Nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương và lề phát lương trong lễ hội đền Trần Thương cùng những sự kiện liên quan như nhân vật được thờ… Phạm vi nghiên cứu : ở xã Nhân Đạo huyện Lý Nhân Hà Nam.
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chânthành tới các cán bộ Phòng văn hóa huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã tận tình chỉbảo, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu hữu ích để hoàn thành bài viết
Ngoài ra em cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy Nguyễn Tiến Dũng- giảngviên hướng dẫn đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho chúng em hoàn thành đợt kiếntập và làm tốt công việc được giao
Đề tài này em dựa vào sự nỗ lực của bản thân và sự tham khảo tài liệu củacán bộ phòng văn hóa, do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên khó tránh khỏinhững thiếu xót rất mong thầy (cô) và các bạn giúp đỡ và đóng góp ý kiến
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội
Nguyền Thị Thanh Thủy
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề
4 Mục đích nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Bố cục đề tài
Chương 1: Đặc điểm tình hình vị trí địa lý- kinh tế- văn hóa, xã hội của địa phương và về di tích đền Trần Thương (huyện Lý Nhân- Hà Nam)
1.1 Giới thiệu về huyện Lý Nhân- Hà Nam
1.1.1 Vị trí địa lý
1.1.2 Điều kiện kinh tế
1.1.3 Điều kiện văn hóa xã hội
1.2 Khái quát về đền Trần Thương
1.2.1 Lịch sử hình thành đền
1.2.2 Nhân vật được thờ
Chương 2: Mô tả về lễ hội đền Trần Thương – những giá trị văn hóa của đền
2.1 Di tích đền Trần Thương
2.1.1 Sự kiện và truyền thuyết kho lương nhà Trần
2.1.2 Đền Trần Thương qua các thời kỳ lịch sử
2.1.3 Giá trị lịch sử văn hóa và du lịch đền Trần Thương
2.2 Lễ hội đền Trần Thương
2.2.1 Giới thiệu chung về lễ hội
2.2.2 Quy trình tổ chức lễ hội (phần lễ)
2.2.3 Phần hội
Trang 32.2.4 Ý nghĩa của lễ hội
Chương 3: Thực trạng- giải pháp và kiến nghị trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của di tích vả lễ hội đền Trần Thương
3.1 Thực trạng
3.2 Những kiến nghị - giải pháp
3.3 ý kiến của bản thân
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông ta, đã để lạinhững di sản văn hóa, những di tích lịch sử, di tích lịch sử văn hóa và nhiều lễhội truyền thống gắn liền với văn hóa vật thể, phi vật thể, văn hóa thành văn…vôcùng quý giá từ ngàn xưa cho đến ngày nay Trải qua bao thăng trầm của lịch sửvới những cuộc chiến tranh ác liệt cộng với các nền văn hóa du nhập từ bênngoài vào song bản sắc văn hóa Việt luôn được cha ông chúng ta trân trọng vàgiữ vững ở nhiều thập kỷ của thế kỷ XX, sang đến thế kỷ XXI và hiện nay
Đất nước ta sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo đã đạt nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - vănhóa- xã hội trên tất cả những lĩnh vực Bên cạnh đó ngoài những thuận lợi thìcũng gặp không ít khó khăn, thử thách, những thời cơ thuận lợi và thách thứcđan xen trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong bước phát triển của tìnhhình hội nhập cũng có sự chuyển tiếp ồ ạt của văn hóa ngoại lai vì vậy sẽ khôngtránh khỏi sự tác động của cả mặt tích cực và tiêu cực Chính vì vậy nền văn hóatruyền thống hàng nghìn năm có nguy cơ bị mai một hoặc nói cách khác nền vănhóa sẽ có thể bị đồng hóa Điều đó đặt cho mỗi chúng ta đặc biệt là những nhànghiên cứu văn hóa phải có được những giải pháp hiện hữu để bảo tồn phát huynhững giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc chính vì vậy việc nghiêncứu các di tích, lễ hội là một việc góp phần bảo tồn những giá trị đó
Huyện Lý Nhân-Hà Nam là nơi có hằng trăm di tích lịch sử văn hóa trong
đó có 18 di tích đã được nhà nước xếp hạng Bao gồm một số di tích như đềnTrần Thương ở nơi “Dư Phúc Địa”- thờ anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương
Trang 5Trần Quốc Tuấn, ngoài ra có đền thờ bà Mỵ Ê, đền thờ bà Vũ Nương còn lưudấu tích của vua Lê Thánh Tông truyền lại, được Nguyễn Dữ đưa vào sách
“truyền kỳ mạn lục” thế kỷ XVII Còn có cuốn sách đồng ở xã Bắc Lý…
Nhân dân Lý Nhân chăm chỉ, cần cù sáng tạo thời phong kiến có nhiềungười đỗ đạt, Lý Nhân còn là quê hương của nhà văn liệt sĩ Nam Cao, có PhạmTất Đắc – người thanh niên yêu nước tác giả của bài thơ “chiêu hồn nước” nổitiếng Tất cả những yếu tố ấy đã tạo cho Lý Nhân có điều kiện phát huy truyềnthống, xây dựng đời sống văn hóa trong đó có những yếu tố để phát triển du lịch,xây dựng các khu di tích lịch sử, đưa các di tích lịch sử trở thành trung tâm đểphát triển du lịch tâm lịnh, du lịch lễ hội một trong những di tích lịch sử nổitiếng, để lại dấu ấn trong lòng du khách là đền Trần Thương thuộc xã Nhân Đạo-
Lý Nhân- Hà Nam Đây là một ngôi đền quy mô, bề thế nhất ở tỉnh Hà Nam thờHưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn người có công trong cuộc kháng chiếnchống quân Nguyên- Mông lần 2 Dân gian thường có câu “ Sinh Kiếp Bạc- thácTrần Thương – quê hương Bảo Lộc” chính là để nói đến địa danh này
Bởi vậy em chọn đề tài “Giá trị văn hóa lịch sử của đền Trần Thương” xãNhân Đạo- Lý Nhân- Hà Nam Nhằm giúp mọi người hiểu rõ hơn về di tích cũngnhư lễ hội nơi đây để từ đó có ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị vănhóa truyền thống của dân tộc
Trong tương lai không xa trên mảnh đất này sẽ có những cây cầu lớn bắcqua sông Hồng nối liền Hà Nam với các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng.Đây là điều kiện thuận lợi để khu di tích lịch sử văn hóa, tâm linh đền TrầnThương phát huy tốt giá trị trở thành điểm du lịch tâm linh, tín ngưỡng quantrọng của tỉnh Hà Nam
Trang 62.Lịch sử nghiên cứu.
Di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương được công nhận là di tích lịch sửvăn hóa cấp quốc gia năm 1989 Tuy nhiên viết về đền Trần Thương hiện nay córất ít chủ yếu chỉ có các bài viết trên các tạp chí của tỉnh Hà Nam như:
-Tạp chí văn hóa Hà Nam Xuân Canh Dần 2010: nói về biểu tượng thiêngđền Trần Thương kho lương nhà Trần của Quốc Toản
- Tạp chí văn hóa thông tin Hà Nam: đền Trần Thương lịch sử và lễ hội củaMai Khánh
- Ngoài ra còn có một số tạp chí khác như tạp chí sông Châu của hội vănhọc nghệ thuật tỉnh, tạp chí văn hóa thể thao và du lịch…
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa đền Trần Thương và lề phát lươngtrong lễ hội đền Trần Thương cùng những sự kiện liên quan như nhân vật đượcthờ…
Phạm vi nghiên cứu : ở xã Nhân Đạo- huyện Lý Nhân- Hà Nam
4.Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu tìm hiểu di tích đền Trần Thương sẽ góp phầnlàm sáng tỏ những giá trị lịch sử văn hóa của dân tộc Qua đó bồi dưỡng thêmtruyền thống yêu nước, trân trọng những giá trị văn hóa của cha ông cho nhândân địa phương đặc biệt là thế hệ trẻ học sinh, sinh viên có ý thức trách nhiệmtrong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử này
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học nhưdân tộc học, lịch sử, văn học dân gian…
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp điền dã, khảo sát, ghi chép …sau đótổng hợp, hệ thống hóa các tư liệu liên quan để phân tích, đánh giá
Trang 8Chương 1 Đặc điểm vị trí địa lý- kinh tế- văn hóa xã hội của địa phương và về di tích đền Trần Thương.
1.1 Giới thiệu về xã Nhân Đạo- Lý Nhân – Hà Nam.
1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Lý Nhân là 1 trong 6 huyện của tỉnh Hà Nam, là vùng đất được hìnhthành sớm ngay từ những buổi đầu dựng nước Trải qua quá trình phát triển hàngnghìn năm Dưới thời Trần, huyện Lý Nhân thuộc lộ Lợi Nhân Niên hiệu QuangThuận (1460) đời vua Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo thừa tuyên đổi
lộ Lợi Nhân thành phủ Lị Nhân, đồng thời đổi tên huyện Lý Nhân thành huyệnNam Xương hay Nam Xang Sau cách mạng tháng Tám lấy tên huyện cũ làhuyện Lý Nhân Hiện nay huyện Lý Nhân có 23 xã, thị trấn thì 19 đơn vị giữunguyên trong đó có xã Nhân Đạo (trừ 4 xã Phú Phúc, Tiến Thắng, Xuân Khê,Hòa Hậu và thị trấn Vĩnh TRụ đổi tên) với 347 thôn, dân số trên 198.000 dân
Trước đây huyện Lý Nhân thuộc châu Lợi Nhân của Đông Đô, có tên gọiqua các thời kỳ như “Lợi Nhân, Lỵ Nhân, Nam Xương…” từ đời Nguyễn đếnnay lấy tên là Lý Nhân Địa danh của huyện có quan hệ khăng khít với NamĐịnh, Hưng Yên, Thái Bình nên con người nơi đây đã tiếp thu được những tinhhoa văn hóa của nhiều vùng như văn hóa Trấn Sơn Nam, hay ở Phố Hiến (HưngYên) Sự hòa quyện các nền văn hóa tạo cho đất và người Lý Nhân nói chung vàngười dân xã Trần Thương nói riêng tiếp nhận được những đặc sắc, độc đáotrong nền văn minh sông Hồng đậm đà bản sắc
Trang 9Thôn Trần Thương nằm ở trung tâm của Đạo là thôn Khu Mật khi xưa,phía bắc giáp với xã Bắc Lý, phía Nam giáp trục đường tỉnh lộ ĐT 491 và xãNhân Hưng; phía Đông giáp thôn Đội Xuyên Do quá trình cải tạo canh tác nênđồng đất thôn Trần Thương tương đối bằng phẳng hiện nay Trần Thương làthôn có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế trang trại nuôi cá, trồng sen và dịch vụ
du lịch vì thuận lợi về giao thông Trong nhiều năm qua Đẳng bộ và nhân dânthôn Trần Thương đã tích cực phát huy những điều kiện thuận lợi đó để xâydựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh Nơi đây có địa văn hóa kiệt tác
và là vùng quê giàu truyền thống văn hóa, con người cần cù sáng tạo, trung dũngkiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Đặc biệt là tinhn thần tươngthân tương ái, hướng về cội nguồn
Xã Nhân Đạo nằm về phía Đông của huyện Lý Nhân, giữa hai con sông làsông Hồng và sông Long Xuyên Phía Nam và phía Tây Nam giáp huyenj BìnhLục lấy sông Châu làm ranh giới phía Bắc và Đông giáp xã Đạo Lý và Chân Lý.Phía Đông và Đông Nam giáp sông Hồng và Thái Bình Phía Tây giáp xã Bắc
Lý Diện tích đất đai toàn xã khoảng 661,59 ha; dân số 3960 người/1203 hộđược phân bố ở 8 xóm Nhân Đạo thuộc vùng đồng chiêm trũng của huyện
1.1.2 Điều kiện kinh tế
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, đời sống nhân dân Lý Nhân nóichung, nhân dân thôn Trần Thâương và xã Nhân Đạo nói riêng vô cùng cực khổ
vì ở vào vùng nhiều đầm trũng nên quanh năm ngập úng, mùa màng thất thu.Đời sống nhân dân toàn dựa vào nông nghiệp là chính Hầu hết ruộng đất đều rơivào tay địa chủ cường hào số còn lại cho nhân dân lao động, có nhà không có lấymột mảnh đất cắm dùi Ruộng đất đã ít tập quán canh tác lại lạc hậu thườngxuyên bị hạn hán lũ lụt đe dọa, sưu cao thuế nặng nên cuộc sống của người dânrơi vào cảnh bần cùng Nghề canh nông không đủ sống nên nhiều gia đình phải
Trang 10rời bỏ làng xóm quê hương phiêu bạt kiếm sống khắp nơi Trong đó 1 số người
đi làm phu cho Pháp ở mỏ than Hòn Gai hay các đồn điền cao su ở miền Nam
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chi bộ và chính quyền xã NhânĐạo đã lãnh đạo nhân dân tích cực sản xuất, khai phá cải tạo ruộng đồng, trồngnhiều cây hoa màu chống “giặc đói” Cùng với việc phát triển kinh tế ổn địnhcuộc sống, nhân dân địa phương còn nô nức thi đua xây dựng “đời sống mới”.công tác bình dân học vụ chống giặc dốt được đẩy mạnh và kết quả là xã NhânĐạo được công nhận là một trong những xã thanh toán sớm nạn mù chữ
Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy chính quyền địa phương, nhândân thôn Trần Thượng nói riêng, xã Nhân Đạo nói chung đã phát huy truyềnthống đấu tranh cách mạng, đoàn kết một lòng lao động sáng tạo, đẩy mạnh côngtác chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các công trình giao thông nông thôn,thủy lợi… trong những năm qua riêng thôn Trần Thương có được thu nhập bìnhquân trên đầu người đạt 5-6 triệu đồng/ người/ năm Năng suất lúa bình quân đạt
120 tạ/ha, bình quân lương thực 950 kg/ người/ năm Bên cạnh trồng lúa địaphương còn phát triển các loại cây hoa mầu khác như sen, bí, ngô… đặc biệt cácdịch vụ như mộc nề, say xát phát triển mạnh đã giải quyết công ăn việc làm chohàng trăm lao động đến nay 100% đường làng ngõ xóm được bê tông hóa Hệthống mương máng tưới tiêu được kiên cố hóa, phục vụ kịp thời cho sản xuấtnông nghiệp các sản phẩm nông nghiệp của thôn sản xuất ra rất được ưu chuộngnhư hạt gạo, hạt sen Trần Thương… được tiêu thụ ở khắp các nơi trong và ngoàitỉnh Sản phẩm cá nuôi ở các ao và đầm thì có tiếng được khách hàng ưu chuộng
Vì vậy mà có câu “ Cá Nhân Đạo- gạo Trần Thương”
1.1.3 Điều kiện về văn hóa- xã hội
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thôn Trần Thương xãNhân Đạo nói riêng, huyện Lý Nhân nói chung đều chịu cảnh gian truân vất vả,
Trang 11sưu cao thuế nặng trong sự chèn ép, áp bức của thực dân phong kiến, cùng boinjhương lý cường hào…
Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân cả xã cùng nhân dân toànhuyện chung tay xây dựng đời sống mới và phát triển kinh tế, chống giặc đói,giặc dốt, tổ chức bình dân học vụ và phát triển trên mọi mặt
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, xã Nhân Đạo và nhân dânthôn Trần Thương đã cùng cả nước tham gia kháng chiến chống Mỹ, thực hiệnnghĩa vụ của hậu phương “ thóc không thiếu 1 cân- quân không thiếu 1 người”
Về xây dựng đời sống văn hóa trong hơn 10 năm qua từ khi thực hiệnnghịn quyết TW 5 (khóa VIII) của Đảng đến nay luôn được cán bộ và nhân dântrong toàn xã quan tâm thực hiện đến nay cả xã có 4/8 thôn đạt danh hiệu làngvăn hóa cấp tỉnh bằng 50% Riêng thôn Trần Thương đạt danh hiệu làng văn hóanăm 2004 sớm hơn cả còn lại đều đạt danh hiệu trong năm 2005 và 2006 so vớitoàn huyện là đơn vị muộn hơn cả song việc thực hiện cuộc vận động “toàn dânxây dựng đời sống văn hóa” của khu dân cư do UBTW Mặt trận tổ quốc phátđộng và duy trì từ năm 1998 đến nay đã có hiệu quả đáng kể trong toàn xã,100% với 698 hộ gia đình cả xã đăng ký xây dựng danh hiệu gia đình văn hóahằng năm đạt từ 630-650/698 gia đình đạt bình quân bằng 78-85% Điển hìnhnhư năm 2009 đat 650/698 hộ bằng 93% Hằng năm các khu dân cư đạt danhhiệu khu dân cư tiên tiến đạt 85-90% cả xã Toàn xã có 475 học sinh trung học
cơ sở và 380 học sinh tiểu học đến năm 2010 đều đạt là đơn vị chuẩn giáo dụcphổ cập THCS
Nhân Đạo có 1 trạm y tế năm 2009 được công nhận là xã có trạm chuẩn về
y tế với công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Có 2/8 làng văn hóa đạt làngsức khỏe toàn xã có 21% số gia đình thường xuyên tập thể dục, số người thườngxuyên luyện tập TDTT là 23,5% Nhân dân và cán bộ xã Nhân Đạo và thôn Trần
Trang 12Thương đang tích cực xây dựng và tăng cường các thiết chế văn hóa và thiết chếTDTT để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa và nhu cầu luyện tập TDTT củanhân dân Tiếp tục đấy mạnh cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống mới”Xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội thôn TrầnThượng được UBND tỉnh Hà Nam công nhận làng văn hóa năm 2004, các thônxóm trong xã quyết tâm giữ vững các danh hiệu đạt được
Hiện nay tất cả các thôn xóm đều có nhà văn hóa khu vui chơi giải tríTDTT,nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Bên cạnh đó việc pháttriển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế luôn được chú trọng, công tác xóa đóigiảm nghèo, tương thân tương ái, đền ơn đáp nghĩa cùng các phong trào khácđều được quan tâm
1.2 Khái quát về đền Trần Thương
1.2.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm ngôi đền.
Đền Trần Thương là di tích tiêu biểu của tỉnh Hà Nam nói riêng và của cảnước nói chung, hội tụ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật tâm linh lâu nayđược nhiều người biết đến
Đền Trần Thương thuộc thôn Miễu, xã Trần Thương, tổng Thổ Ốc, huyệnNam Xang Thời Lý- Trần thuộc Châu Lợi Nhân, lộ Đông Đô Năm Minh Mệnhthứ 12 (1831) lệ vào tỉnh Hà Nam, nay là thôn Trần Thượng, xã Nhân Đạo,huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Đền Trần Thương nằm ở trung tâm của thôn.Đường đến đền Trần Thương du khách có thể đi từ thành phố Phủ Lý theo quốc
lộ 62 cũ (nay là ĐT 491) về thị trấn Vĩnh Trụ (khoảng 14km) sau đó tiếp tục đi
về phía Cầu Không đi khoảng 4km nữa đến Cống Tróc thì rẽ trái hoặc đếnđường tâm linh tới sâ quảng trường hành lễ cách đó 200m vào sân thì đến đền.Ngoài ra du khách có thể đi từ Nam Định theo đường 63 cũ rồi theo đường 491
Trang 13đi tiếp hoặc đi dọc theo đường đê sông Hồng đến điếm Tổng rẽ về Trần Thương.
Du khách đến thăm đền có thể đi từ hai phía: phía dốc thôn Đội Xuyên hoặc phíaCống Tróc Con đường liên thôn dẫn vào đền được rải đá sạch sẽ hai bên đườngrợp bóng cây
Đền Trần Thương là một trong ba ngôi đền lớn của vùng châu thổ sôngHồng, nơi thờ Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vàcác bộ tướng có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông thế kỷXIII Theo các già làng cho biết xã Nhân Đạo xưa gồm các thôn Đội Xuyên,Hoàng Xá, Khu Mật Mảnh đất này ngày ấy lau sậy um tùm, xen kẽ là những gòcao, cư dân thưa thớt nhưng lại có vị trí giao thông hết sức thuận lợi, có thể vàosông Châu ra sông Hồng, ngược lên Thăng Long hoặc xuôi ra biển
Trên đường đi đánh quân Nguyên, Trần Hưng Đạo thấy thế đất ở đây rấtđẹp bèn đặt ở đây một kho lương lớn nhất, trong sáu kho lương thực để phục vụcho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông thế kỷ XIII Bằng nhãn quancủa nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc Trần Quốc Tuấn chọn nơi cất giữ lươngthảo, khí giới với thế đất “hình nhân bát tướng” và thuận tiện cho việc chi viện
từ tổng kho Thăng Long (do bà Nguyễn Thị Duyên ở làng Giảng Võ xưa coi được nhân dân tôn là Bà Chúa Kho) Kho lương này có thể tiếp ứng quân lươngxuôi sông Hồng về hay từ biển qua cửa Tuần Vương vào Cũng từ vị trí này cóthể chi viện cho quân ta ở Nam Thanh (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng),Châu Hoan, Châu Ái (Nghệ An- Thanh Hóa) Địa thế này rất thuận tiện cho việcvận chuyển lương thảo của triều đình đến hoặc quân lương khí giới của giặc tiếpviện đường biển quân ta cướp được đưa về Địa thế vùng chiêm trũng thì hiểmyếu và khó với giặc nhưng quân binh nhà Trần giỏi sông nước nên hợp ý quân.Vùng đất này có 6 con mương nhỏ gọi là “lục đầu khê” như 6 con rồng chầu về
giữ-Đi theo các mương này ra Long Xuyên, xuôi Xuân Khê, ra sông Châu, xuống
Trang 14Tuần Vường ra biển Hoặc từ đây ra sông Hồng chỉ gần 2km rồi qua Phố Hiến(Hưng Yên), hay về Thăng Long Chính vì thế đất quý nên Trần Hưng Đạo chọnlàm kho lương và đặt tên là Trần Thương (kho lương nhà Trần) ông còn đặt têncác địa danh khác: Đội Xuyên (quân canh giữ thương xuyên); Khu Mật (khu tốimật); Khu Hoàng (khu của các vị hoàng tộc, vương tộc, quan tướng) hiện nay ởđây vẫn giữ được tên cũ như Trần Thương, Khu Hoàng, Đội Xuyên Chính vìtích hội tụ đủ các yếu tố “thiên- địa- nhân” ở đây nên nhân dân đã dựng đền thờông để tưởng nhớ công lao vị tướng tài ba được tôn vinh lên bậc Thánh.
Sau khi chiến thắng trở về, người cắm sinh phần và lấy dân ở đây làm dân
“tạo lệ” và từ đó xuất hiện thôn Trần Thương và các thôn khác như Đội Xuyênsau đó là thôn Hoàng Xá đến khu Mật Như vậy rõ ràng vị trí của Trần Thươngbên sông Hồng rất quan trọng, nhất là trong lĩnh vực quân sự Chính vì thế mà vịQuốc công thiết chế mới đặt ở đây một kho lương phục vụ cho cuộc kháng chiếnchống Nguyên- Mông lần thứ 2 (1285) Truyền thuyết kể lại rằng: Lúc bấy giờthôn Trần Thương có sáu gò cao, mỗi gò được đặt một kho lương chỉ có một đềnvào kho chính còn qua lại giữ các kho thì dùng thuyền là phương tiện chủ yếu.Địa điểm đền hiện nay là kho lương chính, cây cối um tùm đã bảo vệ được khohậu cần này Từ lâu trong dân gian đã lưu truyền câu “ sinh Kiếp Bạc- thác TrầnThương- quê hương Bảo Lộc” Rõ ràng Hưng Đạo Đại Vương không mất ở đây,câu thác Trần Thương là nơi gửi gắm một phần mộ lúc còn sống tức “sinh phần”
nó giống với câu nói “sống gửi thác nhờ”
Cùng với những ý nghĩa trên, đền Trần Thương đồng thời là nơi tưởngniệm tôn vinh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn- vị anh hùng dân tộc, nhàquân sự, chính trị văn hóa lỗi lạc tiêu biểu của thế kỷ XIII
Trang 15Đền Trần Thương được xây dựng vào năm 1783, ngôi đền không chỉ mangtrong mình những giá trị lịch sử lớn lao mà còn mang kiến trúc vô cùng độc đáođậm nét cổ truyền dân tộc mà ít ngôi đền ở Hà Nam có được Đền Trần Thươngnhư tên đã ghi rõ (“Trần Thương”- kho lương của nhà Trần) được xây dựng trênmột khu đất rộng nằm biệt lập ở phía đầu làng, trên nền cũ kho luong thực nhàTrần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm luocj Nguyên Mông lần 2 Hẳn dukhách sẽ thật ngạc nhiên và thú vị vì sự khác biệt của ngôi đền này so với nhữngngôi đền trong cả nước Đó là đền Trần Thương có rất nhiều giếng và ao (nămcái giếng)- một ngôi đền gắn liền với sông nước chính sự khác biệt ấy là nhân tốthu hút chí tò mò sự quan tâm của du khách thập phương về dự lễ hội.
Chính diện ngôi đền quay hướng Nam, trước mặt là dòng sông cổ ngườixưa vẫn gọi là sông Trần Thương Sau lưng đền là một gò đất cao Theo phongthủy đó là nơi hội tụ âm dương có tiền án, hậu chuẩn “tả Thanh Long, hữu BạchHổ” Ngôi đền thâm nghiêm cổ kính tọa lạc trên đất thiêng “hình nhân báttướng” tức là hình người lạy, bái Đền được thiết kế với lối kiến trúc bố cục chặtchẽ theo kiểu chữ Tam, gồm ba cung : đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam
Qua tam quan là con đường chính lát gạch đỏ rộng rãi đi vào đền Hai bênđường trồng rất nhiều cây cổ thụ ngoài cùng là hai con kênh chạy dài theo đền.trước cột đồng trụ là hai cây giếng hai bên được kè đã xanh, qua hàng cột trụ bềthế là bức bình phong chính giữa là chữ Thọ, xung quanh là cảnh rồng chầuphượng múa
Công trình chính của đền là tòa tiền đường 5 gian, tiếp đến là hai dãy nhàkhách chạy dọc, giữa là cái giếng mà nhân dân gọi là hố khẩu, sau đó là tòa đệnhị 5 gian và sau cùng là hậu cung 3 gian Tòa tiền đường: phía trước gian giữacủa tòa tiền đường có dựng một tòa cổ lâu 2 tầng giữa mái trên và mái dưới là
Trang 16bức đại tự “ phong vân trường hộ”, ở giữa đặt một đỉnh hương bằng đá có đôinghê chầu phía trên gian giữa có treo bức đại tự “văn đức võ công” Nối với haigian đầu hồi của tòa tiền đường lả hai dãy nhà khách chạy dọc nhìn ra giếng rùa,mỗi dãy 3 gian tạo thành hành lang nội từ tòa tiền đường vào tòa đệ nhị.
Tòa đệ nhị 5 gian xây bằng gạch cao hơn tòa tiền đường và nhà khách, lợpngói ống cung đình đời Nguyễn, bờ nóc hai đầu hồi đắp hai con rồng lớn, phầngiữa mái trên và mái dưới là các ô có đắp chữ Hán
Tiếp theo là giếng nước ở giữa đền trước gian đệ nhị, đến gian đệ tam làhậu cung- nơi thờ tượng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Hai bên có
tả vũ và hữu vũ nối đệ Tam và đệ Nhị trong tổng thể kiểu kiến trúc nội côngngoại quốc, đậm nét kiến trúc thời Lý- Trần, như chùa Thầy (Hà Tây) được xâydựng thời Lý Còn kết tụ văn hóa Lê- Nguyễn trước cung đệ Tam có một cáigiếng nuôi rùa
Cuối cùng là phủ thờ Mẫu gồm 3 gian được nối từ đường của tòa đệ nhịxuôi về sau, lợp ngói ống bộ cửa bức bàn gồm 3 cửa được sơn son thiếp vànglộng lẫy trên sàn thờ đặt ba cỗ long ngai, cỗ ngai giữa thờ Thánh Mẫu LiễuHạnh, hai cỗ ngai giữa hai bên thờ hai vị thị nữ là Quỳnh Anh và Quế Anh phunhân
Đền Trần Thương bề tế gồm ba cung với những hàng cột gỗ lim to, khoer,vững chắc, những bức chạm dầu xà, đầu bẩy thể hiện “cúc hoa long” tuyệt đẹp,biểu lộ tài hoa chạm khắc gỗ tuyệt vời của nghệ nhân xưa Đồ thờ ở đây cũngthật phong phú, có nhiều hoành phi, câu đối, đại tự được treo bầy trang nghiêm.Trong cung đệ Tam có cỗ khảm lớn chạm khắc công phu nghệ nhân xưa đã dùnghết tài năng để thể hiện tượng chân dung Trần Hưng Đại Pho tượng khá đẹp có
Trang 17tỷ lệ cân đối với vẻ mặt uy nghiêm của một đấng thần nhân “Đức Thánh Đức Thánh Cha” trầm tư vạch kế sách giữ nước.
TRần-Đó là toàn bộ không gian tổng quát của đền Trần Thương có sự kết hợp hàihòa giữa phong thủy hữu tình, trời mây sông nước
1.2.2 Nhân vật được thờ.
Đền Trần Thương là một trong ba ngôi đền lớn của nước ta thờ vị anh hùngdân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Ông là người có công lớn nhấttrong cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông của nhà Trần ông mất năm 1300,
là một vị tướng tài, một nhà quân sự, chính trị lỗi lạc Là người có nhân cách vĩđại nhất của thời đại “ Sát Thát Bình Nguyên”
Trần Quốc Tuấn sinh ra trong một gia đình đại quý tộc triều Trần, nguyênquán ở thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định Ông là con của AnSinh Vương Trần Liễu, cháu gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột, thuở nhỏ cóngười khen Trần Quốc Tuấn là bậc Khi lớn lên ông càng tỏ ra là người thôngminh xuất chúng, văn võ song toàn Cuộc đời của ông trải qua mấy lần gia biến,quốc nạn nhưng ông vẫn tỏ ra là bậc hiền lương anh hùng Được vua giao quyềnTiết chế, ông biết dùng người tài như các vị Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão,Yết Kiêu, Giã Tượng…Ông là vị tướng “cột đá chống trời”, viết Hịch tướng sĩ,soạn hai bộ “binh thư yếu lược” và “Vạn kiếp tông bí truyền thư” để dạy bảo cáctướng lĩnh của mình Trần Quốc Tuấn là vị tướng có đủ đức đủ tài, là vị tướngnhân ông thương dân, thương quân chỉ cho quân dân con đường sáng Là tướngnghĩa ông coi việc phải hơn điều lợi, là tướng trí ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu,
là tướng dũng ông sẵn sàng xông pha nơi nguy hiểm để đánh giặc cứu nước Chonên trận Bạch Đằng oanh liệt hàng đầu là do công của ông Là tướng tín ông biết
Trang 18bày tỏ cho quân lính nghe ông, theo ông, tin ông Hai tháng trước khi mất vuaAnh Tông đến thăm ông lúc đang ốm có hỏi : “Nếu có điều chẳng may mà giặcphương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách thế nào?” ông nắm tay nhà vua trăntrối: “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, giặc tự bị bắt, phải khoan thư sức dân
để làm kế sâu rễ bền gốc đó là thượng sách giữu nước”
Ngày 20/8 năm Canh Tý “Bắc Bình Đại Vương nguyên soái” Hưng ĐạoĐại Vương Trần Quốc Tuấn qua đời tại Vạn Kiếp Theo lời di chúc “ta chết phảihỏa táng, cho xương vào những ống tròn chôn ở vườn An Lạc rồi trồng cây như
cũ để người đời sau không biết đâu mà tìm”, thi hài ông được hỏa táng cho vàobình đồng chôn ở vườn An Lạc giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc khi ôngmất nhà vua phong tặng Thái Sư, Thượng phụ Thượng quốc công Nhân VũHưng Đạo Đại Vương
Trong hội thảo khoa học thời Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần QuốcTuấn trên quê hương Nam Hà(5/1995) Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Duy Quý đã viết:
“với tài năng chính trị và quân sự kiệt xuất, với tấm lòng tận trung với nướcHưng Đạo Đại Vương đã cùng với quân dân nhà Trần đưa triều đại Trần lênhàng những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử các nhà nước phong kiến ViệtNam”
Là vị tướng tài ba, đứng đầu quân đội nhà Trần, Hưng Đạo Đại VươngTrần Quốc Tuấn đã sống qua 4 triệu đại nhà Trần (từ Trần Thái Tông, TrầnThánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông) Ông đã cống hiến cả đờiminh cho sự nghiệp cứu nước Ngoài tài thao lược quân sự Trần Quốc Tuấn còn
để lại cho đời những áng văn thơ bất hủ còn nguyên giá trị tới ngày nay và mãimãi về sau Một trong những áng văn thơ nổi tiếng là “Hịch tướng sĩ” Có thể coi
Trang 19“Hịch tướng sĩ” là tác phẩm lớn biểu hiện khí phách anh hùng và tinh thần yêunước của văn học thời Trần.
Lật lại những trang sử của quân và dân đời Trần qua 14 đời vua và 175năm tồn tại, Hưng Đạo Đại Vương nổi trội lên như một ngôi sao khuê chói sánggiữa trời Nam Khi mất đi triều đình phong cho người là “Thái sư thượng phụthượng quốc công…” và lịch sử Việt Nam hơn 700 năm qua luôn tôn vinhNgười là vị “anh hùng dân tộc” Không dừng lại ở đó nhân dân còn suy tônngười là bậc Thánh nhân “sinh vi tướng, tử vi thần”, “Đức Thánh Trần, đứcThánh Cha” Trần Quốc Tuấn đã đi xa nhưng anh linh người còn sống mãi vớinon sông Việt Nam
Hiện nay Hưng Đạo Đại Vương được thờ ở rất nhiều nơi như đền thờ ởKiếp Bạc (Chí Linh-Hải Dương), đền thờ ở Bảo Lộc (Nam Định), và đền TrầnThương (Nhân Đạo- Hà Nam) Ngoài thờ Hưng Đạo Đại Vương các đền còn thờ
cả những vị tướng có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Môngnhư Yết Kiêu, Dã Tượng…
Trang 20
CHƯƠNG 2
Mô tả về lễ hội đền Trần Thương – những giá trị
văn hóa của đền.
2.1 Di tích đền Trần Thương
2.1.1 Sự kiện và truyền thuyết kho lương nhà Trần
Như đã nói ở trên, đền Trần Thương xã Nhân Đạo- Lý Nhân- Hà Namđược Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chọn làm nơi để đặt kho lươngphục vụ cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, không phải ngẫunhiên mà ông chọn nơi đây làm kho lương bởi Trần Hưng Đạo là nhà quân sự lỗilạc, song ông có nhãn quan quân sự lại có kiến thức địa lý phong thủy tiếp nhận
từ văn hóa nho học và văn hóa Khổng học, vì vậy ông chọn thế chiến lược để cấtgiữ luong thảo khí giới chi viện từ tổng kho Thăng Long do bà Nguyễn ThịDuyên ở làng Giảng Võ coi giữ (tổng kho này sau bị thất thủ ở cuộc chiến chốngquân Nguyên lần thứ nhất vào năm 1258) Trần Thương là mảnh đất địa linh, trùphú như câu ca truyền đời “Cá Nhân Đạo, gạo Trần Thương” và câu thơ khắcghi trên bức châm tại đền: “Trần Thương dư phúc địa, trà thảo tứ thời” Tức là:đất Trần Thương lắm phúc- hoa quả bốn mùa xuân Trước đây Trần Thương làtrung tâm “lục khê đầu” (6 khe nước) Từ đây có thể ngược sông Hồng đi ThăngLong hoặc xuôi dòng về Hành cung Thiên đường rồi ra biển qua sông Hồng vềphía đông khoảng 3km là khu Tam đường (Hưng Hà- Thái Bình) nơi đặt lăng
mộ của nhà Trần về phía Nam khoảng 20km là đền Trần- chùa Tháp (NamĐịnh)
Trang 21Nói tóm lại địa điểm Trần Thương là nơi rất hợp lý để đặt kho lương nhàTrần, đây là lựa chọn đúng đắn, sáng suốt của Hưng Đạo Đại Vương từ đó gópphần lớn vào chiến thắng quân Nguyên- Mông
2.1.2 Đền Trần Thương qua các thời kỳ lịch sử
Dựa vào các tài liệu thành văn của di tích cũng như truyền thuyết địaphương thờ đền Trần Thương được khởi công xây dựng vào năm 1783, vào thờiTrịnh Tông (Trịnh Khải-1782-1786), ngôi thứ 10/11 đời Chúa Trịnh (1545-1786)
Trải qua các triều đại phong kiến công trình đã được tu sửa nhiều lần căn
cứ vào những chữ Hán khắc trên cây nóc của tòa tiền đường thì đền TrầnThương được trùng tu lại lần cuối vào thời vua Thành Thái thứ năm (1893)
Do điều kiện thiên nhiên đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp, đền Trần Thương có thời kỳ đã bị hỏng, xuống cấp
Nối tiếp truyền thống hào hùng của ông cha đánh giặc, người dân TrầnThương đã sớm giác ngộ cách mạng đi theo tiếng gọi của Đảng từ những năm
1930 trong cao trào cách mạng tháng Tám huyện Lý Nhân đã lấy Trần Thươngtrở thành điểm đầu tiên tổ chức mít tinh bắt các hương hào trong xã, tống ra nộpđồng triện thành lập chính quyền mới Từ đây phong trào được phát động ra cácđịa phương trong huyện
Năm 1947-1949 thực dân Pháp thiết lập thêm nhiều đồn bốt ở khu vực VũĐiện, Cầu Không và một số nơi khác Trần Thương trở thành điểm bao vây củađồn bốt Mặc dù vậy sân đền vẫn đều đặn diễn ra các buổi tập luyện của du kích
và là nơi huấn luyện của bộ đội huyện và bộ đội tỉnh Gi
Trang 22Năm 1950 giặc Pháp càn vào làng hòng xóa sổ địa điểm tập kết của quândân, du kích, bộ đội địa phương, chúng đã gặp phải sự chống trả quyết liệt củaquân dân địa phương buộc chúng phải rút quân Từ đây Trần Thương trở thànhkhu an toàn, trung tâm giao liên quan trọng phục vụ cho kháng chiến
Năm 1952 là điểm tập kết lương thực từ Thái Bình chuyển sang để phục vụcho bộ đội đồng thời là trạm tiếp nhận thương binh về điều dưỡng Trong suốtthời gian kháng chiến chống Pháp, mảnh đất và con người Trần Thương đã gópnhiều công lao vào thắng lợi chung của dân tộc
Năm 1989 đền được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa loại hìnhkiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đèn Trần Thương là địa điểm tập kết đưatiễn con em quê hương lên đường vào Nam chiến đấu, là địa điểm hội họp củadân thôn Trong suốt chiều dài lịch sử chống quân xâm lược Trần Thương luônphát huy theo hào khí ấy, người dân Trần Thương đang ra sức lao động sản xuất,xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
2.1.3 Giá trị lịch sử văn hóa và du lịch đền Trần Thương
Trong số những di tích thờ Hưng Đạo Đại Vương trên đất Hà Nam và cảnước thì đền Trần Thương là di tích tiêu biểu nhất, có quy moo kiến trúc lớn,ngôi đền thâm nghiêm, cổ kính được tọa lạc trên thế đất thiêng hình “Nhân báttướng”, “Ngũ mã thất tinh”, được xây kiểu “tứ thủy quy đường tổng thể kiếntrúc cảnh quan ngôi đền gồm nghi môn ngoại, nghi môn nội, năm tòa, 15 gianchia thành 3 cung: Đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và hai giải vũ, năm giếng vòng haibên sau đền là hồ nước kiến trúc độc đáo và không tự nhiên của đền Trần
Trang 23Thương như nhập đời vào đạo, nhập con người vào vũ trụ trong một không gianvăn hóa thiêng
Giá trị đền Trần Thương còn thể hiện ở phần trang trí kiến trúc với các đềtài, họa tiết được trạm khắc công phu như: lưỡng long trần nguyệt, rồng bay,phượng múa, mây trời… tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa sống động, vừa
cổ kính trang nghiêm hàm chứa triết lý dân gian Đồ thờ cổ thư của ngôi đềncũng rất phong phú, quý hiếm đặc biệt là pho tượng Đức Thánh Trần trong banthờ hậu cungvowis vẻ mặt uy nghiêm của 1 vị thánh nhân nhưng vẫn nở nụ cườibao dung đôn hậu, tổng thể kiến trúc của đền Trần Thương đã gợi lên bóng dángphủ đệ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
Từ những giá trị về lịch sử văn hóa đặc sắc, năm 1989 đền Trần Thương đãđược Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vàtrở thành ddiemr nhấn trong các tour du lịch của huyện Lý Nhân và tỉnh HàNam, gắn kết loại hình du lịch nghiên cứu lịch sử văn hóa với Du lịch sinh thái,
du lịch tâm linh Trên lộ trình du khách sẽ được thăm đền Vĩnh Trụ (thị trấnVĩnh Trụ), đình Văn Xá (xã BẮc Lý), đền Bà Vũ (xã Chân Lý), thăm quê hươngnhà văn liệt sĩ Nam Cao, thăm đình Trác Nội, đền Trần Thương giống như mộtđiểm quy tụ, khơi dậy tiềm năng du lịch của quê nhà
2.2 Lễ hội đền Trần Thương
2.2.1 Giới thiệu chung về lễ hôi đền Trần Thương.
Lễ hội (hay hội lễ) là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mangtính cộng đồng cao của cư dân hay thị dân, diễn ra trong những chu kì khônggian- thời gian nhất định để thực hiện những nghi thức về nhân vật được thờ