tr.6]
Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2010) đã thực hiện khảo sát “Thực trạng hoạt động của CVHT” trên 10 CVHT và 180 SV năm thứ nhất đến năm thứ 4 tại trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn, ĐH Quốc gia Hà Nội Khảo sát cho thấy, gần 2/3 số SV tham gia điều tra (63,9%) cho biết đã từng nhận được sự trợ giúp của CVHT trong đó đa phần SV (58%) tự chủ động liên lạc với CVHT để nhận
sự trợ giúp Và có khoảng 2/3 SV đánh giá mức độ hài lòng với sự trợ giúp của CVHT ở mức bình thường, hài lòng và rất hài lòng Để góp phần nâng cao hiệu quả
QL giáo dục trong tiến trình đào tạo tín chỉ, tác giả kiến nghị cần phải chú trọng nâng cao kỹ năng tư vấn cho đội ngũ giáo viên, đội ngũ CVHT [28, tr.259]
Như vậy, đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động CVHT Với mục đích nâng cao chất lượng hoạt động Cố vấn trong trường CĐ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu hoạt động CVHT trong đào tạo theo HCTC dựa trên các cơ sở về mặt lí luận được trình bày sau đây
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
Trang 28đề quan trọng; người cố vấn là người am tường về một lĩnh vực nào đó và thường xuyên được hỏi ý kiến để tham khảo khi giải quyết công việc [25 tr.277]
Trong Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền chủ biên, 2001) có giải thích cố vấn khoa học là những nhà khoa học am hiểu sâu sắc trong một lĩnh vực cụ thể được quyền phát biểu ý kiến, đóng góp các giải pháp cho tổ chức hoặc cá nhân tham khảo trong nghiên cứu, nhằm đưa ra quyết định đối với một đề tài, dự án nghiên cứu [15, tr.55]
Ở nước ngoài, chuyên gia tư vấn Chip R Bell đã định nghĩa cố vấn đơn giản
là hành động giúp người khác biết được những điều khiến họ có thể đạt được kết quả cao hơn, hiệu quả hơn so với khi không biết những điều đó [12, tr.95]
Theo chúng tôi, cố vấn là sự trợ giúp của một hoặc một nhóm người có năng lực chuyên môn nhằm giúp cho người được cố vấn có thêm thông tin, lựa chọn để tìm cách giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc
Đặc điểm của cố vấn chỉ mang tính chất đề nghị và gợi ý một giải pháp phù hợp, quyền quyết định vẫn thuộc về người được cố vấn Hay nói khác đi, nhiệm vụ của cố vấn là giúp người cần cố vấn giải quyết vấn đề bằng chính khả năng của họ Khi phân biệt cố vấn với các khái niệm khác, chúng tôi nhận thấy:
Khái niệm tư vấn (consultation) - “việc cung cấp thông tin, cho lời khuyên, trợ giúp những khó khăn tâm lí, chỉ bảo hay hướng dẫn cho một cá nhân hoặc một tổ chức khi họ có nhu cầu” [12, tr.13] và khái niệm cố vấn đôi khi đồng nghĩa vì cả hai đều được hiểu là hành động đưa ra lời khuyên, ý kiến mang tính chất tham khảo để giải quyết vấn đề
Khái niệm cố vấn khác với khái niệm tham vấn (counseling) ở chỗ hoạt động
cố vấn giúp thân chủ ra quyết định bằng cách đưa ra những lời khuyên mang tính chuyên môn cho thân chủ; trong khi đó hoạt động tham vấn giúp thân chủ làm sáng
tỏ vấn đề, xem xét các giải pháp khả thi và giúp thân chủ đưa ra quyết định tối ưu [12, tr.16]
1.2.1.2 Cố vấn học tập
Trang 29Khái niệm CVHT được bắt đầu biết đến khi HCTC ra đời vào năm 1872 tại Viện ĐH Haward, Hoa Kỳ [28] Ở Việt Nam, cụm từ “cố vấn học tập” xuất hiện trong Quy chế đào tạo ĐH và CĐ hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ khi Bộ GD&ĐT chủ trương chuyển đổi đào tạo ĐH sang hình thức HCTC [2, tr.5-6]
Có thể tiếp cận cụm từ CVHT ở hai khía cạnh, đó là quá trình tư vấn, hỗ trợ
SV hoặc là một chức danh được quy định để hỗ trợ SV trong học tập
Tiếp cận theo hướng thứ nhất, Edward "Chip" Anderson (1997) cho rằng, CVHT là một quá trình được tổ chức nhằm giúp SV tiếp cận việc học tập một cách
có tổ chức và ý nghĩa Hoạt động này cũng mang lại cho SV những động lực quan trọng trong quá trình học tập [44, tr.1-3]
Theo hướng tiếp cận thứ hai, tác giả Brian Gillispie (2003) định nghĩa CVHT
là người làm việc trong trường học, giúp SV lựa chọn một cách đúng đắn các khóa học phù hợp để có thể đạt được những thành công trong mục tiêu đào tạo [45] Rouse J.E (2011) còn cho rằng người CVHT có vai trò như một nhà công tác
xã hội để thúc đẩy sự bình đẳng trong trường ĐH [43]
Tác giả Susan D Bates (1991) chỉ ra rằng CVHT không chỉ là người giúp SV đáp ứng yêu cầu về quy định thông qua lựa chọn các khóa học phù hợp, mà khái niệm CVHT có thể được xem xét trong một khía cạnh rộng hơn, đó là một phương tiện để đạt được thành công trong học tập cho SV [52]
Tại Việt Nam, theo quy định của một số trường như ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Học viện Tài chính, ĐH Công nghệ Sài Gòn, CVHT được định nghĩa: là người
tư vấn và hỗ trợ SV phát huy tối đa khả năng học tập, lựa chọn học phần phù hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp và khả năng tìm được việc làm thích hợp; theo dõi thành tích học tập của SV nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn đúng trong quá trình học tập; QL, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của SV
Tóm lại, có nhiều định nghĩa về CVHT, tuy nhiên trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn tiếp cận khái niệm CVHT như là người thực hiện nhiệm vụ tư vấn,
hỗ trợ cho SV (academic adviser) Theo chúng tôi, CVHT là người tư vấn, hỗ trợ
Trang 30cho SV nhằm giúp SV đạt được mục tiêu đào tạo trong HCTC Từ đó có thể hiểu, hoạt động CVHT là những công việc của người tư vấn, hỗ trợ cho SV
*Phân biệt giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và CVHT
Nếu trong đào tạo niên chế, GVCN là người hỗ trợ SV thì khi chuyển sang đào tạo tín chỉ, khái niệm đó được thay thế là CVHT
PGS.TS Nguyễn Kim Sơn đã làm rõ lý do có sự khác biệt giữa GVCN và CVHT: “Khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo tín chỉ tức là đã có sự chuyển đổi về “chất” trong đào tạo SV, SV có được sự chủ động và đặc biệt là chủ động thể hiện hoạt động học tập của mình CVHT sẽ là người định hướng, tư vấn, giám sát hoạt động học tập của SV” [14, tr.25]
Theo điều tra của Nguyễn Thị Minh Đức, Kiều Anh Tuấn (2012) [13, 25], Nguyễn Thị Hằng Phương (2010) [28, tr.259] cho thấy, hiện nay nhiều trường
tr.24-ĐH mặc dù đang đào tạo SV theo phương thức tín chỉ nhưng vẫn có chức danh GVCN, hoặc có trường tồn tại song song 2 chức danh này cho người trợ giúp SV Ngoài ra có trường còn sử dụng thuật ngữ giáo viên hướng dẫn để chỉ CVHT Các tác giả trên cũng cho rằng, mặc dù có sự khác nhau về tên gọi như “CVHT”,
“GVCN”, “tư vấn học tập”, song về chức năng, nhiệm vụ các thuật ngữ này không khác nhau
Theo Phạm Xuân Thu (2011), sự tư vấn về phương pháp học tập của GVCN đối với SV trong đào tạo theo niên chế là khá mờ nhạt, trong khi vai trò này thể hiện khá rõ ở CVHT trong đào tạo theo tín chỉ [33, tr.7]
Với sự tham khảo và tìm hiểu những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy giữa GVCN và CVHT có những điểm tương đồng và khác nhau thể hiện ở:
Giống nhau:
Là người đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập; giúp SV đạt thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp
Đều là cầu nối trung gian giữa nhà trường, SV và xã hội
Hỗ trợ nhà trường trong công tác QLSV để đưa ra quyết định QL phù hợp
Trang 31Khác nhau:
GVCN khi thực hiện nhiệm vụ mang nặng sắc thái của QL hành chính, chủ yếu về QL hồ sơ, thông tin SV; quan hệ giữa GVCN với SV thường theo kiểu một chiều, thậm chí đôi khi mệnh lệnh đơn phương với SV Còn CVHT giữ vai trò
là người tư vấn, hỗ trợ SV trong suốt quá trình học tập, đây là mối quan hệ song phương, dân chủ
GVCN chủ yếu cung cấp cho SV thông tin về nội quy, thông báo của nhà trường hay chia sẻ các kinh nghiệm trong học tập, thi cử, nghề nghiệp Trong khi
đó, CVHT là người giúp SV định hướng, tư vấn, hỗ trợ và giám sát quá trình xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện và lựa chọn nghề nghiệp tương lai của SV
Qua đây chúng tôi nhận thấy, điểm nổi bật của CVHT đó là một chuyên gia tư vấn, hỗ trợ về học tập, rèn luyện và nghề nghiệp cho SV
1.2.2 Khái niệm chất lượng
Có nhiều cách định nghĩa về chất lượng, chúng tôi xin đưa ra một số khái niệm chất lượng như sau:
Chất lượng là cái tạo nên sản phẩm, giá trị của người, sự vật hoặc sự việc [41]
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn [3]
Với quan điểm triết học, chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng biểu hiện qua bên ngoài, qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật mà không tách rời ra khỏi sự vật Sự vật khi vẫn còn bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật, về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính chất quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng
Với quan điểm kỹ thuật, chất lượng là mức độ hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dự kiện, thông số cơ bản; chất
Trang 32lượng của sản phẩm là các chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm, thể hiện sự thoả mãn nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm
Một số định nghĩa khác “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [22]
Như vậy, chúng tôi sử dụng định nghĩa chất lượng là việc đạt được mục đích
một cách hiệu quả và năng suất, đáp ứng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng sản phẩm Chất lượng có thể thay đổi theo không gian và thời gian và theo các điều kiện đảm bảo chất lượng
1.2.3 Khái niệm nâng cao chất lượng của hoạt động Cố vấn học tập
Theo Hoàng Phê (2001), “Nâng cao” là làm cho cao hơn trước, đưa lên mức cao hơn như nâng cao trình độ, đời sống được nâng cao [25]
Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Lân (Nhà xuất bản tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh năm 2006): Nâng cao là “Làm cho tốt hơn lên” [42, trang 1434]
Từ khái niệm trên có thể hiểu nâng cao chất lượng hoạt động CVHT là làm tăng thêm hơn trước về mục tiêu của hoạt động tư vấn, hỗ trợ về học tập, rèn luyện và nghề nghiệp cho SV
1.2.4 Khái niệm biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động Cố vấn học tập
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội: “Biện pháp là cách giải quyết một vấn đề nào đó, đưa ra biện pháp hữu ích; biện pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ” [41]
Tóm lại, qua các nội dung trên, chúng tôi nhận thấy biện pháp nâng cao chất
lượng của hoạt động cố vấn học tập là những việc làm gia tăng sự hài lòng và thỏa mãn nhu cầu của SV về việc chia sẻ, cung cấp thông tin, trao đổi ý kiến, đưa ra lời khuyên, chỉ bảo hay hướng dẫn về hoạt động học tập, hoạt động rèn luyện, định hướng nghề nghiệp cho SV đang học tập tại trường, đáp ứng nhu cầu tư vấn học tập của sinh viên, tại trường ĐH, CĐ có thể được thực hiện thông qua các tiêu chí về mức độ hài lòng của SV, tính khả thi, ích lợi, thuận tiện của hoạt động CVHT Đồng thời, đo lường chất lượng của hoạt động CVHT cũng được thực hiện thông qua các
Trang 33tiêu chí về mức độ hài lòng của đội ngũ tư vấn, đạt mục tiêu tư vấn và đáp ứng yêu cầu cố vấn của sinh viên
1.3 Những vấn đề lý luận về hoạt động cố vấn học tập
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập
Đặc điểm HCTC là tạo điều kiện tối đa để cá nhân hoá quy trình đào tạo, điều này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, hướng dẫn, tư vấn của nhà trường đối với người học Theo Scott Gabbert (2002), một CVHT cần phải đóng nhiều vai trò khác nhau theo từng tình huống thực tế, có thể là một giáo viên, một nhân viên tư vấn hoặc một cố vấn nghề nghiệp [46]
CVHT có vai trò là cầu nối trong mối quan hệ nhà trường - SV – thị trường lao động, theo nghiên cứu của tác giả Mansour (1981), Hemwall và Trachte (2003), Crookston (1994) [46], Tô Thiện Hiền (2011) [16]
Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2010) cho rằng CVHT là những người định hướng, khơi gợi tiềm năng của SV và họ cũng chính là người giúp cho SV nhìn nhận lại những vấn đề mà SV đang gặp phải [27]
Có thể thấy, CVHT chính là người hỗ trợ, tạo những điều kiện thuận lợi cho thành công của SV cả về mặt học tập và nghề nghiệp trong tương lai khi đóng nhiều vai trò khác nhau:
Là một chuyên gia về tư vấn, hỗ trợ học tập và nghề nghiệp cho SV
Là người hỗ trợ nhà trường thực hiện công tác QLSV
Là người tư vấn, giúp đỡ cho SV giải quyết những vấn đề về tâm lý, cuộc sống trong quá trình học tập tại trường
Dựa trên vai trò của CVHT, các tác giả như Lâm Quang Thiệp [31], Trần Thị Minh Đức [11] đề cập đến nhiệm vụ của CVHT tập trung chủ yếu ở 3 hoạt động:
Tư vấn, hỗ trợ SV trong học tập, nghiên cứu khoa học; giúp đỡ SV định hướng nghề nghiệp, hòa nhập môi trường sống; hỗ trợ nhà trường công tác QLSV
Theo quy định của UNESCO (2002) [46], nhiệm vụ của CVHT bao gồm:
- Giúp SV phát triển các kế hoạch học tập đáp ứng được mục tiêu cuộc sống của SV;
Trang 34- Cung cấp cho SV những thông tin chính xác về tiến trình học tập và các yêu cầu cho từng cấp độ, yêu cầu tốt nghiệp;
- Trợ giúp SV hiểu được các chính sách và thủ tục liên quan đến quá trình học tập của trường ĐH;
- Giúp SV tiếp cận được với các nguồn lực hỗ trợ của trường ĐH từ đó thúc đẩy khả năng của SV để đi đến thành công trong học tập;
- Trợ giúp SV vượt qua những vấn đề khó khăn liên quan tới học tập và các vấn đề về cá nhân;
- Nhận diện những điều kiện về mặt hệ thống và cá nhân mà có thể cản trở
SV đạt được những thành tựu học tập và đưa ra những can thiệp phù hợp;
- Xem xét các dữ liệu về nhu cầu đào tạo và học thuật của SV, sự thực hiện, khát vọng và những vấn đề SV gặp phải;
- Tăng cường duy trì liên lạc với SV bằng cách cung cấp một liên lạc cá nhân, qua đó SV đưa ra những yêu cầu, đề nghị, theo cách đó kết nối họ với nhà trường;
Ở các trường ĐH Việt Nam, nhiệm vụ của CVHT cũng được quy định cụ thể trong các văn bản của trường Theo “Quy định công tác CVHT” của trường ĐH Cần Thơ thì CVHT có 7 nhiệm vụ chính [38] Còn theo “Quy chế CVHT” của trường
ĐH Sài Gòn thì CVHT có 3 nhiệm vụ chính, trong mỗi nhiệm vụ chính có rất nhiều nhiệm vụ cụ thể [37]
Nhìn chung, nhiệm vụ cụ thể của CVHT bao gồm:
Hướng dẫn SV nắm vững các quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT và các quy định về đào tạo của trường;
Tư vấn cho SV về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo;
Tư vấn cho SV xây dựng kế hoạch học tập toàn khóa học, lựa chọn môn học, đăng ký học phần đảm bảo sự phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của bản thân SV;
Tư vấn cho SV về phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học;
Định hướng nghề nghiệp và việc làm cho SV;
Trang 35 Thực hiện công tác QLSV;
Tư vấn, định hướng cho SV những vấn đề cá nhân, xã hội, cuộc sống
1.3.2 Đối tượng của hoạt động cố vấn học tập
Đối tượng của hoạt động CVHT là SV đang học tập tại các cơ sở giáo dục CĐ,
ĐH Theo Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (1992), SV là những thanh niên trong lứa tuổi từ 18 đến 23–25 tuổi Lứa tuổi này “lớn” về cả hai phương diện sinh vật và quan hệ xã hội [30, tr.37] Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường CĐ, ĐH
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - SV
là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, SV có những hiểu biết, thái
độ, khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Những thế mạnh của SV so với các lứa tuổi khác là: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển,
có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, SV cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV [39]
Từ những đặc điểm trên, để mang lại hiệu quả trong việc hỗ trợ, giúp đỡ SV, hoạt động CVHT phải được xây dựng nội dung dựa trên nhu cầu, mối quan tâm của
SV theo từng năm học về phương pháp học tập, rèn luyện kỹ năng; về định hướng, lựa chọn công việc tương lai; về ứng xử trong mối quan hệ bạn bè, thầy cô;…
1.3.3 Nội dung hoạt động cố vấn học tập
Để có sự thống nhất về mặt lí luận theo vai trò và nhiệm vụ của hoạt động CVHT, sau khi tìm hiểu các nghiên cứu, chúng tôi chia nội dung tư vấn của CVHT thành các nhóm sau:
Tư vấn về vấn đề học tập: Hướng dẫn SV nắm vững quy chế và quy định về
đào tạo, tìm hiểu chương trình đào tạo; tư vấn SV cách thức xây dựng kế hoạch và phương pháp học tập phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của SV; hướng dẫn SV đăng ký học phần ở từng học kỳ; hướng dẫn cho SV tham gia các hoạt động học
Trang 36thuật, nghiên cứu khoa học; giúp đỡ SV giải quyết những khó khăn vướng mắc trong học tập
Tư vấn về vấn đề hướng nghiệp: Tư vấn hướng nghiệp và việc làm cho SV
(tập trung vào đặc tính nghề nghiệp, thị trường làm việc, nhu cầu của xã hội…); hỗ trợ liên kết với các đơn vị tuyển dụng
Tư vấn về vấn đề đời sống sinh hoạt: Cung cấp thông tin cho SV về nội quy,
các hoạt động của nhà trường; giúp đỡ SV trong việc thực hiện các quy trình, thủ tục hành chính; tư vấn về tâm lý – tình cảm cho SV; giúp đỡ SV giải quyết những khó khăn trong học tập và cuộc sống
1.3.4 Phương tiện thực hiện hoạt động cố vấn học tập
Để CVHT thực hiện hiệu quả công tác được giao, nhà trường cần cung cấp bộ công cụ, tài liệu hướng dẫn đầy đủ các nhiệm vụ, công việc mà CVHT cần phải làm Dựa vào các quy định của nhiều trường ĐH, CĐ chúng tôi cho rằng một bộ công cụ bao gồm những tài liệu và phương tiện sau [35]:
- Số tay CVHT: tập hợp những nội dung cơ bản chung về trường/ngành như:
+ Các quy chế, quy định, văn bản hướng dẫn về quyền lợi, trách nhiệm, yêu cầu đối với CVHT do nhà trường ban hành;
+ Quy chế về đào tạo theo HCTC; quy định về công tác QLSV;
+ Thông tin về chương trình đào tạo, ngành nghề đầu ra, các yêu cầu về kiểm tra, đánh giá, thi cử, biểu mẫu phục vụ cho việc đăng ký/hủy học phần, ;
+ Văn bản, biểu mẫu về chế độ chính sách, học bổng, học phí và các hỗ trợ khác; các biểu mẫu về báo cáo, đánh giá công tác CVHT;
+ Những địa chỉ liên quan đến học tập, rèn luyện của SV như thư viện, trung tâm ngoại ngữ, tin học, Đoàn thanh niên - Hội SV,…
- Sổ họp và sổ biên bản CVHT: Dùng để ghi chép trong các cuộc họp và khi tiếp xúc với SV nhằm ghi nhận các ý kiến của người học và thông tin trả lời cho
SV Công cụ này giúp cho CVHT có thể QL công việc hiệu quả, theo dõi những ý kiến, nắm bắt nhu cầu của người học qua đó có biện pháp hỗ trợ, đồng thời phản
Trang 37ánh về cho nhà trường Đây cũng là một trong những cơ sở nhà trường có thể tham khảo trong việc xét thi đua, khen thưởng cho CVHT hằng năm
- Hồ sơ SV do CVHT phụ trách: Danh sách lớp, hồ sơ lý lịch SV, thông tin về kết quả học tập, rèn luyện của SV, thông tin liên lạc với ban cán sự lớp,…
- Tài liệu trong các đợt tập huấn về hoạt động CVHT: Tài liệu tập huấn về quy chế đào tạo theo HCTC, về kỹ năng tư vấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho CVHT
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CVHT
1.3.5.1 Yếu tố chủ quan
Năng lực, phẩm chất của đội ngũ quản lý
Đội ngũ quản lý nhà trường là bộ phận có nhiệm vụ đề ra các chính sách đường lối, phương hướng cho sự phát triển của tổ chức, điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo ngoài trình độ chuyên môn phải có tầm nhìn xa trông rộng để có thể đưa ra các định hướng phù hợp cho sự phát triển của tổ chức
Đặc điểm của lao động QL là loại lao động trí óc sáng tạo và phức hợp Đối tượng của hệ thống quản lý bao gồm nhiều người, nhiều sự vật và sự việc với nhiều trình độ, quy mô, cấp độ khác nhau và luôn có sự biến động Lao động quản lý đòi hỏi người quản lý phải có kiến thức tổng hợp và vận dụng tổng hợp hiểu biết nhiều lĩnh vực về kinh tế văn hóa khoa học xã hội đồng thời chuyên môn phải vững vàng
Năng lực, phẩm chất của đội ngũ cố vấn học tập
Trên thực tế, CVHT là những giảng viên, chuyên viên kiêm nhiệm Công tác CVHT không được đào tạo một cách bài bản mà chủ yếu được các giảng viên, chuyên viên đúc rút qua quá trình làm việc Do đó, năng lực của người CVHT có ảnh hưởng nhất định đối với công tác CVHT ở trường CĐ Các CVHT không những nắm vững nội quy, quy chế đào tạo… mà còn phải là một cố vấn có các kỹ năng như: kỹ năng ứng xử, giao tiếp; năng lực cảm hóa, thuyết phục, xây dựng uy tín; kỹ năng tổ chức, lãnh đạo mọi hoạt động của tập thể; kỹ năng phối hợp với các lực lượng GD khác, …
Hiệu quả công tác CVHT chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất của người làm CVHT Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ CVHT là phải có những biện pháp kích thích, tạo động lực cho
Trang 38đội ngũ này luôn phát triển Bản thân mỗi CVHT phải không ngừng phấn đấu học tập, trau dồi, rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ và thực sự làm tấm gương sáng cho sinh viên noi theo
1.3.5.2 Yếu tố khách quan
Điều kiện kinh tế - văn hóa – khoa học – xã hội
Điều kiện kinh tế văn hóa khoa học xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của GD Sự biến động của dân số, sự bất ổn của nền kinh tế, truyền thống, phong tục văn hóa… cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách nhân sự của nhà trường
Trong điều kiện hiện đại, xã hội ngày càng phức tạp, quan hệ xã hội càng phong phú, SV tiếp cận với thông tin bằng nhiều nguồn khác nhau, dễ bị tác động, ảnh hưởng, … Vì thế không ít SV, lúc phổ thông là những học sinh ngoan khi lên
CĐ đã trở thành những SV cá biệt Điều này càng làm cho công tác CVHT ngày càng phức tạp hơn
Cũng trong điều kiện phát triển kinh tế như hiện nay, do ảnh hưởng của cơ chế thị trường thì không ít các bậc cha mẹ chỉ quan tâm đến việc làm kinh tế cộng thêm với việc sống xa gia đình của SV, không có sự quan tâm, nhắc nhở thường xuyên của phụ huynh, cho nên CVHT đôi khi còn phải làm cả những công việc thay cho cha mẹ sinh viên như tư vấn về quan hệ gia đình, tình cảm lứa đôi,…
Quan điểm, chủ trương về hoạt động CVHT ở trường Cao đẳng
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo và coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu
CVHT chỉ là một chức danh trong đào tạo theo HCTC Tuy nhiên với cương
vị là những giảng viên kiêm nhiệm cho nên những chỉ thị, quyết định, nghị quyết…về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD chính là cơ sở để các trường CĐ cụ thể hóa thành các văn bản hướng dẫn đối với đội ngũ mới này Đây cũng là cơ sở để Ban Giám hiệu các trường hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển đội ngũ CVHT khi chuyển sang hình thức đào tạo theo HCTC
để phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới
Sự kết hợp giữa đội ngũ CVHT và các lực lượng giáo dục khác
Trang 39Hiệu quả của một lớp khóa học phụ thuộc một phần quan trọng vào hoạt động
và phẩm chất của CVHT và các giảng viên bộ môn khác CVHT thông qua giảng viên bộ môn để nắm vững hơn thông tin về tập thể lớp mình cố vấn, kết hợp với giảng viên bộ môn để theo dõi toàn diện SV, đồng thời CVHT cũng giúp giảng viên
bộ môn có thêm thông tin về những SV có hoàn cảnh khó khăn trong học tập và rèn luyện … cùng thống nhất với nhau phương pháp bồi dưỡng giúp đỡ SV để cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Thực tế cho thấy CVHT lớp nào quan tâm đến công tác của chi đoàn và thường xuyên kết hợp với tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên Việt Nam để tổ chức các hoạt động giáo dục, hoạt động ngoại khóa thì hiệu quả GD được nhân lên gấp bội, SV lớp khóa đó năng động, nhiệt tình, hăng hái
và ngược lại, nếu CVHT nào thiếu quan tâm đến công tác của tổ chức Đoàn, Hội thì
SV lớp khóa đó thiếu các kỹ năng, ù lì, bị động
Chế độ chính sách đối với đội ngũ cố vấn học tập
Nếu đánh giá về “lượng” thì công tác CVHT có thể được coi là công tác phụ của giảng viên, chuyên viên Trong thực tế nhiều trường ĐH, CĐ ở Việt Nam còn thiếu giảng viên, việc giảng viên dạy vượt số giờ quy định mà lại phải kiêm nhiệm công tác CVHT thì dù có muốn họ cũng thật khó có thời gian đầu tư để nâng cao hiệu quả của công tác này Do đó, để hoạt động CVHT mang lại kết quả cao thì phải gắn liền với các chính sách hợp lý, tạo ra động lực phát triển
Tóm lại, trong quá trình đánh giá, tìm biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động CVHT cần vận dụng, kết hợp các nhân tố cả chủ quan và khách quan nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất
Trang 40Luận văn đã phân tích cụ thể những vấn đề lý luận của hoạt động CVHT bao gồm vai trò, nhiệm vụ của CVHT, đối tượng, nội dung và các phương tiện hỗ trợ của hoạt động CVHT, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CVHT
Việc nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động CVHT làm cơ sở để đề tài xây dựng công cụ tìm hiểu, đánh giá thực trạng hoạt động CVHT (chương 2) và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động CVHT ở trường CĐ Sonadezi (chương 3) Qua đó giúp nhà trường sớm hoàn thiện quy trình đào tạo theo HCTC, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện và yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu xã hội